Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Ngọc Hà
Lời mở đầu
Tín dụng Ngân hàng đợc coi là đòn bẩy quan trọng cho nền kinh tế, là
nguồn vốn quan trọng, chủ động để phát triển kinh tế trong nớc. Tuy nhiên,
nghiệp vụ tín dụng không chỉ có ý nghĩa với nền kinh tế mà nó còn là nghiệp
vụ hàng đầu, có ý nghĩa quan trọng, quyết định đối với sự tồn tại và phát triển
của từng Ngân hàng. Cũng nh mọi hoạt động kinh doanh khác, hoạt động tín
dụng cũng chứa đựng những rủi ro. Do đặc thù kinh doanh tín dụng Ngân hàng
là kinh doanh chủ yếu dựa trên tiền của ngời khác, kinh doanh qua tay ngời
khác nên rủi ro trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng còn cao hơn rủi ro
doanh nghiệp vì nó vừa phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của Ngân hàng và
vừa phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy, rủi ro trong
kinh doanh dịch vụ Ngân hàng là điều khó tránh khỏi mà chủ yếu là rủi ro tín
dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Thời gian gần đây rủi ro tín
dụng đối với khu vực này đang là vấn đề nổi cộm đang thu hút sự quan tâm của
các cấp lãnh đạo ngành Ngân hàng trong khi tiềm năng của khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh rất to lớn nhng cha đợc phát huy. Hơn nữa rủi ro xảy ra trong
Ngân hàng nói chung và rủi ro tín dụng nói riêng còn nguy hiểm hơn rất nhiều
lần so với rủi ro trong các ngành kinh doanh khác. Hậu quả của nó rất dễ lan
truyền trong cả hệ thống Ngân hàng, gây ra những vụ hoảng loạn và sụp đổ
hàng loạt Ngân hàng và một loạt hậu quả nghiêm trọng khác về mọi mặt kinh
tế, xã hội đặc biệt là lòng tin của ngời dân vào sự lãnh đạo của Chính phủ bị
suy giảm. Ta có thể thấy đợc phần nào hậu quả của rủi ro Ngân hàng qua vụ đổ
vỡ hàng loạt của gần 500 quỹ tín dụng đô thị và hàng nghìn hợp tác xã tín dụng
nông thôn nớc ta những năm 1989-1990, hay mới đây nhất là sự sụp đổ của hệ
thống quỹ tín dụng ở Anbani.
Tài chính doanh nghiệp 41B
1
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Ngọc Hà
Với các Ngân hàng thơng mại ở Việt Nam hiện nay, rủi ro tín dụng đối
với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh cũng đang là một vấn đề làm đau đầu các
1.1. hoạt động kinh doanh của ngân hàng thơng mại
trong nền kinh tế thị trờng.
1.1.1. Tính tất yếu khách quan của hoạt động kinh doanh Ngân hàng.
Ngân hàng thơng mại (NHTM) là một bộ phận không thể tách khỏi đời
sống xã hội, là một sản phẩm đặc biệt của nền kinh tế thị trờng. Sự ra đời và
phát triển của Ngân hàng thơng mại dựa trên cơ sở lu thông hàng hóa và phải
trải qua một quá trình phát triển lâu dài của loài ngời. Quan niệm Ngân hàng
thay đổi theo thời gian, theo sự biến đổi của nền kinh tế. Song khái quát chung
đợc ghi trong pháp lệnh Ngân hàng ngày 23/05/1990 của Hội đồng Nhà nớc
(Điều I, khoản 1): Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ
mà hoạt động chủ yếu là thờng xuyên nhận tiền gửi của khách hàng với trách
nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nhiệm vụ chiết khấu
và làm phơng tiện thanh toán.
Ngân hàng thơng mại cũng giống nh các tổ chức kinh doanh khác là hoạt
động vì mục đích thu lợi nhuận nhng là tổ chức kinh doanh đặc biệt vì đối tợng
Ngân hàng là tiền tệ. Trong đó hoạt động tín dụng là đặc trng chủ yếu. Hơn
nữa, tổ chức này lại có vai trò to lớn trong việc tạo ra vốn và điều hoà vốn trong
nền kinh tế. Khoản 8 và 10, điều 20, luật các tổ chức tín dụng, hoạt động tín
dụng đợc định nghĩa nh sau: Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử
dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để thoả thuận cấp tín dụng cho
khách hàng với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu
cho thuê tài sản, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác .
Hoạt động Ngân hàng cũng nh hoạt động tín dụng ngân hàng đều là một
công cụ quan trọng không thể thiếu của nền sản xuất kinh tế thị trờng.
Tài chính doanh nghiệp 41B
3
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Ngọc Hà
1.1.2. Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng trong nền kinh tế thị trờng.
Trong nền kinh tế thị trờng, ngân hàng thơng mại thể hiện mình thông
qua các hoạt động sau:
phát hành các công cụ thanh toán (thẻ thanh toán, thẻ tín dụng, séc) cung cấp
các dịch vụ thanh toán cho công chúng, thực hiện các dịch vụ thu hộ, chi hộ.
Để thực hiện các chức năng trung gian thanh toán của mình, các ngân hàng th-
ơng mại đều tham gia vào các hệ thống thanh toán nh: hệ thống thanh toán bù
trừ, hệ thống thanh toán liên hàng hay thông qua các ngân hàng đại lý.
1.1.2.4. Tham gia hoạt động trên thị trờng hối đoái.
Các ngân hàng thơng mại tham gia mua bán ngoại tệ, kim loại quý
trên thị trờng hối đoái. Trong sự phát triển của mình các ngân hàng thơng mại
đã hình thành và phát triển nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ và kim loại quý. Nó
xuất phát từ sự phát triển sản xuất kinh doanh theo xu hớng hội nhập và phân
công lao động quốc tế. Đồng thời, nó cũng là động lực thúc đẩy trở lại sự phát
triển của hoạt động này. Về phía ngân hàng, việc mua bán ngoại tệ và kim loại
quý đã đem lại lợi nhuận trên cơ sở mua vào với giá thấp và bán ra với giá
cao. Kinh doanh trên cơ sở chênh lệch tỷ giá thông qua các giao dịch giao
ngày, giao dịch kỳ hạn, arbit cũng đem lại lợi nhuận cho ngân hàng.
1.1.2.5. Tham gia hoạt động trên thị trờng chứng khoán.
Thị trờng chứng khoán, ngân hàng thơng mại tham gia với t cách là ngời
cung cấp (phát hành), ngời mua bán, ngời bảo lãnh phát hành, ngời môi giới,
ngời đầu t .Trong đó, chức năng môi giới của ngân hàng trên thị tr ờng chứng
khoán đợc mọi ngời biết tới thông qua các hoạt động bảo lãnh phát hành chứng
khoán cho các công ty, mua bán chứng khoán cho khách hàng
1.1.2.6. Cung cấp các dịch vụ khác cho khách hàng.
Các ngân hàng thơng mại hiện đại nhận thấy lợi nhuận đem lại từ việc
cung cấp các dịch vụ cho khách hàng chiếm tỷ trọng ngày một lớn trong tổng
lợi nhuận. Do vậy đa dạng hóa các dịch vụ, nâng cao hiệu quả chất lợng dịch
vụ luôn là mối quan tâm của ngân hàng. Ngày nay, các dịch vụ của ngân hàng
thơng mại rất đa dạng, phong phú từ việc bảo lãnh, đến cung cấp các dịch vụ t
vấn tài chính, quản lý tài sản cho khách hàng lu giữ, bảo quản các chứng từ, tài
Tài chính doanh nghiệp 41B
5
6
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Ngọc Hà
Rủi ro tín dụng là đặc trng nhất và dễ xảy ra nhất trong hoạt động kinh
doanh tiền tệ của Ngân hàng. Rủi ro tín dụng là một rủi ro trong kinh doanh
của Ngân hàng do một hoặc một nhóm khách hàng không thực hiện đợc các
nghĩa vụ về tài chính với Ngân hàng. Rủi ro tín dụng đợc hiểu là khoản lỗ tiềm
tàng vốn có đợc tạo ra khi cấp tín dụng cho một khách hàng. Hoặc nói một
cách cụ thể hơn, luồng thu nhập dự tính mang lại từ tài sản có sinh lời của các
Ngân hàng có thể không đợc hoàn trả đầy đủ xét cả về mặt số lợng và thời hạn.
Điều đó có nghĩa là một khi còn có hoạt động Ngân hàng thì còn có rủi
ro trong hoạt động tín dụng và buộc Ngân hàng phải có những giải pháp đồng
bộ, hữu hiệu mới có thể hạn chế, ngăn ngừa bớt rủi ro, giảm tới mức thấp nhất
thiệt hại do chúng gây ra.
1.2.2. Các loại hình rủi ro trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng th-
ơng mại.
1.2.2.1. Rủi ro tín dụng (rủi ro cho vay).
Hoạt động tín dụng là một trong các hoạt động lớn nhất và chủ yếu nhất
của Ngân hàng thơng mại vì vậy lợi nhuận của Ngân hàng chủ yếu là thu từ lãi
do việc cấp tín dụng. Đơng nhiên ở khâu này chứa đựng nhiều rủi ro nhất, nói
cách khác việc cho vay bao giờ cũng thực hiện các đảm bảo để giảm thiểu các
rủi ro có liên quan đến tiền vay nh: Phân tích khách hàng, quy định hạn mức
cho vay, yêu cầu thế chấp, thỏa thuận về vay, trả nợ. Nhng dẫu sao Ngân hàng
cũng không thể đánh gía đợc hết các bất ngờ hoặc chính xác đợc.
Rủi ro cho vay biểu hiện ra bên ngoài là việc không hoàn thành nghĩa vụ
trả nợ, vốn bị ứ đọng khó có khả năng thu hồi hoặc xảy ra nợ quá hạn ngày
càng tăng, các khoản lãi cha thu ngày càng lớn dẫn đến Ngân hàng không thu
hồi đợc vốn để hoàn trả vốn cho ngời gửi tiền, thậm chí Ngân hàng bị thiếu và
không có khả năng thanh toán.
Nói tóm lại, rủi ro trong khâu cho vay liên quan đến ba vấn đề chính: ý
thức về nghĩa vụ trả nợ của khách hàng, khả năng trả nợ hiện tại và tơng lai,
8
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Ngọc Hà
tiền tệ của chính phủ. Vì vậy, rủi ro lãi suất xuất hiện thờng xuyên trong hoạt
động kinh doanh của Ngân hàng.
1.2.2.4. Rủi ro tỷ giá.
Kinh doanh ngoại hối là một trong những hoạt động của Ngân hàng
nhằm phục vụ cho nhu cầu đa dạng của nền kinh tế, tạo điều kiện cho các nhà
kinh doanh hoạt động xuất nhập khẩu thuật lợi. Rủi ro tỷ giá xuất hiện do sự
thay đổi tỷ giá giữa các đồng tiền. Rủi ro này xuất hiện hầu hết trong các hoạt
động kinh doanh Ngân hàng, đặc biệt trong khâu đi vay và cho vay. Khi tỷ
giá tăng sẽ tạo ra lãi về hối đoái, tỷ giá giảm sẽ tạo ra lỗ về hối đoái.
Những điều này sẽ tạo ra ảnh hởng trực tiếp đến Ngân hàng cũng nh đối với
khách hàng của Ngân hàng.
1.2.2.5. Rủi ro bị đọng vốn.
Rủi ro này xuất hiện trong trờng hợp nguồn vốn của Ngân hàng bị ứ
đọng, không cho vay đợc hay không thể chuyển sang các tài sản có sinh lời
khác. Điều này gây rủi ro lớn cho Ngân hàng. Bởi vì NHTM là doanh nghiệp
kiếm lợi nhuận bằng cáchđi vay để cho vay nguồn vốn tự có rất ít ỏi, chỉ là
một cái đệm chống đỡ sự sụt giảm của tài sản có mà thôi. Và nguồn vốn huy
động chủ yếu của ngân hàng chính là vốn huy động. Nếu vì một lý do nào đó,
ngân hàng không cho vay đợc nguồn vốn này hoặc không sử dụng hết nghĩa là
tồn tại tiền dự trữ qúa mức không sinh lãi trong khi đến hạn ngân hàng vẫn phải
trả lãi cho số tiền huy động và các chi phí nghiệp vụ khác có liên quan sẽ làm
ảnh hởng đến lợi nhuận của ngân hàng. Tình trạng này kéo dài và đến một mức
độ nào đó sẽ đẩy ngân hàng vào hoàn cảnh khó khăn thua lỗ hoặc thậm chí phá
sản.
1.2.2.6. Các rủi ro thuần tuý.
Đó là những rủi ro của tự nhiên mang lại nh thiên tai, hoả hoạn, động đất
hoặc các rủi ro nh lừa đảo, trộm cắp làm thiệt hại hay phá huỷ tài sản của
Ngân hàng.
kinh tế-xã hội. Thành phần KT NQD có đặc điểm nổi trội sau:
Tài chính doanh nghiệp 41B
10
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Ngọc Hà
1.3.1.1 Đa số các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đều tập trung vào lĩnh
vực thơng mại, dịch vụ và tập trung chủ yếu ở các vùng đô thị lớn.
Qua số liệu thống kê cho thấy phạm vi hoạt động của khu vực KT NQD
có mặt hầu hết các ngành Kinh tế quốc dân(26000 doanh nghiệp vừa và nhỏ,
tính đến đầu năm 1998), công nghiệp chế biến, nông lâm nghiệp, xây dựng,
thơng mại và dịch vụ.
Tuy nhiên trong vòng 10 năm trở lại đây, mức đầu t nhiều nhất vẫn là th-
ơng mại và dịch vụ, ngành chiếm tỷ trọng nhiều cả về số lợng lẫn giá trị tổng
sản phẩm quốc nội.
Sự phát triển của thơng mại dịch vụ ngoài việc xuất phát từ nhu cầu
thực tế của nền kinh tế còn là tất yếu của thời đại và xu thế hội nhập nên quy
mô hoạt động của nó đã vợt ra ngoài biên giới của một nớc. Hơn nữa, đặc điểm
của ngành thơng mại và dịch vụ là vốn đầu t thấp hơn các ngành khác, thời gian
thu hồi vẫn nhanh, tỷ suất doanh lợi hấp dẫn, có thị trờng, có kinh nghiệm kinh
doanh.
Trong lĩnh vực sản xuất khu vực KT NQD chiếm tỷ trọng thấp năng lực
sản xuất nhỏ nên dễ bị tác động bởi sự cạnh tranh trong cơ chế thị trờng và chủ
đầu t vào các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến.
1.3.1.2 Năng động nhạy bén và dễ thích ứng với sự thay đổi của thị trờng.
Ngời quản lý doanh nghiệp ngoài quốc doanh thờng xuyên đồng thời là
chủ sở hữu nên các quyết định trong kinh doanh thờng có hiệu lực ngay. Sự gắn
bó sát sao giữa quyền lợi của doanh nghiệp với quyền lợi của ngời lãnh đạo
khiến họ phải tập trung hết trí lực cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Do có khả năng tự quyết, họ có thể chớp lấy những cơ hội kinh doanh thuận lợi
đồng thời họ có thể chuyển hớng kinh doanh khi có những bất lợi. Vì vậy các
DN NQD có khả năng thích ứng nhanh với sự thay đổi của thị trờng và sự tiến
rằng ở những nơi này có nhiều nguồn nguyên liệu để phát triển.
1.3.1.5 Hạn chế về vốn.
Tài chính doanh nghiệp 41B
12
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Ngọc Hà
Hiện nay các DN NQD đang gặp phải một cản trở rất lớn đến sự phát
triển sản xuất và mở rộng kinh doanh là tình trạng thiếu vốn. Trong khi đó họ
thờng chiếm một tỷ trọng lớn trong số những ngời xin vay vốn Ngân hàng. Do
vậy các Ngân hàng thơng mại phải có sự chú ý đặc biệt tới tình hình tài chính
trong cho vay đối với khu vực này.
Mặc dù thị trờng chứng khoán đã đi vào hoạt động đợc hơn 2 năm nhng
cha thực sự trở thành thị trờng vốn dài hạn và ổn định cho các doanh nghiệp
thuộc khu vực. Đồng thời hạn chế về nguồn vốn là nguyên nhân cơ bản dẫn tới
những khó khăn khác cho các doanh nghiệp nh về công nghệ lạc hậu, trình độ
công nhân thấp, khả năng cạnh tranh.
1.3.1.6. Tâm lý đầu t, ý chí kinh doanh của các chủ doanh nghiệp ngoài
quốc doanh còn thấp.
Đa phần chủ doanh nghiệp trong nớc thuộc các thành phần KT NQD cha
đợc đào tạo một cách bài bản, trình độ đội ngũ quản lý các kỹ s bậc cao, trình
độ ngời lao động thấp, thiếu kinh nghiệm tổ chức quản lý, khả năng thâm nhập
thị trờng, trình độ trang bị sản xuất thấp. Hiện nay các nhà đầu t cha mạnh dạn
đầu t. Vì vậy họ đang gặp khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn lực nhằm tổ
chức, quản lý, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
1.3.1.7. Một số Doanh nghiệp ngoài quốc doanh cha xác định đợc rõ hớng
sản xuất kinh doanh.
Không ít doanh nghiệp thụ động do thiếu trình độ mà không xây dựng đ-
ợc kinh doanh dài hạn, không xác định đợc rõ hớng sản xuất kinh doanh nên
thờng đăng ký kinh doanh nhiều chức năng để dự phòng để thay đổi ngành
nghề kinh doanh dễ dàng. Còn có tình trạng kinh doanh sai chức năng, không
có địa chỉ cố định, thay đổi sáng lập viên, tạm ngừng kinh doanh, giải thể nhng
các khía cạnh sau:
1.3.2.1. Thông tin không cân xứng.
Trong những giao dịch diễn ra trên thị trờng tài chính, sự không cân
bằng về thông tin mà mỗi bên có đợc gọi là thông tin không cân xứng. Ví dụ
Tài chính doanh nghiệp 41B
14
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Ngọc Hà
một ngời vay một món tiền thờng có thông tin tốt hơn về lợi tức tiềm ẩn và rủi
ro kèm theo với dự án đầu t mà ngời này có dự tính tiến hành so với ngời cho
vay. Việc thiếu thông tin tạo ra những vấn đề trong hệ thống tài chính ở hai
mặt: trớc khi cuộc giao dịch diễn ra và sau khi cuộc giao dịch diễn ra.
Chọn lựa đối nghịch là do vấn đề thông tin không cân xứng tạo ra trớc
khi diễn ra cuộc giao dịch. Chọn lựa đối nghịch xảy ra trên thị trờng tài chính
khi những ngời đi vay có nhiều khả năng tạo ra một kết cục không mong muốn
(đối nghịch) tức là những rủi ro không trả đợc nợ là những ngời tích cực
tìm vay nhất và do vậy có nhiều khả năng đợc lựa chọn nhất. Do việc chọn lựa
đối nghịch khiến dễ có thể là các món cho vay đợc thực hiện cho những trờng
hợp rủi ro không trả đợc nợ, những ngời cho vay có thể quyết định không cho
vay mặc dù có những trờng hợp có thể trả đợc nợ.
Rủi ro đạo đức là một vấn đề do thông tin không cân xứng tạo ra sau khi
cuộc giao dịch diễn ra. Rủi ro đạo đức xảy ra khi ngời cho vay phải chịu một
rủi ro là ngời vay có ý muốn thực hiện những hoạt động không tốt ( thiếu đạo
đức) xét theo quan điểm ngời cho vay, bởi vì những hoạt động này khiến ít có
khả năng để món vay này sẽ hoàn trả.
Rủi ro đạo đức nảy sinh trong thị trờng vay nợ bởi vì những ngời vay
tiền có ý thức muốn thực hiện những hoạt động không đáng mong muốn theo
quan điểm của ngời cho vay. Trong tình trạng nh vậy, dễ có thể là ngời cho vay
này sẽ bị đặt vào sự rủi ro về vỡ nợ. Một khi những ngời vay đã có món tiền
vay, họ dễ có thể đầu t vào những dự án có rủi ro cao những dự án đem lại
lợi tức cao cho những ngời vay tiền nếu thành công. Tuy nhiên, sự rủi ro cao
một cách chóng mặt, gây khó khăn cho ngân hàng trong việc huy động vốn để
đầu t vào nền kinh tế.
Bất kỳ một biến động nào của nền kinh tế cũng sẽ ảnh hởng đến hoạt
động của ngân hàng. Nh một cá thể tự nhiên, ngân hàng khoẻ mạnh hay
không cũng phụ thuộc rất nhiều vào môi trờng kinh tế ổn định hay nhiều bão
tố.
1.3.2.3. Môi trờng pháp lý.
Hệ thống văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động ngân hàng hiện
nay, tuy đã đợc cải tiến nhiều nhng vẫn cha thực sự khoa học và thiếu đồng bộ,
cha đủ sức điều chỉnh những diễn biến phức tạp trong thực tế kinh doanh của
Tài chính doanh nghiệp 41B
16
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Ngọc Hà
ngân hàng thơng mại. Một vấn đề quan trọng là ngời thi hành luật, có nhiều ng-
ời đã không thi hành đúng theo luật Nhà nớc đã ban hành. Đứng trớc vụ lợi họ
quyên mất vai trò quan trọng đó là đem lại lợi ích cho quốc gia và công bằng
cho xã hội. Nhà nớc cần có những văn bản hớng dẫn cụ thể cách thi hành luật
và có những biện pháp xử lý nghiêm minh đối với những ngời không làm trọn
trách nhiệm.
Hiện nay, điều kiện vay vốn, đặc biệt đối với doanh nghiệp ngoài quốc
doanh gần nh bắt buộc phải có tài sản thế chấp, trong khi đó chúng ta cha có
luật về sở hữu nên cha có cơ quan nào có trách nhiệm cấp chứng nhận sở hữu
tài sản và việc chuyển quyền sở hữu. Vì thế mà ngân hàng gặp khó khăn trong
việc kiểm tra tính xác thực của chủ sở hữu tài sản. Tín dụng thơng mại đang rất
phổ biến trong giao dịch nhng các quy định về lu thông thơng phiêú cha có,
dẫn đến tình trạng chiếm dụng vốn dây da, lừa đảo, trốn thuế gây khó khăn
trong việc kiểm soát. Hệ thống các văn bản quy định về đảm bảo tiền vay còn
nhiều bất cập, mang tính áp đặt, cha nâng cao quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm
của ngân hàng và khách hàng vay vốn.
Bên cạnh đó các cơ quan hữu quan cha có đợc cái nhìn thấu đáo về ngân
vay phải xuất trình kèm theo các tài liệu vay vốn theo suốt thời gian vay. Việc
chậm trễ trong xây dựng hoặc nộp các báo cáo định kỳ nói lên tình hình tài
chính có vẫn đề phải xem xét, hoặc doanh nghiệp có khó khăn, hoặc có gian
lận về tài chính, Ngân hàng cần thiết phải tiến hành kiểm tra phân tích và kết
luận cụ thể.
1.3.3.2. Mối quan hệ giữa Ngân hàng và ngời vay.
Trong nền kinh tế thị trờng quan hệ giữa Ngân hàng và ngời vay là quan
hệ bạn hàng kinh doanh, bình đẳng trớc pháp luật. Song mối quan này chủ yếu
thực hiện trên cơ sở việc sử dụng vốn lẫn nhau và dựa trên sự tín nhiệm. Vì vậy
trong quan hệ tín dụng nhất thiết phải có các quan hệ qua lại lẫn nhau nhằm để
cung cấp thông tin hai chiều, kiểm soát lẫn nhau trong việc thực hiện các cam
kết và để khẳng định vị trí và uy tín của mình. Sự chậm trễ hoặc thất hẹn, hoặc
Tài chính doanh nghiệp 41B
18
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Ngọc Hà
trốn tránh các giao tiếp đó chứng tỏ mối quan hệ đang diễn ra không bình th-
ờng và sự không bình thờng đó sẽ trực tiếp ảnh hởng đến việc sử dụng vốn, khả
năng hoàn trả nợ, tình hình sản xuất kinh doanh và các quan hệ hợp tác nói
chung về kinh tế, xã hội. Tình hình đó có thể làm cho mối quan hệ xã hội trở
nên căng thẳng, không tốt đẹp, làm giảm uy tín và trực tiếp làm ảnh hởng tới
khả năng huy động vốn, khả năng cho vay, khả năng thanh toán của các bên
tức là có thể xuất hiện các rủi ro tín dụng.
1.3.3.3. Tình hình dự trữ vật t hàng hoá.
Vật t hàng hoá nói chung và vật t hàng hoá tạo ra từ tiền vay nói riêng
đều đợc coi nh các đảm bảo tiền vay trực tiếp, là cơ sở để vốn vay Ngân hàng
phát huy hiệu quả kinh tế (tạo ra lợi nhuận mới). Do đó dự trữ vật t hàng hoá là
việc làm cần thiết cho sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên nếu dự trữ vật t hàng
hoá quá lớn (trên mức hợp lý) thì có thể dẫn đến ứ đọng về vốn, làm giảm khả
năng thanh toán và nh vậy tình hình tài chính trở nên khó khăn, làm ảnh hởng
đến việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Từ đó có thể làm nảy sinh nợ nần và gia
chính khó khăn thì việc hoàn thành nghĩa vụ nợ là điều khó thực hiện đợc.
1.3.3.7. Các thảm họa thiên nhiên, các biến động về chính trị xã hội.
Các thảm họa thiên nhiên nh báo lụt, hoả hoạn, thời tiết khắc nghiệp
đều có thể là các nguyên nhân ảnh hởng lớn đến các hoạt động sản xuất, kinh
doanh, nhất là đối với các đơn vị hoạt động phụ thuộc vào tự nhiên. Các biến
động chính trị, xã hội sẽ dẫn đến môi trờng xã hội, môi trờng kinh tế bất ổn
định, đây là các bất lợi cho các chủ thể trong kinh doanh. Nh vậy cũng có nghĩa
là tạo điều kiện nảy sinh các rủi ro tín dụng. Điều này có thể nhận biết đợc từ
các thông tin kinh tế, xã hội.
Tóm lại, trong quá trình kinh doanh các Ngân hàng phải thờng xuyên
quan tâm đến mọi vấn đề có liên quan đến sự an toàn của các khoản cho vay,
đầu t thông qua các dấu hiệu có thể nhận biết đợc. Các dấu hiệu đó có thể nhận
biết đợc thông qua thông tin từ phía ngời vay, từ thực tiễn cuộc sống và từ sự
hoạt động của chính bản thân Ngân hàng. Đồng thời căn cứ vào mức độ và biểu
hiện của từng trờng hợp để đề ra các biện pháp ứng xử hợp lý nhất.
Tài chính doanh nghiệp 41B
20
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Ngọc Hà
1.4. Tác hại của rủi ro tín dụng.
1.4.1. Đối với nền kinh tế.
Ngân hàng thơng mại hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ với t
cách là một trung tâm của đời sống kinh tế. Nên có thể nói hoạt động của
Ngân hàng đợc coi là một bức tranh thu nhỏ của nền kinh tế, thông qua nó ta
có thể biết đợc tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và thu nhập
của dân c. Do đó, khi gặp phải những rủi ro thì tất yếu sẽ gây ra những ảnh h-
ởng tiêu cực đối với nền kinh tế và đời sống xã hội. Các Ngân hàng thờng có
quan hệ chặt chẽ với nhau, khi một Ngân hàng gặp rủi ro thì có thể kéo theo
một hệ thống Ngân hàng thơng mại bị khủng hoảng. Điều này sẽ kéo theo tình
trạng mất ổn định trên thị trờng tiền tệ. Nó có thể làm giảm giá trị đồng nội tệ,
đẩy tỷ giá hối đoái lên cao, gây khó khăn cho các nhà doanh nghiệp trong sản
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Ngọc Hà
Vì vậy, để có thể quyết định cho vay đúng đắn, ít rủi ro và thu đợc lợi
nhuận hợp lý, Ngân hàng cần phải phân tích cụ thể, kỹ lỡng các yếu tối hợp
thành khoản cho vay. Trong khi phân tích Ngân hàng cần phải chú ý đến :
năng lực vay nợ (Capacity), uy tín của ngời vay (Chavacter), vốn (Capital), thế
chấp tài sản (Collateral), các điều kiện (condition) theo mô hình 5C.
Khi rủi ro xảy ra ở mức độ thấp, Ngân hàng có thể bù đắp bằng thu
nhập từ các hoạt động khác hoặc bằng vốn tự có của mình, ở mức độ này
Ngân hàng chỉ bị giảm lợi nhuận kinh doanh hoặc tạm thời thua lỗ và khả
năng khắc phục tình trạng này là hoàn toàn có thể. Nhng khi rủi ro xảy ra lớn,
các phơng tiện thông tin đại chúng sẽ nêu lên và làm cho dân chúng thiếu lòng
tin vào Ngân hàng và nh vậy Ngân hàng khó có thể huy động vốn đợc dồi dào.
Các Ngân hàng nớc ngoài vì thế mà xa lánh, không mở đại lý... Thậm chí có
thể dẫn đến phá sản Ngân hàng khi khách hàng ồ ạt kéo đến rút tiền khỏi
Ngân hàng, vốn tự có không đủ bù đắp, Ngân hàng mất khả năng thanh toán.
1.4.3. Đối với doanh nghiệp và những ngời gửi tiền.
Hiện nay các doanh nghiệp hầu hết hoạt động sản xuất kinh doanh
không phải dựa vào vốn tự có của doanh nghiệp mà dựa vào vốn vay của Ngân
hàng là chủ yếu. Có những doanh nghiệp vốn kinh doanh của Ngân hàng
chiếm tới 80% đến 90% trong tổng vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy
khi Ngân hàng gặp rủi ro tín dụng nhiều thì việc cho vay của Ngân hàng cũng
dè dặt hơn, Ngân hàng sẽ không dám cho vay nhiều... Và điều đó có ảnh h-
ởng không tốt đến hoạt động của doanh nghiệp, các nhu cầu về vốn của doanh
nghiệp sẽ không đợc đáp ứng đầy đủ.
Tài chính doanh nghiệp 41B
22
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Ngọc Hà
Còn đối với những ngời gửi tiền thì sao? Ta biết rằng, vốn của Ngân
hàng chủ yếu là vốn đi huy động từ dân c và các tổ chức kinh tế, những ngời
có tiền nhàn rỗi trong một thời gian nào đó cha sử dụng. Nguồn vốn huy động
rủi ro nhất là đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Có thể là một chính
sách mới của nhà nớc khiến cho khách hàng phải giải thể, hoặc những biến
động bất lợi của nền kinh tế (suy thoái, khủng hoảng ) hoặc thiên tai, hoả
hoạn Mặt khác, nếu ngân hàng quá thận trọng trong việc ra quyết định cho
vay, ngân hàng sẽ bị lỡ những cơ hội thu lợi nhuận và khó mà mở rộng đợc quy
mô của ngân hàng. Bởi vậy, dù muốn dù không ngay từ đầu ngân hàng vẫn đòi
hỏi khoản cho vay phải có hai phơng án trả nợ tách biệt. Hiển nhiên phơng án
một là mọi chuyện đều trôi chảy, việc cho vay thành công. Chẳng hạn khi xuất
khẩu, công ty bán đợc hàng và thu đợc tiền, có lãi và trả đợc nợ cho ngân hàng.
Xét trên phơng diện cho vay thì đó là giải pháp hoạt động kinh doanh của công
ty sinh lời dù để họ có thể trả nợ cho ngân hàng. Phơng án thứ hai là dự phòng
trờng hợp nếu dự án không thành công thì doanh nghiệp lấy tài sản của họ để
trả nợ hay đi vay để trả nợ bao gồm cả việc sử dụng công cụ vay nợ trên thị tr-
ờng. Đó chính là những hình thức đảm bảo an toàn tín dụng.
Tóm lại, việc đa ra các giải pháp để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng
nói chung và đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nói riêng là việc làm
cần thiết ở các Ngân hàng và đặc biệt là đối với Ngân hàng cổ phần Hàng hải-
chi nhánh Hà nội. Ngân hàng phải linh hoạt dự báo đợc khả năng xảy ra trong
tơng lai, nắm bắt đợc thông tin thị trờng từ đó đa ra giải pháp kịp thời và phù
hợp để Ngân hàng hoạt động ngày càng hiệu quả, góp phần vào sự phát triển
chung của đất nớc.
Tài chính doanh nghiệp 41B
24
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Ngọc Hà
Chơng 2
Thực trạng rủi ro rín dụng đối với
khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tại
ngân hàng Thơng mại cổ phần hàng hải -
chi nhánh Hà nội
2.1. Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng