Nghệ thuật sân khấu Cải lương Nam Bộ qua tác động của các phương thức quản lý - Pdf 13

- 1 -
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án này do tôi viết. Đề tài và hướng nghiên cứu
không trùng lặp với đề tài nào trước đây. Nếu có gì sai phạm tôi xin chịu
hoàn toàn trách nhiệm.
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Tác giả luận án
Võ Thị Yến
- 2 -
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
MỤC LỤC 2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN 3
MỞ ĐẦU 4
1. Tính cấp thiết của đề tài 4
3. Mục đích nghiên cứu 10
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
5. Phương pháp nghiên cứu 10
6. Những đóng góp của luận án 11
7. Cấu trúc của luận án 11
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ VỀ NGHỆ THUẬT
SÂN KHẤU CẢI LƯƠNG NAM BỘ 13
1.1. Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan 13
1.2. Nghệ thuật sân khấu Cải lương trong môi trường tự nhiên và môi trường xã
hội Nam Bộ 24
1.3. Diễn trình nghệ thuật sân khấu Cải lương Nam Bộ 30
Tiểu kết 47
Chương 2
TÁC ĐỘNG CỦA NHỮNG PHƯƠNG THỨC QUẢN LÝ
TRONG DIỄN TRÌNH NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU CẢI LƯƠNG NAM BỘ 50

TDTT : Thể dục thể thao
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
Tp. : Thành phố
- 4 -
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Được sinh ra từ cái gốc âm nhạc dân gian truyền thống Việt Nam, trong quá
trình hình thành và phát triển, nghệ thuật sân khấu Cải lương đã tiếp thu nhiều yếu
tố nghệ thuật từ sân khấu truyền thống dân tộc. Chịu sự chi phối của điều kiện lịch
sử, nghệ thuật sân khấu Cải lương còn tiếp thu nhiều yếu tố sân khấu của hý khúc
(Trung Quốc) và sân khấu phương Tây (kịch nghệ Pháp); trở thành một hình thức
sân khấu kịch hát Việt Nam thể hiện rõ tính năng động, sáng tạo, dễ thích ứng với
biến đổi của xã hội và thị hiếu của khán giả. Điều này lý giải vì sao ngay từ khi mới
ra đời nghệ thuật sân khấu Cải lương không những trở thành món ăn “đặc sản” của
người dân Nam Bộ mà còn nhanh chóng chiếm lĩnh sự ái mộ của các nghệ sĩ cũng
như khán giả miền Bắc và miền Trung, dẫn đến sự ra đời của nhiều gánh hát Cải
lương trong cả nước nhằm đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật sân khấu Cải
lương của đông đảo khán giả.
Đã có một thời, nghệ thuật sân khấu Cải lương bước lên đỉnh cao, được mọi
người, mọi giới quan tâm, yêu chuộng với những gánh hát mà tên tuổi của các bầu
gánh - những nhà quản lý giỏi được người trong và ngoài giới công nhận.
Tuy nhiên, trong giai đoạn đất nước ta bước vào thời kỳ Đổi mới, các hình
thức nghệ thuật sân khấu truyền thống nói chung, nghệ thuật sân khấu Cải lương nói
riêng buộc phải đối mặt với nhiều thách thức do cơ chế kinh tế thị trường và sự hội
- 5 -
nhập quốc tế ồ ạt mang đến. Thực tiễn đặt ra nhiều vấn đề quan thiết như: Làm thế
nào để thu hút khán giả, nhất là khán giả trẻ, đến với sân khấu Tuồng, Chèo, Cải
lương, trong khi có biết bao hình thức nghệ thuật - giải trí mới mẻ, hiện đại của
nước ngoài đã và đang được du nhập vào Việt Nam một cách nhanh chóng nhờ vào

bước thăng trầm cùng với lịch sử dân tộc. Về phương thức hoạt động, quản lý, bắt
đầu từ bầu gánh, nghệ thuật sân khấu Cải lương đã trải qua các phương thức quản
lý: phương thức quản lý tư nhân, phương thức quản lý nhà nước, phương thức quản
lý linh hoạt về chủ thể quản lý của thời kỳ xã hội hóa hoạt động văn hóa nghệ thuật,
v.v Qua việc khảo sát, đánh giá các phương thức quản lý của từng giai đoạn,
chúng tôi muốn tìm hiểu sự tác động của các phương thức quản lý và những ảnh
hưởng sâu sắc của chúng đến quá trình hình thành và phát triển nghệ thuật sân khấu
Cải lương Nam Bộ. Từ kết quả khảo sát, chúng tôi đúc kết kinh nghiệm, xác định
những thành tựu và những tồn tại của các phương thức quản lý đối với hoạt động
sân khấu Cải lương Nam Bộ trong từng giai đoạn phát triển. Từ đó, luận án đề xuất
một số giải pháp về mô hình quản lý, nhằm góp phần vào việc củng cố và phát triển
nghệ thuật sân khấu Cải lương Nam Bộ ngày hôm nay và trong tương lai.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cải lương là một hình thức nghệ thuật sân khấu được rất nhiều nhà nghiên
cứu, văn nghệ sĩ quan tâm. Đã có nhiều công trình nghiên cứu viết về nghệ thuật
sân khấu Cải lương. Một số tác giả đã đề cập đến vấn đề quản lý, phương thức quản
lý của nghệ thuật sân khấu Cải lương.
Năm 1968, cuốn Hồi ký năm mươi năm mê hát, tác giả Vương Hồng Sển
được xuất bản gồm hai chương. Chương thứ nhất đề cập đến năm ra đời và nguồn
gốc của nghệ thuật sân khấu Cải lương [96, tr.31-32]. Trong chương này, cũng ghi
lại rất chi tiết những nghệ sĩ, những nhà chí sĩ, những bầu gánh có công đầu trong
việc hình thành nên hình thức nghệ thuật sân khấu Cải lương. Ở chương thứ hai, tác
giả đề cập đến tình hình hoạt động của các gánh hát, những câu chuyện về cuộc đời
và sự nghiệp sân khấu của các nghệ sĩ tài danh mà ông đã từng xem, từng gặp gỡ.
Theo chúng tôi, cuốn sách chứa đựng nhiều tư liệu có giá trị cao về bối cảnh xã hội,
- 7 -
người nghệ sĩ và các hoạt động nghệ thuật sân khấu ở Nam Bộ vào nửa đầu thế kỷ
XX. Vai trò các bầu chủ, những người có công trong việc hình thành nghệ thuật sân
khấu Cải lương cũng được tác giả đề cập tới [96, tr.107-117]. Được kể lại với hình
thức hồi ký, cuốn sách là một tư liệu đầy đủ và chi tiết nhất về lịch sử hình thành và

khác nhau từ những nhà xuất bản đến những nhà nghiên cứu đã được công bố làm
cho tác phẩm thêm phong phú. Một điểm rất quan trọng là ngoài việc đề cập đến
nguồn gốc, lịch sử phát triển của nghệ thuật sân khấu Cải lương, công trình còn đề
cập đến tính định hình, đặc trưng và phong cách thể loại của nghệ thuật sân khấu
Cải lương, nhấn mạnh vai trò của bầu gánh từ trước năm 1975 [90, tr.188-195] và
những thành tựu của nghệ thuật sân khấu Cải lương Nam Bộ dưới sự lãnh đạo của
Đảng và Nhà nước sau ngày đất nước thống nhất.
Công trình Vang bóng một thời của Huỳnh Công Minh xuất bản năm 2007,
ghi lại những khoảnh khắc thành công của các nghệ sĩ, các soạn giả, các nhà quản lý
gánh hát qua ống kính của một nhà báo chuyên viết về nghệ thuật sân khấu Cải
lương Nam Bộ từ năm 1955 đến đầu những năm 2000. Chúng tôi rất tâm đắc với
đánh giá của GS.TS Trần Văn Khê về bộ sưu tập này: “một tài sản văn hóa nghệ
thuật độc nhất vô nhị, rất quý giá, phải được bảo tồn và lưu truyền cho các thế hệ
mai hậu hiểu biết về thời hoàng kim của một bộ môn nghệ thuật đặc thù của miền
Nam” [44, tr.5].
Cũng vào năm 2007, cuốn sách Sân khấu Cải lương ở thành phố Hồ Chí
Minh của Nguyễn Thị Minh Ngọc - Đỗ Hương đặt ra một trăm câu hỏi nghệ thuật
sân khấu Cải lương Sài Gòn - Tp. Hồ Chí Minh, giới thiệu cho người đọc những
vấn đề, sự kiện, nhân vật, v.v… nổi bật trong lịch sử phát triển của nghệ thuật sân
khấu Cải lương Sài Gòn - Tp. Hồ Chí Minh từ đầu thế kỷ XX. Đồng thời cũng kết
hợp giới thiệu tổng quan về Hát bội ở Tp. Hồ Chí Minh, một bộ môn nghệ thuật đã
thẩm thấu và tích hợp góp phần hình thành nên nghệ thuật sân khấu Cải lương. Đặc
biệt, cuốn sách còn hướng người đọc tới chỗ cùng suy nghĩ về xu thế thoái trào của
nghệ thuật sân khấu Cải lương trong thời điểm hiện nay [55, tr.191-193].
- 9 -
Công trình Ca nhạc và sân khấu Cải lương của nhạc sĩ Tuấn Giang được
xuất bản năm 1997 đã đi sâu cắt nghĩa về sự hình thành của nghệ thuật sân khấu Cải
lương và sự hình thành ca nhạc Tài tử Cải lương gắn với những giai đoạn lịch sử
[24, tr.16-31]. Tác giả cũng đồng thời phân tích, đánh giá về các mặt phát triển của
hình thức nghệ thuật sân khấu này [24, tr.92-94].

động này, đề xuất một số giải pháp đổi mới phương thức quản lý đơn vị nghệ thuật
sân khấu Cải lương Nam Bộ phù hợp với điều kiện thực tiễn hôm nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài hướng tới đối tượng nghiên cứu là nghệ thuật sân khấu Cải lương
Nam Bộ qua sự tác động của các phương thức quản lý; tầm ảnh hưởng sâu rộng
của các phương thức quản lý khác nhau đối với chủ thể nghệ thuật từ góc độ lý
luận và thực tiễn.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian
Nghiên cứu các phương thức quản lý, vai trò của nhà quản lý nghệ thuật sân
khấu Cải lương ở miền Tây Nam Bộ như: Vĩnh Long, Tiền Giang, Bạc Liêu, v.v…
và Sài Gòn, nay là Tp. Hồ Chí Minh.
Về thời gian
Nghiên cứu phương thức quản lý, vai trò của nhà quản lý nghệ thuật sân
khấu Cải lương ở Sài Gòn (Tp. Hồ Chí Minh) và miền Tây Nam Bộ từ lúc hình
thành, phát triển cho đến hiện nay (năm 2013).
Về lĩnh vực khảo sát
Nghiên cứu hai lĩnh vực gồm: nội dung, hình thức nghệ thuật của sân khấu
Cải lương Nam Bộ và công tác quản lý (lực lượng sáng tạo, vốn và cơ sở vật chất,
kinh doanh biểu diễn).
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tiếp cận liên ngành: nghệ thuật học, văn hóa học, sử học, v.v
- 11 -
Phương pháp điền dã: phỏng vấn, trao đổi ý kiến, thu thập thông tin về đối
tượng nghiên cứu. Chúng tôi đã phỏng vấn một số nhà quản lý các ban ngành chức
năng thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, một số nhà quản lý các đơn vị nghệ
thuật sân khấu Cải lương Nam Bộ, các đạo diễn, diễn viên; tiếp cận khán giả của
sân khấu Cải lương ở Tp. Hồ Chí Minh và một số tỉnh miền Tây Nam Bộ để tham
khảo những ý kiến của họ về lĩnh vực nghệ thuật này.

1.1.1. Nghệ thuật sân khấu Cải lương Nam Bộ
1.1.1.1. Nghệ thuật sân khấu Cải lương
Theo ngữ nghĩa Hán - Việt: cải là cải cách, cách tân, cải tiến, v.v…, lương là
đẹp: Ý nghĩa chung là làm đẹp, cải tiến mới và làm đẹp hơn. Theo Đại từ điển tiếng
Việt: Cải lương là loại hình ca kịch Nam Bộ, bắt nguồn từ nhạc Tài tử dân ca Nam
Bộ. “Cải lương” cũng là từ nói gọn và gọi chung [108, tr.240].
Trước những năm 1920, người ta gọi là nghệ thuật Tân thời - Kim thời. Bảng
hiệu Cải lương mới xuất hiện khoảng năm 1920, từ bảng hiệu Gánh Cải lương Tân
Thinh của bầu Trương Văn Thông, với hai câu liễn:
Cải cách hát ca theo tiến bộ
Lương truyền tuồng tích sánh văn minh.
nên được gọi là Cải lương. Còn có cách giải thích khác, đó là:
Cải tục duy tân
Lương tri tâm điền.
nghĩa là những điều tốt đẹp ghi vào trong tâm.
Nghệ thuật sân khấu Cải lương là một hình thức sân khấu kịch hát dân tộc.
Hình thức này, tích hợp nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau cấu thành, như: Văn
thơ, nghệ thuật sân khấu (gồm đạo diễn, diễn viên), âm nhạc, mỹ thuật, múa, và
những yếu tố khác: âm thanh, tiếng động, ánh sáng, v.v…
1.1.1.2. Nghệ thuật sân khấu Cải lương Nam Bộ
Nghệ thuật sân khấu Cải lương Nam Bộ (bao gồm các tỉnh miền Đông và
miền Tây Nam Bộ) là một bộ phận của nghệ thuật sân khấu Cải lương Việt Nam. Ở
luận án này, trong khi nghiên cứu quá trình phát triển nghệ thuật sân khấu Cải
lương Nam Bộ qua sự tác động của các phương thức quản lý, chúng tôi đặc biệt chú
- 14 -
trọng đến hoạt động sân khấu Cải lương ở Sài Gòn trước đây - Tp. Hồ Chí Minh
ngày nay và các tỉnh miền Tây Nam Bộ như: Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bạc Liêu, v.v…
1.1.2. Khái niệm phương thức quản lý
1.1.2.1. Phương thức quản lý
Từ điển Tiếng Việt đã ghi: Phương thức là cách thức và phương pháp [60,

* Quản lý văn hóa
Nhà nước quản lý văn hóa thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm
tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn
hóa. Theo UNESCO, chính sách văn hóa là một tổng thể các nguyên tắc hoạt động,
các cách thức thực hành, các phương pháp quản lý hành chính và giải pháp về ngân
sách của nhà nước dùng làm cơ sở cho các hoạt động văn hóa.
TS. Nguyễn Văn Tình trong cuốn Chính sách văn hóa trên thế giới và việc
hoàn thiện chính sách văn hóa ở Việt Nam cho rằng: “Trong lĩnh vực hoạch định
chính sách quốc gia, người ta đều coi chính sách nghệ thuật cũng là chính sách văn
hóa và khái niệm “chính sách văn hóa” được thế giới sử dụng thông dụng và chính
thức hơn” [88, tr.30].
Theo Từ điển bách khoa văn hóa học:
Tác động chỉ huy và quản lý đối với hoạt động kinh tế trong văn hóa,
trong điều kiện nhà nước là chủ thể. Lịch sử nhân loại chứng minh rằng
việc tham gia này (nghĩa là về mặt kinh tế) là cần thiết, nhưng vấn đề là
ở chỗ mức độ và hình thức tham gia như thế nào để đảm bảo mối cân
bằng giữa việc lãnh đạo của nhà nước với việc tự quản của đơn vị văn
hóa. Hình thức và mức độ tùy thuộc vào điều kiện thực tế của nền văn
hóa trong một xã hội và một hoàn cảnh lịch sử cụ thể [01, tr.374].
Trong điều kiện thực tế của nền văn hóa Việt Nam, từ những năm cuối thế
kỷ XIX đến nay, có rất nhiều biến động. Với những tác động to lớn của văn hóa đối
với kinh tế, theo chúng tôi, vai trò tác động chỉ huy và quản lý đối với hoạt động
kinh tế trong văn hóa là rất quan trọng.
- 16 -
1.1.2.2. Phương thức quản lý nhà nước
Phương thức quản lý nhà nước dựa trên quan hệ sở hữu tập thể về tư liệu sản
xuất và người lao động. Điều hành trực tiếp các hoạt động sản xuất - kinh doanh ở
đơn vị kinh tế dưới sự quản lý chung của nhà nước và trong khuôn khổ pháp luật.
Mục đích là làm cho sản xuất - kinh doanh phát triển, bảo toàn và phát triển vốn,
làm ăn có lãi và ngày càng tái sản xuất mở rộng, tăng thu nhập của người lao động.

Nhưng trong tình hình ngân sách nhà nước có nhiều khó khăn, cùng
với việc chuyển cơ chế bao cấp sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ
nghĩa, chính sách tài trợ của ngân sách nhà nước cho các đơn vị nghệ
thuật chưa được hướng dẫn thống nhất, mỗi nơi tiến hành một cách;
đồng thời nhiều đơn vị nghệ thuật chưa quan tâm đúng mức tới chất
lượng nghệ thuật, chạy theo thị hiếu tầm thường để doanh thu cao, các
loại hình nghệ thuật truyền thống bị sa sút nghiêm trọng, chức năng
xây dựng con người mới bị xem nhẹ [101, tr.55].
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 của Ban chấp hành Trung ương
Đảng (khoá VI) chuyển các cơ sở văn hóa nghệ thuật sang cơ chế tự trang trải từng
bước và từng phần, thực hiện Nghị quyết Quốc hội kỳ họp thứ 5 (khoá VIII) và Chỉ
thị số 1135-KG ngày 28 - 06 - 1989 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về một số vấn
đề cấp bách của ngành văn hóa, để bảo đảm hoạt động nghệ thuật biểu diễn phát triển
đúng hướng; liên Bộ Văn hóa - Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý tài chính và
chính sách tài trợ của nhà nước cho hoạt động nghệ thuật biểu diễn, thực hiện thống
nhất trong cả nước đối với các đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp quốc doanh.
Ở mô hình xã hội nào, nhà nước cũng luôn đồng thời giữ hai vai trò quan
trọng: quản lý và bảo trợ. Đất nước ta đang trong quá trình đổi mới, với xu thế vận
động tất yếu là xã hội hóa các hoạt động văn hóa nghệ thuật. Tuy nhiên, để phát triển
văn hóa nghệ thuật trong bối cảnh xã hội hiện tại thì rất cần thiết sự tăng cường công
tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này, vì trên thực tế, nhà nước vẫn giữ vai trò là
người bảo trợ cho các hoạt động văn hóa nghệ thuật.
- 18 -
1.1.2.3. Phương thức quản lý tư nhân
* Phường gánh
Phường (sân khấu) là một tổ chức xã hội của nghệ nhân rối cạn, rối nước,
Chèo do các thành viên tự đóng góp hoặc do một người có của, có thế lực trong
làng lập ra. Mỗi phường gánh thường có quy ước chung ghi thành văn bản làm luật
lệ. Phạm vi hoạt động của phường gánh hạn chế trong từng xã, thôn xóm, gia đình;
tồn tại độc lập, hoạt động tự do, tự cấp tự túc, vào ra tùy ý, đậm đà tính chất “chơi”,

Phước Cương bày ra xổ đề (12 con) tại ghe hát. Bên kia là một sòng bài tứ
sắc, bên nọ là một sòng bài cào - phé sát phạt nhau bất kế thân thế gì cả.
Thình lình, ông chủ Bòn, chủ gánh Hát bộ Thạnh Hưng Ban (Hát bội pha
Cải lương) mang thùng nước lèo chui vào ghe, thấy các sòng bài đang sát
phạt, bèn hô to lên: Ô! Ông Bầu! (gọi ông Nguyễn Ngọc Cương) thay vì
hàng ngày ông gọi cậu Tư hay cậu Tư Cương. Vậy là từ đó, tất cả các đào,
kép đều gọi ông Nguyễn Ngọc Cương là ông Bầu. Cái tên ông Bầu, lan ra
rất nhanh trong các gánh Cải lương và từ đó, các chủ gánh hát đều được
gọi là ông Bầu, bà Bầu cho đến ngày nay [55, tr.119-120].
Từ điển Việt Nam tín ngưỡng phong tục đã ghi: “Ông bầu là người đứng đầu
một tổ chức nghệ thuật của nghệ thuật Tuồng truyền thống trước 1975, cai quản mọi
mặt (cả kinh tế lẫn nghệ thuật) của gánh Tuồng” [37, tr.754].
Như vậy, bầu gánh là chủ gánh hát, là người bỏ vốn ra lập gánh hát, họ
thường là những người giàu có, yêu thích nghệ thuật, không trực tiếp quản lý gánh
hát. Sau này, khi hoạt động sân khấu mang tính chất thương mại, bầu gánh trở thành
chủ gánh hát, còn diễn viên trở thành người làm thuê.
* Phương thức quản lý tư nhân
Thuật ngữ tư nhân, Từ điển tiếng Việt đã ghi: “Tư nhân là một cá nhân nào
đó chứ không phải nhà nước hay hợp tác xã [60, tr.1106].
Trước năm 1975, nhà nước của chế độ cũ quản lý nghệ thuật sân khấu Cải lương
bằng luật pháp. Phương thức hoạt động của các đơn vị, đó là: Tư nhân tự chủ về tài
chính, đảm nhiệm việc quản lý, điều hành cũng như việc phân phối sản phẩm (vở diễn).
- 20 -
Như vậy, phương thức quản lý tư nhân là cách thức, phương pháp tổ chức và
điều khiển các hoạt động của một cá nhân theo những yêu cầu nhất định dưới sự
quản lý chung của nhà nước.
1.1.2.4. Xã hội hóa hoạt động văn hóa nghệ thuật
* Khái niệm xã hội hóa
Hiện nay, khái niệm xã hội hóa được dùng với hai nội dung:
Một là, xã hội hóa (xã hội) là sự tham gia rộng rãi của xã hội (cá nhân, nhóm,

Xã hội hóa hoạt động văn hóa nghệ thuật là mở rộng các nguồn đầu tư, khai
thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội. Phát huy và sử dụng
có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho các hoạt động văn hóa
nghệ thuật phát triển nhanh hơn, có chất lượng cao hơn là chính sách lâu dài, là
phương châm thực hiện chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước.
Như vậy, xã hội hóa hoạt động văn hóa nghệ thuật, thực chất là xã hội hóa
quyền tổ chức và điều hành các hoạt động sản xuất văn hóa nghệ thuật theo hướng
đa dạng hóa chủ thể quản lý, nhằm thu hút đông đảo lực lượng xã hội, các tập thể và
tư nhân đứng ra chăm lo các hoạt động văn hóa, tổ chức và điều hành quá trình sản
xuất theo đúng pháp luật của nhà nước.
1.1.2.5. Mô hình quản lý
Theo Từ điển tiếng Việt, mô hình có hai nghĩa:
Thứ nhất, mô hình là vật cùng hình dạng nhưng làm thu nhỏ lại nhiều hoặc
mô phỏng cấu tạo và hoạt động của một vật khác để trình bày, nghiên cứu.
Thứ hai, mô hình là hình thức diễn đạt hết sức ngắn gọn, theo một ngôn ngữ
nào đó, hoặc các đặc trưng chủ yếu của một đối tượng dùng để nghiên cứu đối
tượng ấy [60, tr.663].
Như vậy có thể cho rằng, mô hình quản lý là mô phỏng các đặc trưng chủ
yếu của phương thức quản lý để nghiên cứu đối tượng ấy.
Trước năm 1975, mô hình quản lý tư nhân đảm nhiệm việc sản xuất sản
phẩm tinh thần (vở diễn) và điều hành, phân phối (tổ chức kinh doanh) sản phẩm
- 22 -
tinh thần (vở diễn). Sau năm 1975, nhà nước ta quản lý hoạt động nghệ thuật biểu
diễn đối với nghệ thuật sân khấu Cải lương bằng hai mô hình quốc doanh (công lập)
và tập thể (ngoài công lập) hoặc thuộc đơn vị công lập nhưng do tập thể bỏ vốn
kinh doanh và đề cử Ban đại diện quản lý, điều hành hoạt động. Từ năm 1986 đến
nay, với chủ trương xã hội hóa hoạt động văn hóa nghệ thuật, bên cạnh mô hình
công lập còn có các mô hình quản lý khác cùng song song tồn tại như: mô hình tập
thể, tư nhân (công ty TNHH hoặc nhóm hoặc cá nhân, v.v…).
1.1.3. Vùng văn hóa

văn hóa, các nhà khoa học đã bắt đầu thể hiện rõ khuynh hướng nhìn nhận văn hóa
theo vùng. Từ khuynh hướng này, các nhà nghiên cứu bắt đầu phân chia các vùng văn
hóa ở Việt Nam. Tuy nhiên, việc phân chia Việt Nam thành bao nhiêu vùng văn hóa lại
chưa được thống nhất cao trong giới nghiên cứu. Mỗi cách chia đều có cơ sở khoa học
riêng và có những tác dụng nhất định trong việc tiếp cận văn hóa Việt Nam.
GS. Ngô Đức Thịnh trong cuốn Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt
Nam lại có cách chia vùng văn hóa như sau: đồng bằng Bắc Bộ, vùng văn hóa Việt
Bắc, vùng văn hóa Tây Bắc và miền núi Bắc Trung Bộ, vùng văn hóa duyên hải
Bắc Trung Bộ, vùng văn hóa duyên hải Trung và Nam Trung Bộ, vùng văn hóa
Trường Sơn - Tây Nguyên và vùng văn hóa Nam Bộ. Theo ông:
Trong nhiều thế kỷ trước kia cũng như hiện nay, Nam Bộ là nơi sinh
sống xen cài giữa các cộng đồng người Việt, Khơme, Chăm và Hoa,
nên nơi đây cũng đã và đang diễn ra quá trình giao lưu, ảnh hưởng
văn hoá khá sống động giữa các tộc nói trên, từ đó nảy nở những yếu
tố, những giá trị văn hóa chung, thể hiện trong đời sống văn hoá vật
chất và tinh thần, như nhà cửa, ăn mặc, đi lại, trong đời sống tôn giáo,
vui chơi giải trí, sinh hoạt nghệ thuật. Hoàn cảnh tự nhiên và lịch sử
khai thác vùng Nam Bộ cũng đã tôi luyện con người ở đây những tính
cách, cá tính tiêu biểu, đó là tính cách Nam Bộ: dũng cảm, hiên
ngang, hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài, phóng khoáng, mến khách, bộc
trực, nhạy cảm với cái mới, v.v [83, tr.111].
- 24 -
Tìm hiểu sự tương đồng và dị biệt về văn hóa, cũng như tìm hiểu biến thiên
của một hiện tượng văn hóa trong một không gian, trên cơ sở ấy làm rõ cái chung
và nét riêng của từng không gian văn hóa là một công việc khá phức tạp nhưng rất
cần thiết. Riêng Nam Bộ là vùng đất mới khai hoang ở cực Nam tổ quốc có đặc thù
văn hóa đáng chú ý là sự gặp nhau của các dân tộc: Việt, Hoa (Minh Hương),
Chăm, Khơme Nam Bộ, v.v… có liên quan đến sự hình thành và phát triển của hình
thức nghệ thuật sân khấu Cải lương Nam Bộ.
Luận án sẽ tìm hiểu các yếu tố văn hóa vùng thuộc vùng văn hóa Nam Bộ

ngọn núi nhỏ và thấp. Vùng cuối hạ lưu sông Cửu Long là những giồng đất cao
ráo, được bồi đắp do phù sa của sông Tiền và sông Hậu (nhánh của sông Cửu
Long), rất thuận lợi cho việc định cư và trồng trọt. Tuy nhiên, trên nhiều văn bản
hiện nay, người ta quen gọi miền Tây Nam Bộ là đồng bằng sông Cửu Long (The
Mekong Plain).
Nói tới Nam Bộ, người ta nghĩ ngay đến một khung cảnh thiên nhiên khoáng
đạt, một vùng đất với những cánh đồng rộng mênh mông, chằng chịt kênh rạch. GS.
Lê Bá Thảo đã tính Nam Bộ có tới 5.700km đường kênh rạch. Sông nước ở hạ lưu
chảy chậm, mang lượng phù sa lớn, khác với sông nước miền Trung Bộ. Đặc biệt,
miền Tây Nam Bộ là vùng đất kênh rạch chằng chịt. Sông Cửu Long có vai trò quan
trọng trong đời sống kinh tế, văn hóa của dân cư. Tính chất tự nhiên phức tạp và đa
dạng của sông Cửu Long tạo cho nó một vị trí chiến lược quan trọng trong phát
triển kinh tế nông - ngư nghiệp và giao thông vận tải của khu vực. Đặc biệt, thủy
triều ở các con sông theo chế độ bán nhật triều. Những ngày rằm và mùng một âm
lịch, con nước dâng lên cao nhất, còn gọi là nước rong (nước rong lớn hay triều
cường, thường có vào các tháng giêng, tháng hai, tháng nười và tháng chạp âm
lịch). Những ngày mùng mười và hai mươi lăm âm lịch nước rút xuống thấp gọi là
nước kém. Chỗ hai chiều nước gặp nhau, sông không chảy nữa gọi là giáp nước.
Nơi đây phù sa thường lắng đọng lại tạo nên những sóng đất. Khách thương hồ qua
lại thường neo đậu phương tiện để nghỉ ngơi, chờ con nước lên mới tiếp tục vận
chuyển. Lâu ngày, những chỗ này trở thành thị trấn, thị tứ đông đúc dân cư.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status