Luận văn tốt nghiệp Trang 1
Lời mở đầu
Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở Việt Nam bao gồm: nông dân,
doanh nghiệp, hộ gia đình, các doanh nghiệp t nhân vừa và nhỏ (SMEs -
Small and Medium sized Enterprises) và các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc
ngoài tơng đối lớn. Công cuộc đổi mới do Đảng và Nhà nớc khởi xớng và lãnh
đạo đã đợc tiến hành trong những năm cuối của thập kỷ 80 và những năm đầu
của thập kỷ 90 đã động viên mạnh mẽ tiềm lực của hàng triệu ngời dân Việt
Nam, giúp họ nhanh chóng đa dạng hoá và mở rộng sản xuất nông nghiệp,
lập dựng kinh tế hộ gia đình và các SMEs. Các Công ty nớc ngoài đã đầu t
vào các liên doanh với cổ phần chi phối và các doanh nghiệp hoàn toàn thuộc
sở hữu của nớc ngoài. Sự tăng trởng và phát triển của khu vực t nhân chính là
chìa khoá cho sự tăng trởng nhanh chóng, tạo công ăn việc làm, góp phần
thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc. Chỉ
riêng khu vực công nghiệp t nhân, cuối năm 2000 chiếm 21,6% giá trị sản
xuất toàn ngành công nghiệp, 61% lao động toàn ngành. Tuy nhiên hiện nay
khu vực này đang gặp rất nhiều khó khăn trở ngại, trong đó trở ngại lớn nhất
đó là vấn đề vốn.
Hệ thống ngân hàng thơng mại (NHTM) với công việc điều hoà vốn,
dẫn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu vốn, sẽ là giải pháp chính cho trở ngại này.
Hơn nữa các NHTM cũng nhận thức rằng tín dụng cho khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh là một hớng mở rộng thị phần, vơn lên để cạnh tranh trong điều
kiện hiện nay. Thực tế lại trái ngợc, trong mấy năm gần đây quy mô tín dụng
cho khu vực ngoài quốc doanh ngày càng thu hẹp, không đáp ứng nhu cầu vốn
của khu vực này. Bên cạnh đó, chất lợng tín dụng cho khu vực ngoài quốc
doanh còn nhiều bất cập (nợ quá hạn luôn cao hơn khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh).
Do thực tế trên, cùng với quá trình học tập, nghiên cứu tại trờng Đại
học Kinh tế Quốc dân và thời gian thực tập tại Sở Giao dịch I - Ngân hàng
Công thơng Việt Nam, em chọn đề tài:
"Giải pháp mở rộng và nâng cao chất lợng tín dụng đối với khu vực
kinh tế Ngoài quốc doanh ở Việt Nam
5
I. Sự tồn tại khách quan của khu vực kinh tế NQD 5
1. Khu vực kinh tế NQD 5
2. Vai trò của khu vực kinh tế NQD 8
3. Những trở lực trong hoạt động của khu vực NQD 10
4. Sự tồn tại khách quan của khu vực NQD 12
II. Tín dụng NH, yếu tố quan trọng trong phát triển khu vực NQD 13
1. Tín dụng 14
2. Các hình thức tín dụng 19
3. Vai trò của tín dụng trong phát triển kinh tế NQD 22
III. Qui mô và chất lợng tín dụng 24
1. Khái niệm 24
2. Những chỉ tiêu phản ánh chất lợng và qui mô tín dụng 25
3. Các nhân tố ảnh hởng đến qui mô và chất lợng tín dụng 26
IV. Sự cần thiết mở rộng và nâng cao chất lợng tín dụng đối với khu vực kinh tế NQD 29
Chơng II. Thực trạng hoạt động cho vay khu vực kinh tế NQD
tại Sở giao dịch I Ngân hàng công thơng Việt Nam
30
I. Khái quát chung 30
1. Lịch sử hình thành và phát triển 30
2. Nhiệm vụ và quyền hạn của Sở giao dịch I Ngân hàng công thơng Việt nam 31
3. Cơ cấu tổ chức và điều hành tại Sở GD I NHCT Vietnam 32
4. Tình hình hoạt động kinh doanh của Sở GD I 33
5. Kết quả kinh doanh 39
II. Hoạt động tín dụng đối với khu vực kinh tế NQD 40
1. Qui mô tín dụng 40
2. Chất lợng tín dụng đối với khu vực kinh tế ngoài Quốc doanh 47
3. Cạnh tranh trong cho vay khu vực NQD 51
III. Những kết quả đạt đợc và những hạn chế cần khắc phục 52
Kết luận
88
Chơng I
Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với
phát triển kinh tế ngoài quốc doanh ở Việt Nam
I - Sự tồn tại khách quan của lĩnh vực kinh tế ngoài
quốc doanh
1. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
Đổi mới và cải tổ là xu thế chung của hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Từ đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, với nhịp độ tăng trởng từ 2 đến 3%/năm, kinh
tế thế giới đi vào thời kỳ trì trệ. Để tìm ra lối thoát cho nền kinh tế, mỗi quốc
Bùi Thị Thanh Thuý - NH 40A
Luận văn tốt nghiệp Trang 5
gia có những chiến lợc và sách lợc riêng, nhng nhìn chung đều sử dụng 3 phơng
pháp vĩ mô chủ yếu, đó là:
1- Đổi mới cơ cấu kinh tế.
2- Vận dụng tiến bộ của khoa học công nghệ.
3- Tham gia vào phân công lao động quốc tế.
ở Việt Nam, ngay từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã
khẳng định đờng lối chính cho phát triển kinh tế - đổi mới cơ cấu kinh tế, cụ thể
là: "Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế
thị trờng có sự quản lý vĩ mô của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa".
Đờng lối này tiếp tục đợc khẳng định và làm rõ thêm ở các Đại hội Đảng lần
thứ VII, VIII và IX. Cho đến nay, có thể nói, nền kinh tế Việt Nam bao gồm các
thành phần kinh tế sau: kinh tế nhà nớc, kinh tế tập thể, kinh tế t bản t nhân,
kinh tế hộ gia đình, kinh tế hỗn hợp và kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài. Các
thành phần kinh tế này đợc chia thành 2 khu vực lớn: khu vực kinh tế nhà nớc
và khu vực kinh tế ngoài nhà nớc (ngoài quốc doanh, t nhân). Khu vực kinh tế
nhà nớc bao gồm toàn bộ các hoạt động kinh tế do nhà nớc trực tiếp quản lý từ
trung ơng tới địa phơng. Đây đợc coi là thành phần kinh tế chủ đạo trong nền
những ngành nghề có tốc độ quay vòng vốn tơng đối nhanh và để sinh lời. Qua
thực tế thống kê 33720 doanh nghiệp năm 2000, số doanh nghiệp kinh doanh
thơng mại, dịch vụ chiếm tỷ lệ lớn nhất 51,9%, doanh nghiệp sản xuất công
nghiệp chiếm 20,8%, xây dựng chiếm 8,35%,giao thông vận tải chiếm 2,5%,
các hoạt động phi nông nghiệp khác chiếm 4,1%, lâm ngh nghiệp chiếm 12,4%
trong tổng số doanh nghiệp.
Hiện nay khu vực kinh tế t nhân tạo ra gần một nửa GDP (Gross
domestic products) trong các ngành chế tạo, song tỷ trọng này đang ngày càng
gia tăng và khu vực t nhân trong nớc đang chiếm tỷ trọng chi phối. Các doanh
nghiệp gia đình và các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) chiếm 28% GDP của
các ngành chế tạo (nguồn: Ngân hàng Thế giới).
Một đặc điểm nổi bật của khu vực kinh tế NQD là các SMEs và các
doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài hoạt động trong ngành chế tạo, đặc biệt là
các doanh nghiệp có quy mô tơng đối lớn, hoạt động theo định hớng xuất khẩu
cao. Theo kết quả điều tra 457 doanh nghiệp t nhân với hơn 100 công nhân làm
việc chính thức, hoạt động trong các lĩnh vực sử dụng nhiều lao động nh may
mặc, giầy dép, nhựa, chế biến thuỷ hải sản đợc thực hiện bởi Chơng trình phát
triển khu vực Mêkông MPDF (Mekong programme developement fund)-1999
thì các doanh nghiệp này xuất khẩu khoảng 3/4 sản lợng.
Bảng 1: Các doanh nghiệp chế tạo t nhân có đăng ký
và định hớng xuất khẩu
STT Ngành
Số lợng doanh
nghiệp
Xuất
khẩu/sản l-
ợng (%)
1
1.
Dệt may
Hoá chất
9 20,0
9
9.
Các sản phẩm khác
49 74,4
1
10.
Tổng số
457 75,3
Nguồn: số liệu của MDPF (1999) và ớc tính của WB
Còn về các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài xuất khẩu khoảng 1/2
tổng sản phẩm của mình. Có thể nói, khu vực t nhân hoạt động có định hớng
xuất khẩu cao hơn khu vực nhà nớc.
1.3. Đặc điểm tài chính
Trong khu vực kinh tế t nhân, ngoại trừ các doanh nghiệp có vốn đầu t n-
ớc ngoài, nguồn tài chính ban đầu chủ yếu dựa vào tích luỹ cá nhân, gia đình,
bạn bè. Trong quá trình hoạt động, nhu cầu vốn đợc huy động phần lớn từ các
nguồn: lợi nhuận gửi lại, vay của ngời thân, vay của khu vực thị trờng tín dụng
không chính thức, chỉ một phần nhỏ đợc tài trợ bởi tín dụng ngân hàng. Nguyên
Tổng Bí th Ban chấp hành Trung ơng Đảng Đỗ Mời đã có lần đề cập vấn đề mà
Việt Nam phải đối mặt trong phát triển kinh tế bằng 3 chữ: Vốn, vốn và vốn".
Các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế NQD ở Việt Nam cũng có chung quan
điểm, họ cho rằng trở ngại lớn nhất đó là vấn đề: "Tín dụng, tín dụng và tín
dụng". Việc tiếp cận nguồn tín dụng ngân hàng là rất khó khăn đối với khu vực
kinh tế NQD, đặc biệt là nguồn tín dụng trung dài hạn. Nguyên nhân chính là
do các thể chế chính sách liên quan đến vấn đề vốn nh: chính sách đất đai, việc
thế chấp quyền sử dụng đất hoặc tài sản để vay vốn cha đợc hoàn chỉnh. Có thể
nói vốn đang là vấn đề khó khăn nhất đối với hầu hết các doanh nghiệp thuộc
khu vực kinh tế NQD trong việc phát triển hơn nữa.
lao động gấp 6,6 lần so với khu vực nhà nớc (từ năm 1997 đến năm 2000).
Khai thác nguồn lực của đất nớc, tạo việc làm cho ngời lao động và hơn
thế nữa, đóng góp của khu vực NQD vào ngân sách nhà nớc và GDP là một
minh chứng cụ thể cho vai trò của khu vực này với sự phát triển kinh tế. Năm
2000, kinh tế t nhân nộp ngân sách đợc 11,003 tỷ đồng, chiếm 16,1% tổng thu
Ngân sách, năm 2001 là 11,075 tỷ đồng (tăng 0,65%, chiếm 14,8% tổng thu
Ngân sách). Bên cạnh đó, tỷ lệ đóng góp vào GDP của khu vực này ngày càng
cao. Bảng 2 sẽ cho thấy rõ điều đó.
Bảng 2: Cơ cấu GDP theo giá hiện hành phân
theo thành phần kinh tế (%)
STT Năm 1998 1999 2000
I
I.
Kinh tế nhà nớc
40 38,74 38,98
Bùi Thị Thanh Thuý - NH 40A
Luận văn tốt nghiệp Trang 9
I
II.
Kinh tế NQD
60 61,26 61,02
1
1.
Kinh tế tập thể
8,9 8,84 8,53
2
2.
Kinh tế t nhân
3,41 3,37 3,3
3
nhà nớc và hệ thống pháp luật.
Sự phát triển ngày càng cao của khu vực kinh tế NQD đã cho thấy sự
thiếu đồng bộ, không hoàn chỉnh của hệ thống pháp luật và những bất cập về
quản lý nhà nớc về kinh tế, đòi hỏi phải đợc hoàn chỉnh, chuyển đổi và thích
nghi. Và thực tế trong những năm vừa qua, hệ thống pháp luật, đặc biệt là pháp
luật về kinh tế đã dần đợc hoàn chỉnh phù hợp với cơ chế thị trờng và đảm bảo
định hớng XHCN. Cơ chế quản lý từng bớc đợc đổi mới, mà cụ thể là thông qua
Bùi Thị Thanh Thuý - NH 40A
Luận văn tốt nghiệp Trang 10
cải cách hành chính thì cơ chế "Một cửa, một dấu" đã đợc thực hiện tạo điều
kiện cho khu vực kinh tế NQD.
Trên đây là những vai trò cơ bản của khu vực kinh tế NQD đối với nền
kinh tế và toàn xã hội. Trong tơng lai, với đờng lối chính sách tiếp tục đợc hoàn
thiện, khu vực này sẽ còn phát huy hơn nữa vai trò của nó trong sự phát triển
của nền kinh tế quốc dân.
3. Những trở lực trong hoạt động của khu vực kinh tế NQD
hiện nay
Đánh giá một cách khách quan thì kinh tế NQD ở Việt Nam cha phát
huy hết tiềm lực của nó. Nguyên nhân của tình trạng trên là do vẫn tồn tại một
số trở lực trong hoạt động của các doanh nghiệp này.
3.1. Về thái độ xã hội và bộ máy hành chính
Trong một thời gian dài, chúng ta chỉ coi trọng kinh tế nhà nớc và kinh tế
tập thể, cha chú trọng và thậm chí có những thành kiến với kinh tế t nhân, dẫn
đến đánh giá thấp những ngời tham gia vào khu vực này. Từ thái độ tiêu cực
trong nhận thức dẫn đến thái độ đối xử không đúng với thành phần kinh tế t
nhân. Từ thái độ kỳ thị xã hội dẫn đến thành kiến của bộ máy hành chính. Do
đó, nó đã ảnh hởng không nhỏ đến quyết định của mỗi cá nhân đối với việc
tham gia vào khu vực kinh tế này và cản trở những ai đã tham gia trong việc
phát huy hết mọi khả năng của họ.
3.2. Về khuôn khổ điều tiết dựa vào các quy định của luật pháp
ngân hàng. Quy mô khoản vay dao động từ 5 triệu đồng đến 14 tỷ đồng (mức
trung bình là 837 triệu đồng). 59% số doanh nghiệp cho rằng khó khăn là do
không có tài sản thế chấp (TSTC). Các doanh nghiệp cho rằng nguyên nhân của
việc khó tiếp cận với nguồn tín dụng ngân hàng là: Ngân hàng đòi hỏi nhiều
giấy tờ làm cho quá trình thẩm định kéo dài. Dẫn đến chi phí giao dịch, chi phí
cơ hội tăng. Kết quả là lãi suất ngân hàng lớn hơn lãi suất thị trờng tự do.
Tài sản thờng bị ngân hàng định giá thấp.
Ngân hàng từ chối bảo lãnh đấu thầu cho hợp đồng lớn.
ít vốn trung và dài hạn.
Rõ ràng đây cũng là vấn đề đòi hỏi các ngân hàng thơng mại quan tâm và
tìm ra giải pháp.
Trên đây là những trở ngại lớn cho các thành phần kinh tế thuộc khu vực
NQD phát triển hơn nữa. Nếu những khó khăn này đợc giải quyết triệt để thì
khu vực kinh tế NQD sẽ phát huy vai trò rất lớn trong sự nghiệp công nghiệp
hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH) đất nớc.
4. Định hớng phát triển khu vực kinh tế NQD ở Việt Nam
Bùi Thị Thanh Thuý - NH 40A
Luận văn tốt nghiệp Trang 12
Đổi mới cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là
vấn đề có tính quy luật đòi hỏi phải tôn trọng trong thời kỳ quá độ. Tiếc rằng tr-
ớc đây trong quá trình cải tạo, do t tởng nôn nóng đi lên CNXH và quan trọng
hơn là cha hiểu thấu đáo về công cuộc xây dựng CNXH, chúng ta đã hành động
phi quy luật, vận dụng dập khuôn máy móc mô hình của ngời khác. Chính vì
thế trong một thời gian dài, kinh tế NQD bị coi là phi XHCN, bị ép buộc cải
tạo, kết quả là, kinh tế quốc doanh phát triển tràn lan kém hiệu quả, kinh tế
NQD bị kìm hãm. Nền kinh tế tuy đạt đợc tốc độ tăng trởng song lại dựa trên
bội chi ngân sách, vay nợ và lạm phát. Lực lợng sản xuất xã hội không đợc giải
phóng, nền kinh tế đi vào khủng hoảng, tụt hậu. Chỉ đến Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VI (1986), với sự đổi mới t duy, từ tổng kết thực tiễn đổi mới đó,
tháng 8 năm 1986 Bộ Chính trị khẳng định: "Thừa nhận sự tồn tại của thành
tiến đóng vai trò to lớn.
Bùi Thị Thanh Thuý - NH 40A
Luận văn tốt nghiệp Trang 13
Nh vậy, trong tơng lai, sự phát triển của khu vực NQD là rất lớn. Điều
này có đợc là do những định hớng mang tính chiến lựơc của Đảng và Nhà nớc
ta cũng nh yêu cầu thực tế khách quan của nền kinh tế về sự phát triển của khu
vực kinh tế ngoài Nhà nớc
II- Tín dụng ngân hàng - yếu tố quan trọng trong
phát triển khu vực kinh tế NQD
Trớc khi đề cập tín dụng ngân hàng ta tìm hiểu sơ qua về ngân hàng th-
ơng mại. Đề đa ra định nghĩa về ngân hàng thơng mại ngời ta thờng phải dựa
vào tính chất và mục đích hoạt động của nó trên thị trờng tài chính và đôi khi
còn kết hợp mục đích, tính chất và đối tợng hoạt động.
Luật ngân hàng Pháp năm 1941 quy định: "Đợc coi là ngân hàng là
những xí nghiệp hoặc cơ sở nào hình thành nghề thờng xuyên nhận của công
chúng dới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho
chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hoặc dịch vụ tài chính". Hay
nh Luật ngân hàng của ấn Độ năm 1950, đợc bổ sung năm 1959 nêu: "Ngân
hàng là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay hoặc tài trợ đầu t".
Mặc dù có nhiều cách thể hiện khác nhau song phân tích nội dung của
các định nghĩa đó ngời ta dễ dàng nhận ra ngân hàng thơng mại đều có chung
một tính chất đó là nhận tiền ký thác để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay,
chiết khấu và các dịch vụ khác của ngân hàng hay có thể nói một cách ngắn gọn
và tơng đối là ngân hàng đi vay để cho vay.
ở Việt Nam, điều 20 Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 quy định: "Tổ
chức tín dụng là doanh nghiệp đợc thành lập theo quy định của luật này và
các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch
vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng,
cung ứng các dịch vụ thanh toán". Từ định nghĩa chung, căn cứ vào tính chất
và mục tiêu hoạt động, luật còn chỉ rõ các loại hình ngân hàng bao gồm: ngân
vật giữa ngời đi vay và ngời cho vay có kỳ chuyển giao ngợc lại. Lợng giá trị
hay hiện vật khi ngời đi vay chuyển giao cho ngời cho vay phải lớn hơn lợng họ
nhận đợc ban đầu (phần chênh lệch gọi là lãi).
1.2. Phân loại tín dụng
1.2.1. Căn cứ vào thời hạn cho vay
- Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dới 12 tháng và đợc sử
dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu
chi tiêu ngắn hạn cá nhân.
- Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ 12 tháng đến 60
tháng. Loại tín dụng này chủ yếu đợc sử dụng đầu t mua sắm tài sản cố định
(TSCĐ), cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh
doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
Bùi Thị Thanh Thuý - NH 40A
Luận văn tốt nghiệp Trang 15
- Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 60 tháng. Tín dụng
dài hạn chủ yếu là để đáp ứng nhu cầu dài hạn nh: xây dựng nhà ở, các thiết bị
phơng tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới.
1.2.2. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn tín dụng
- Tín dụng sản xuất và lu thông hàng hoá: là loại tín dụng cấp cho các
chủ thể kinh tế để tiến hành sản xuất, lu thông hàng hoá.
- Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng cấp cho các cá nhân để đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng mua sắm.
1.2.3. Căn cứ vào sự bảo đảm trong cho vay
- Tín dụng không bảo đảm (tín chấp): là loại tín dụng không có tài sản
thế chấp cầm cố hoặc sự bảo lãnh của ngời thứ 3 mà việc cho vay chỉ dựa vào
uy tín của bản thân khách hàng.
- Tín dụng có bảo đảm: là loại tín dụng khi cho vay đòi hỏi ngời vay vốn
phải có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có sự bảo lãnh của ngời thứ 3.
1.2.4. Căn cứ vào hình thái giá trị tín dụng
- Tín dụng bằng tiền: là loại cho vay mà hình thái giá trị tín dụng đợc
nền kinh tế hàng hoá. Nó đợc giải quyết bằng hoạt động của các loại hình tín
dụng trong nền kinh tế thị trờng, với đại bộ phần các nhu cầu tạm thời thừa và
thiếu vốn đợc giải quyết thông qua hoạt động của hệ thống ngân hàng.
Các trung gian môi giới tài chính với mạng lới trải rộng của nó trong nền
kinh tế, đó là các NHTM và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng đã tập trung
một số lớn nguồn tiền tệ nhàn rỗi trong xã hội để hình thành quỹ cho vay hay
nguồn vốn tín dụng. Các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi, nhàn rỗi có kỳ hạn hay
lâu đợc tập trung vào ngân hàng bằng cơ chế lãi suất khác nhau. Trên cơ sở quỹ
cho vay đó, các trung gian môi giới tài chính tiến hành phân phối nguồn vốn
này cho các đối tợng có nhu cầu bổ sung vốn. Đây là quá trình phân phối lại
vốn tiền tệ theo các nguyên tắc tín dụng và các quy định của pháp luật về tín
dụng hiện hành.
Bùi Thị Thanh Thuý - NH 40A
Luận văn tốt nghiệp Trang 17
Sự hoàn trả tín dụng là giai đoạn kết thúc một vòng tuần hoàn tín dụng,
vốn tín dụng đợc ngời đi vay hoàn trả cho ngời cho vay. Đây là đặc trng thuộc
về bản chất vận động của tín dụng, là dấu ấn phân biệt phạm trù tín dụng với
các phạm trù kinh tế khác.
1.3.2. Kiểm soát các hoạt động kinh tế thông qua tiền tệ
Phân phối và giám đốc, đó là 2 chức năng vốn có của tài chính tín dụng.
Dù là phân phối lần đầu hoặc phân phối lại, phân phối theo hình thức cấp phát
gián tiếp hay trực tiếp thì giám đốc, kiểm soát đều rất cần thiết và có ý nghĩa
quan trọng. Bởi vì vốn của các tổ chức tín dụng cho các đơn vị vay là vốn của
nền kinh tế cho nên phải kiểm soát để đảm bảo khoản cho vay đợc hoàn trả
đúng kỳ hạn. Đây là điều kiện tiên quyết để các tổ chức tín dụng tồn tại và phát
triển.
Quá trình kiểm tra đợc các tổ chức tín dụng tiến hành một cách liên tục
bằng các nghiệp vụ: thẩm định trớc khi cho vay, giám sát trong và sau khi cho
vay nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng của các khoản tiền vay và cuối cùng đối
với các tổ chức tín dụng là thu hồi đợc nợ cả gốc và lãi đúng kỳ hạn.
lợi nhuận bình quân của nền kinh tế. Mặt khác, lãi suất tín dụng còn thể hiện
mối quan hệ kinh tế xã giữa ngời đi vay, ngời cho vay và ngời lao động trực tiếp
tạo ra sản phẩm hàng hoá. Cho nên chính sách tín dụng và lãi suất tín dụng phải
giải quyết hài hoà ba lợi ích: lợi ích của ngòi cho vay, lợi ích của ngời đi vay và
lợi ích của ngời lao động.
Lãi suất tín dụng là một trong những đòn bẩy kinh tế quan trọng của nền
kinh tế, nó có tác động đến tất cả các doanh nghiệp có sử dụng vốn tín dụng nói
riêng vè đến tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân nói chung.
1.5. Quan hệ tín dụng
Tín dụng là một quan hệ kinh tế và nó chỉ đợc hình thành khi hai chủ thể
tham gia cùng chấp thuận. Do đó việc hình thành quan hệ tín dụng dựa trên các
điều kiện sau:
- Đối với ngời cho vay: quan tâm tới hai điều kiện: khả năng thu hồi vốn
và lãi đầy đủ đúng thời hạn, lãi suất hợp lý.
- Đối với ngòi đi vay: quan tâm tới hai điều kiện: món vay phải đuợc đáp
ứng theo đúng thoả thuận, lãi suất hợp lý.
Có thể nói, quan hệ tín dụng dựa trên các điều kiện: lòng tin, thời hạn,
tính hoàn trả và có lãi ngân hàng tất yếu phải nghiên cứu các điều kiện tín dụng
để chủ động tạo nên quan hệ tín dụng với ngời cho vay và với ngời đi vay đặc
biệt là điều kiện về lãi suất (lãi suất đi vay thấp, lãi suất cho vay cao) thì ngân
hàng mới tồn tại và phát triển đợc và nh vậy mới thực sự là kinh doanh tín dụng.
Trong quan hệ tín dụng, ngân hàng có thể, có khi là ngời cho vay, có khi là ngời
Bùi Thị Thanh Thuý - NH 40A
Luận văn tốt nghiệp Trang 19
đi vay. Với phạm vi bài viết này chỉ đề cập quan hệ tín dụng mà trong đó ngân
hàng là ngời cho vay.
2. Các hình thức tín dụng
Nh chúng ta đã biết, quan hệ tín dụng phát triển cùng với sự phát triển
của nền kinh tế hàng hoá. Do đó các hình thức tín dụng cũng từng bớc đợc hình
thành.
Tín dụng nhà nớc là quan hệ tín dụng giữa nhà nớc với các tầng lớp dân
c hoặc các tổ chức kinh tế xã hội khác, đợc thực hiện bằng cách phát hành công
trái hay tín phiếu kho bạc nhà nớc.
Mục đích của tín dụng nhà nớc là để tài trợ cho các dự án phát triển kinh
tế xã hội, đầu t vào các ngành kinh tế mũi nhọn, quy mô lớn, có tầm quan trọng
trong nền kinh tế hoặc để bù đắp thiếu hụt ngân sách.
Đặc điểm nổi bật của hình thức này là độ rủi ro tín dụng bằng không. Tín
dụng nhà nớc phát triển, tín phiếu và công trái trở thành đối tợng giao dịch, góp
phần cung cấp hàng hoá cho thị trờng tài chính.
2.4. Hình thức tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng, còn
bên kia là chủ thể kinh tế khác trong nền kinh tế quốc dân.
Trong quan hệ tín dụng, ngân hàng vừa là ngời đi vay vừa là ngời cho
vay. Với t cách là ngời đi vay, ngân hàng nhận tiền gửi của các doanh nghiệp và
cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để huy động vốn trong
nền kinh tế. Với t cách là ngời cho vay, ngân hàng cung cấp tín dụng cho các
doanh nghiệp và cá nhân có nhu cầu.
Tín dụng ngân hàng không chỉ đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn để dự trữ
vật t hàng hoá, trang trải các chi phí sản xuất và thanh toán các khoản nợ mà
còn cho vay trung dài hạn để mua máy móc, thiết bị, xây dựng công trình, kết
cấu hạ tầng, cải tiến và đổi mới kỹ thuật công nghệ. Ngoài ra tín dụng ngân
hàng còn đáp ứng một phần đáng kể nhu cầu tiêu dùng cá nhân.
Vừa là ngời đi vay, vừa là ngời cho vay, các NHTM thực sự là các tổ
chức kinh doanh tín dụng. Vì vậy, khi nghiên cứu loại hình tín dụng ngân hàng
không thể không nghiên cứu về điều kiện tín dụng và giá cả tín dụng.
2.4.1 Điều kiện tín dụng
Khác với các thành phần kinh tế khác, khi vay vốn họ phải trực tiếp tới
ngời cho vay để xin vay và thờng chấp nhận mức lãi suất mà ngời cho vay đa ra.
Đối với NHTM, khi đi vay vốn - huy động vốn, ngân hàng đặt ra lãi suất trớc t-
ơng ứng với kỳ hạn và loại tiền (ngoại tệ và nội tệ), nhận tiền vay thụ động, tức
dụng) do đó phải quan tâm tới cả lãi suất huy động (đầu vào) và lãi suất cho vay
(đầu ra).
Theo nguyên lý chung thì lãi suất tín dụng tuân theo các quy luật của thị
trờng. Ngoài ra, mức lãi suất cụ thể trong từng thời kỳ còn chịu ảnh hởng bởi
yếu tố lạm phát. Do vậy lãi suất huy động và lãi suất cho vay của ngân hàng đợc
biểu diễn nh sau:
Tỷ lệ lạm phát < lãi suất huy động < lãi suất cho vay < tỷ suất lợi
nhuận bình quân của nền kinh tế.
Xu hớng lãi suất đầu vào càng tăng, lãi suất đầu ra càng giảm thì khối l-
ợng tín dụng càng đợc mở rộng. Nhng nó kéo theo một kết quả đối nghịch là
khi đó lợi nhuận của ngân hàng giảm xuống. Vì vậy, việc đa ra một chính sách
lãi suất phù hợp để điều hoà mâu thuẫn trên là một vấn đề nan giải đối với các
NHTM.
Bùi Thị Thanh Thuý - NH 40A
Luận văn tốt nghiệp Trang 22
Trên đây là 4 hình thức tín dụng cơ bản tồn tại trong nền kinh tế hiện
nay. Trong đó, hình thức tín dụng ngân hàng là phổ biến nhất. Trong phạm vi đề
tài này chỉ đề cập hình thức tín dụng ngân hàng. Do đó, từ nay trở về sau khi
nói đến tín dụng chỉ có nghĩa là tín dụng ngân hàng.
3. Vai trò của tín dụng trong phát triển khu vực kinh tế NQD
Với t cách là trung gian tài chính, các NHTM thông qua hoạt động tín
dụng đóng vai trò rất lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế nói chung và sự
phát triển của khu vực kinh tế NQD nói riêng.
3.1. Tín dung ngân hàng tham gia vào quá trình hình thành và phát
triển của khu vực kinh tế NQD
Mặc dù nguồn vốn ban đầu của các cơ sở kinh tế NQD là chủ yếu dựa
vào tích luỹ cá nhân, gia đình. Song vốn tín dụng cũng đóng góp một phần
không nhỏ, ngày càng có nhiều doanh nghiệp t nhân đợc thành lập dựa trên cả 2
nguồn: tích luỹ và tín dụng. Trong năm 2000, trên 13 triệu hộ gia đình nông
thôn trở thành hộ sản xuất kinh doanh đợc ngân hàng cho vay vốn. D nợ cho
doanh có hiệu quả.
Bên cạnh đó, khi cấp tín dụng cho một dự án đầu t, thì trớc đó quá trình
thẩm định khắt khe của ngân hàng phải thấy đợc tính khả thi, hiệu quả của nó.
Trong quá trình cho vay, ngân hàng luôn giám sát việc sử dụng vốn vay của các
doanh nghiệp. Do đó, chính tín dụng đã có khả năng loại trừ các dự án không
khả thi. Điều này góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
3.4. Tín dụng ngân hàng là cầu nối cho các thành phần kinh tế NQD
Việt Nam thiết lập quan hệ giao lu kinh tế quốc tế
Ngày nay trong quan hệ kinh tế quốc tế, sự hợp tác bình đẳng, cùng có
lợi giữa các nớc trên thế giới và trong khu vực đang đợc phát triển mạnh mẽ.
Trong đó đầu t vốn ra nớc ngoài và kinh doanh xuất nhập khẩu là hai lĩnh vực
hợp tác quốc tế thông dụng nhất. Vốn là nhân tố quyết định đầu tiên cho việc
thực hiện quá trình này. Nhng thực tế hầu hết các chủ thể của khu vực kinh tế
NQD không đủ vốn để hoạt động. Ngân hàng thông qua hoạt động tín dụng sẽ
là trở thủ đắc lực cho các doanh nghiệp NQD đầu t và kinh doanh xuất nhập
khẩu.
Đó là những vai trò tích cực của tín dụng ngân hàng trong phát triển khu
vực kinh tế NQD. Và ngợc lại, kinh tế NQD phát triển cũng sẽ mở rộng thị tr-
ờng tín dụng cho các NHTM.
III- Các phơng pháp đánh giá Quy mô và chất lợng
tín dụng
1. Khái niệm
1.1. Quy mô tín dụng
Quy mô tín dụng của một ngân hàng là một chỉ tiêu đợc thể hiện bằng
doanh số cho vay và dự nợ tín dụng của ngân hàng đó trong một thời kỳ nhất
định.
Bùi Thị Thanh Thuý - NH 40A
Luận văn tốt nghiệp Trang 24
1.2. Chất lợng tín dụng
Chất lợng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng (ngời gửi tiền
Luận văn tốt nghiệp Trang 25
vốn, mà đây là điều tệ hại, đễ dẫn đến mất khả năng thanh toán và giảm thu
nhập.
Các tỷ lệ: Nợ quá hạn/ Tổng d nợ
Nợ quá hạn/Tổng tài sản
Tuy nhiên hiện nay tỷ lệ Nợ quá hạn/Tổng d nợ đợc sử dụng nhiều hơn.
Tỷ lệ Nợ quá hạn/ Tổng d nợ càng thấp thì chất lợng tín dụng càng cao.
2.2.2. Tỷ lệ thanh toán do bán tài sản cuả ngời vay
Trong quan hệ tín dụng, nguồn trả nợ cho NH đợc lấy từ phần thu nhập
do hoạt đông sản xuất kinh doanh của khách hàng, nó bao gồm các chi phí lao
động vật hoá (chi phí nguyên, nhiên, vật liệu, khấu hao tài sản cố định) và phần
giá trị mới sáng tạo ra. Tuyvậy, có nhiều trờng hợp sử dụng vốn kém hiệu quả,
sản xuất kinh doanh thua lỗ, phá sản... nên ngời vay phải bán tài sản (tự nguyện
hoặc bắt buộc) để trả nợ ngân hàng. Số tiền do bán tài sản có thể đủ để trả hết
món nợ vay, nhng cũng có thể chỉ trả đợc một phần món vay, song trong trờng
hợp nào đi chăng nữa thì vẫn có thể đánh giá là chất lợng tín dụng thấp. Công
thức tính tỷ lệ này có thể đợc xác định nh sau:
Tỷ lệ thanh toán nợ do bán tài sản của ngời vay = Số tiền thu nợ do
khách bán tài sản/Tổng doanh số thu nợ x 100%.
Tỷ lệ này đợc tính theo định kỳ (tháng, quý, năm).
ở Việt Nam, từ khi nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trờng thì hoạt
động tín dụng của các NHTM đã đựơc đổi mới một bớc, các khoản tín đụng cấp
ra hầu hết đều có tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, nội dung này vẫn là vấn đề nan
giải đối với các NHTM. Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam thì
trong số hơn 10 tỷ đồng giá trị tài sản bắt nợ, xiết nợ mà các NHTM đang quản
lý thì có tới hơn một nửa là loại tài sản khó bán.
2.2.3 Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng
Chỉ tiêu này đợc tính toán để đánh giá khả năng tổ chức quản lý vốn tín
dụng và chất lợng tín dụng trong việc thoả mãn nhu cầu khách hàng, giải quyết
hợp lý giữa 3 lợi ích: nhà nớc, khách hàng và ngân hàng.