Giải pháp mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng đối với KTNQD tại Ngân hàng Công thương Ba đình - Pdf 90

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Trong xu hướng toàn cầu hoá và khu vực hoá đang diễn ra mạnh mẽ ở
hầu hết các quốc gia trên thế giới để đi đến một xã hội phát triển, văn minh và
đoàn kết hữu nghị hơn. Mỗi quốc gia nằm trong dòng chảy đó không còn cách
nào khác là phải có hướng đi riêng phù hợp với đặc thù quốc gia mình với mục
đích phát triển kinh tế đạt kết quả cao mà không ảnh hưởng đến chính trị xã
hội.
Việt Nam đang trong thời kỳ tiếp tục sự nghiệp đổi mới, thực hiện công
cuộc CNH-HĐH đất nước. Với mục tiêu đưa nền kinh tế nước ta từ kinh tế
nông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý
của Nhà nước theo định hướng XHCN. Trong sự đổi mới này khu vực Kinh tế
ngoài quốc doanh (KTNQD) đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy
đưa nền kinh tế đất nước đi lên. KTNQD đã tạo ra của cải vật chất, phân phối
lưu thông và dịch vụ đồng thời tạo ra công ăn việc làm cho lao động, thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế, thu hút được các nguồn lực trong và ngoài nước. Để
KTNQD có thể phát huy được hết tiềm năng của mình nhà nước cần có những
chính sách khuyến khích đầu tư phát triển hợp lý đối với khu vực kinh tế này.
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nước ta đã và đang đứng trước
nhiều thách thức lớn. Điều này đòi hỏi các thành phần kinh tế phải phát huy
hết tiềm năng nội lực của mình.
Trải qua một thời gian dài, vai trò của khu vực KTNQD ngày càng được
đánh giá cao thể hiện qua sự quan tâm của Đảng, Chính phủ và các cơ quan
chức năng có liên quan. Tuy nhiên trong thực tế khu vực KTNQD còn gặp
nhiều khó khăn cần được tháo gỡ như năng lực quản lý, trình độ công nhân
viên, máy móc thiết bị lạc hậu và khó khăn nhất là vấn đề mở rộng và phát
triển sản xuất kinh doanh. Nguyên nhân của sự bất cập trên một phần do các
thành viên trong khu vực KTNQD chưa có đủ uy tín để đặt quan hệ tín dụng
với các tổ chức tín dụng và các chính sách hỗ trợ của của nhà nước còn hạn
chế vì vậy tốc độ phát triển của khu vực này chưa đạt hiệu quả tối ưu.
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính cần phải có những thay

nâng cao chất lượng tín dụng đối với KTNQD tại Ngân hàng Công thương
(NHCT) Ba Đình.
Bố cục của bài gồm 3 chương:
Chương I: Tín dụng ngân hàng đối với kinh tế ngoài quốc doanh
Chương II: Thực trạng hoạt động tín dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh
tại NHCT Ba Đình
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chưong III: Giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao tín dụng đối với kinh tế
ngoài quốc doanh tại NHCT Ba Đình
Chương I:
TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH
1.1. Tổng quan về ngân hàng thương mại và hoạt động tín dụng của ngân
hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm
 Ngân hàng thương mại:
Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ
tài chính đa dạng nhất đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và
thực hiện nhiều chức năng trung gian tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức
kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Ngân hàng bao gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh
tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thương mại
thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về qui mô tài sản, thị phần và số lượng các
ngân hàng.
Ngân hàng thương mại là một tổ chức tín dụng trung gian tài chính quan
trọng nhất. Ngân hàng đóng vai trò là người thủ quỹ cho toàn xã hội. Thu nhập
từ ngân hàng là nguồn thu quan trọng đối với nhiều hộ gia đình. Ngân hàng là
tổ chức cho vay chủ yếu đối với các doanh nghiệp, cá nhân và một phần đối
với nhà nước (Tỉnh, Thành phố). Đối với các doanh nghiệp, ngân hàng thường
là tổ chức cung cấp tín dụng để phục vụ cho việc mua hàng hoá và dịch vụ, họ

họ có nhu cầu bổ sung vốn. Cụ thể, NHTM thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi
trong xã hội thông qua các phương thức huy động vốn khác nhau với những
thời hạn khác nhau nhằm tập trung một lượng vốn để đáp ứng nhu cầu của các
thành phần kinh tế. Chính việc điều chuyển này mà các NHTM có vai trò quan
trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng thêm việc làm, cải thiện
mức sống của dân cư, ổn định thu chi của Chính phủ. Qua đó, NHTM góp
phần quan trọng vào việc điều hòa lưu thông tiền tệ, ổn định sức mua đồng
tiền, kiềm chế lạm phát.
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nhờ việc đi vay để cho vay, NHTM có nguồn thu chủ lực không những
đóng thuế cho Nhà nước mà còn có lãi để duy trì bộ máy hoạt động, đảm bảo
cho sự phát triển không ngừng cho bản thân ngành ngân hàng.
1.1.2.2. Chức năng tạo phương tiện thanh toán.
Trong quá trình kinh doanh tiền tệ các chủ ngân hàng đã phát hành ra
giấy chứng nhận tiền gửi, tín phiếu được khách hàng sử dụng để chi trả các
khoản nợ. Vì vậy vàng được chuyển đổi ra tiền giấy và được các ngân hàng
đưa vào lưu thông qua nghiệp vụ tín dụng để thay thế cho tiền vàng hoặc bạc.
Sáng kiến này được xã hội chấp nhận và đây chính là phát minh có giá trị nhất
trong lịch sử hoạt động tiền tệ. Việc in tiền mang lại lợi nhuận rất lớn, đồng
thời với nhu cầu có đồng tiền quốc gia duy nhất đã dẫn đến việc Nhà nước tập
trung quyền lực phát hành (in) tiền giấy vào một tổ chức duy nhất đó là Bộ Tài
chính hoặc Ngân hàng Trung ương. Từ dó chấm dứt việc các NHTM tạo ra các
giấy bạc của riêng mình.
Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng
nhận thấy nếu họ có được số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể
chi trả để có được hàng hóa và dịch vụ theo yêu cầu. Theo quan điểm hiện đại,
đại lượng tiền tệ bao gồm nhiều bộ phận.
+ Thứ nhất là tiền giấy trong lưu thông
+ Thứ hai là số dư trên tài khoản tiền gửi giao dịch của các khách hàng tại các

thanh toán quốc tế được thành lập đã làm tăng hiệu quả của thanh toán qua
ngân hàng, biến ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán quan trọng và có
hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu.
Do thực hiện chức năng thanh toán, NHTM có điều kiện huy động tiền
gửi của xã hội, trước hết là của các doanh nghiệp tới mức tối đa, tạo nguồn vốn
cho vay, đầu tư và đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Từ những chức năng của NHTM ta thấy chúng có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau, hỗ trợ cho nhau. Khi NHTM là trung gian tín dụng thì NHTM sẽ huy
động vốn bằng nhiều cách khác nhau, có thể huy động từ các tổ chức kinh tế,
huy động vốn từ dân cư thông qua các hình thức tiết kiệm, kỳ phiếu… Qua đó
ngân hàng sẽ tập trung được một lượng vốn nhàn rỗi từ các thành phần kinh tế
khác nhau và khi họ chưa có nhu cầu sử dụng hoặc chưa đến thời hạn thanh
toán. Ngân hàng sẽ sử dụng chúng để cho vay đối với những người có nhu cầu
vay vốn. Khi các bên có nhu cầu chi trả, thanh toán Ngân hàng sẽ đứng ra làm
trung gian thanh toán. Như vậy, giữa các chức năng của ngân hàng có mối
quan hệ mật thiết với nhau. Khi vai trò trung gian thanh toán làm tốt, khách
hàng sẽ tin tưởng vào ngân hàng và sẽ gửi tiền nhiều vào ngân hàng nhờ thanh
toán hộ. Như thế vốn ngân hàng huy động được sẽ tăng lên, ngân hàng có thêm
vốn để đáp ứng nhu cầu đi vay và chức năng trung gian tín dụng của ngân hàng
lại càng phát huy.
Với chức năng trung gian thanh toán và trung gian tín dụng trong nền
kinh tế quốc dân, hệ thống các NHTM đã tăng khối lượng tiền lên gấp bội
thông qua cơ chế thanh toán chuyển khoản. Điều này đã làm cho các chức
năng ngày càng liên hệ chặt chẽ với nhau, ảnh hưởng tới các hoạt động kinh
doanh của ngân hàng.
Tất cả các chức năng trên của NHTM đều đáng lưu tâm. Tuy nhiên, ở
mỗi thời kỳ khác nhau, hoàn cảnh khác nhau của nền kinh tế mà người ta chú
trọng đến một chức năng cơ bản của hệ thống NHTM. Với mục tiêu ổn định

chứng khoán chưa phát triển nên NHTM đóng vai trò là tác nhân quan trọng
trong việc cung ứng vốn. Thông qua hoạt động cho vay, ngân hàng đã tạo ra
khả năng cho vay đối với các doanh nghiệp hoạt động trong mọi lĩnh vực.
Đồng thời, khi thực hiện các nghiệp vụ thanh toán, tư vấn, hỗ trợ cho các hoạt
động sản xuất của các doanh nghiệp đã góp phần đẩy nhanh tốc độ luân
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
chuyển hàng hóa, thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm. NHTM còn đóng vai trò
quan trọng trong việc tài trợ dự án, các chương trình xây dựng cơ bản, tăng
cường cơ sở vật chất kỹ thuật của đất nước và hỗ trợ các chương trình dự án
tạo việc làm cho người lao động, tạo điều kiện nâng cao mức sống của họ.
Nhưng không phải chỉ có những nước chưa có thị trường chứng khoán
hoặc thị trường chứng khoán chưa phát triển mà ngay tại các nước có thị
trường chứng khoán phát triển thì ngân hàng vẫn là một tác nhân quan trọng
trong vấn đề cung cấp vốn vì không phải bất kỳ doanh nghiệp nào cũng đủ
điều kiện để tham gia thị trường chứng khoán. Hơn nữa, thị trường chứng
khoán hoạt động thì NHTM vẫn có vai trò như là một chiếc cầu nối giữa thị
trường tiền tệ và thị trường chứng khoán. Ngoài ra khi thực hiện chức năng
trung gian tín dụng, trung gian thanh toán NHTM còn góp phần giám sát kỷ
luật tài chính quốc gia trong quá trình triển khai các hoạt động tiền tệ – tín
dụng.
1.1.3.2. NHTM là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung
ương.
Chính sách tiền tệ của Ngân hàng TW là một bộ phận quan trọng trong
hệ thống các chính sách kinh tế – tài chính vĩ mô của Chính phủ. Chính sách
tiền tệ là tổng hòa các phương thức mà Ngân hàng TW thông qua các hoạt
động của mình tác động đến khối lượng tiền tệ trong lưu thông nhằm phục vụ
cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước trong từng thời kỳ
nhất định.
Trong nền kinh tế thị trường, mức cung tiền tệ có tác động mạnh mẽ đến

điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng nhân thấy nếu họ có được số dư
trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể chi trả để có được hàng hoá và các
dịch vụ theo yêu cầu. Theo quan điểm hiện đại thì tiền tệ bao gồm nhiều bộ
phận.Thứ nhất là tiền giấy trong lưu thông (M0), thứ hai là số dư trên tài khoản
tiền gửi giao dịch của khách hàng tại ngân hàng, thứ ba tiền gửi trên các tài
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
khoản tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn.Ngân hàng cho vay số dư trên tài
khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tăng lên,khách hàng có thể dùng để
mua hàng và dịch vụ.Do đó bằng việc cho vay hay tạo tín dụng, các ngân hàng
đã tạo ra phương tiện thanh toán ( tham gia tạo ra M1).
Huy động ngân hàng tập chung các nguồn tiền tệ tạm thời nhàn dỗi
trong nền kinh tế dưới các hình thức khác nhau. Các hình thức huy động vốn
hiện có của ngân hàng thương mại bao gồm:
- Nhận tiền gửi:
Người ta gửi tiền vào ngân hàng với nhiều mục đích: Để bảo quản, để sử
dụng dịch vụ chi trả hộ và để có thu nhập... Dựa trên mục đích của người gửi
tiền, tiền gửi được phân chia thành hai dạng cơ bản; Tiền gửi giao dịchvà tiền
gửi phi giao dịch
+
Tiền gửi giao dịch nhằm mục đích để thanh toán, nó gắn liền với hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tiêu dùng của dân cư. Tiền gửi
giao dịch gồm tiền có thể phát séc, uỷ nhiệm htu, uỷ nhiệm chi….
+ Tiền gửi phi giao dịch là tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, tổ chức
tín dụng, tiết kiệm dân cư. Đây là những khoản tiền không thanh toán, tạm
thời nhàn rỗi,hiệu suất sử dụng cao vì nó tương đối ổn định nhưng lãi suất cao
hơn tiền gửi giao dịch .
Ngân hàng đã huy động vốn thông qua việc phát hành kỳ phiếu, chứng
chỉ tiền gửi.
Nguồn vay mượn ngân hàng TW hoặc các ngân hàng khác nhằm bù đắp

doanh, bên cạnh những chủ thể thiếu vốn thì trong nền kinh tế cũng có những
chủ thể lại thừa vốn đang tìm kiếm cơ hội để đầu tư, lúc này có một tổ chức ra
đời làm cầu nối giữa người thừa vốn và người thiếu vốn nhằm mang lại lợi ích
cho cả hai bên cũng như cho xã hội đó chính là tổ chức ngân hàng. Thông qua
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hoạt động ngân hàng vốn sẽ được chuyển từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn, và
ngân hàng là người trả công, với vai trò là người dẫn vốn bằng phân tích chênh
lệch giữa lãi suất đi vay và lãi suất cho vay, đây là nghiệp vụ truyền thống của
ngân hàng, trong đó phần mang lợi nhuận cho ngân hàng chủ yếu là lợi nhuận
từ việc cho vay, hay nói cách khác đó là từ hoạt động tín dụng ngân hàng mang
lại. Đây được coi là nghiệp vụ quan trọng nhất của ngân hàng, chỉ khi nào ngân
hàng thực hiện tốt công việc này thì ngân hàng mới có thể phát triển và tồn tại
được. Theo định nghĩa chung thì tín dụng là quan hệ vay mượn bao gồm cả
cho vay và đi vay. Tuy nhiên khi gắn với chủ thể là ngân hàng thương mại thì
tín dụng chỉ mang ý nghĩa là hoạt động cho vay của NHTM.Còn theo quan
điểm của Các Mác thì tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị
từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian thu hồi được một
lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu, theo quan điểm này thì tín dụng có
đặc trưng cơ bản là tính thời hạn, tính hoàn trả và lòng tin .
Theo quan điểm của nhà kinh tế học hiện đại thì tín dụng là quan hệ giữa
người đi vay và người cho vay, giữa họ có mối quan hệ với nhau thông qua sự
vận động của vốn tín dụng được thể hiện dưới hình thái tiền tệ hoẵc hàng hoá.
Qua đây ta thấy rằng quan hệ tín dụng chỉ dựa vào lòng tin, chỉ trên cơ sở lòng
tin thì quan hệ tín dụng mới được thực hiện, và họ cũng cho rằng tín dung
mang tính tạm thời, hoàn trả cả gốc và lãi.
Điều 49: “Tổ chức tín dụng đựoc cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân dưới
hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh và
các hình thức giấy tờ có giá khác theo quy định của Ngân hàng Nhà Nước”
Cùng với tốc độ phát triển của thị trường với trình độ khoa học ngày

trái quyền. Tuy nhiên đối với Ngân hàng việc bỏ tiền ra hiện tại để thu về một
khoản lớn hơn trong tương lai với lãi xuất xác định trước được coi như là hoạt
động tín dụng.
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
+ Bảo lãnh: Là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính
hộ khách hàng của mình.Mặc dù không phải xuất tiền ra,xong ngân hàng đã
cho khách hàng sử dụng uy tín của mình để thu lợi.
+ Cho thuê: Là việc ngân hàng bỏ tiền ra mua tài sản để cho khách hàng
thuê theo những thoả thuận. Sau một thời gian nhất định khách hàng phải trả
cả gốc lẫn lãi cho ngân hàng.
+ Cho vay: Là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết
khách hàng phải trả cả gốc lẫn lãi trong một khoảng thời gian xác định
1.2.2.3. Phân loại theo rủi ro tín dụng
Để phân loại theo tiêu thức này, ngân hàng phải nghiên cứu các mức độ,
các căn cứ để phân chia loại rủi ro. Một số ngân hàng lớn chia tới mười thang
bậc rủi ro theo các dấu hiệu từ thấp đến cao cho các khoản mục tài sản. Cách
phân loại này giúp ngân hàng thường xuyên đánh giá lại tính an toàn của các
khoản tín dụng, trích lập dự phòng tổn thất kịp thời.
- Tín dụng theo cách phân loại này bao gồm:
+ Tín dụng lành mạnh: Các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao
+ Tín dụng có vấn đề: Các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnh
như khách hàng chậm tiêu thụ, tiến độ thực hiện kế hoạch chậm, khách hàng
gặp thiên tai, khách hàng chì hoãn nộp báo cáo tài chính.
+ Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: Các khoản nợ đã quá hạn với thời
hạn ngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo giá trị lớn.
+ Nợ quá hạn khó đòi: Nợ quá hạn quá lâu, khả năng trả nợ rất kém, tài
sản thế chấp nhỏ hoặc bị giảm giá, khách hàng chây ì.
1.2.2.4. Phân loại theo phương pháp cho vay
+ Tín dụng trực tiếp: Là loại tín dụng mà người vay trực tiếp nhận tiền vay và

hàng phải ký hợp đồng đảm bảo. Ngân hàng phải kiểm tra đánh giá được tình
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trạng của tài sản đảm bảo, có khả năng giám sát việc sử dụng hoặc khả năng
bảo quản tài sản đảm bảo.
1.2.2.8. Phân loại khác
+ Theo ngành kinh tế (công, nông nghiệp)
+ Theo đối tượng tín dụng (tài sản lưu động, tài sản cố định )
+ Theo mục đích (sản xuất, tiêu dùng)
Cách phân loại này cho thấy tính chất đa dạng hoặc chuyên môn trong
cấp tín dụng của ngân hàng. Với xu hướng đa dạng các ngân hàng sẽ mở rộng
phạm vi tài trợ song vẫn có thể duy trì những lĩnh vực mà ngân hàng có lợi thế.
1.3. Kinh tế ngoài quốc doanh trong nền kinh tế thị trường
1.3.1. Kinh tế ngoài quốc doanh và xu hướng phát triển của nó trong nền
kinh tế thị trường
1.3.1.1. Khái niệm kinh tế ngoài quốc doanh
Trong xu thế phát triển của thế giới ngày càng mạnh mẽ thì việc đổi mới
cơ cấu kinh tế là một trong những biện pháp sử dụng nhiều nhất của các quốc
gia, Việt nam cũng không là ngoại lệ
Ngay từ đại hội đảng toàn quốc lần thứ VI đã khẳng định đường lối
chính cho sự phát triển kinh tế, cụ thể là phát triển kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của nhà nước
theo định hướng XHCN .
Tuỳ những quốc gia khác nhau số lượng thành phần kinh tế khác nhau
nhưng tựu chung lại chúng đều thuộc một trong hai khu vực kinh tế đó là kinh
tế nhà nước hay còn gọi ( kinh tế quốc doanh).Và khu vực kinh tế phi nhà
nước ( khu vực kinh tế ngoài quốc doanh )
Hai khu vực kinh tế này được phân chia dựa trên hai hình thức sở hữu :
Sở hữu nhà nước và sở hữu phi nhà nước.
+ Trong sở hữu nhà nước thì sở hữu tư nhân và sở hữu tập thể chiếm đa

hơn mức vốn pháp định, do một cá nhân làm chủ tự chịu trách nhiệm bằng
toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Bên cạnh các thành phần kinh tế cơ bản cũng có một hình thức kinh tế
song song cùng tồn tại, đó là hình thức liên doanh liên kết giữa các chủ thể
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
kinh tế trong nước cũng như với nước ngoài. Như vậy bên cạnh vai trò chủ đạo
của kinh tế quốc doanh thì kinh tế ngoài quốc doanh đã được đảng và nhà nước
công nhận và tạo điều kiện phát triển với nhiều hình thức hoạt động khác
nhau.Kinh tế ngoài quốc doanh đã và đang huy động tối đa mọi nguồn lực
trong xã hội phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế việt nam
1.3.1.2. Đặc điểm kinh tế ngoài quốc doanh
Một trong những thành tựu hết sức quan trọng của khu vực KTNQD đó
là khu vực này hoạt động hầu hết trong các lĩnh vực của kinh tế chỉ trừ một số
lĩnh vực độc quyền đó là an ninh quốc phòng, quản lý nhà nước
Hầu hết các chủ thể trong khu vực KTNQD tham gia vào các nghành
nông lâm thuỷ sản và các ngành cung cấp dịch vụ, một số tham gia vào lĩnh
vực khoa học, công nghệ giáo dục, hiện nay khu vực này tập chung nhiều vào
lĩnh vực thông tin vì nó hứa hẹn sẽ mang lại lợi nhuận cao hơn. Khu vực này
hiện đang cung cấp 50% GDP trong các nghành nghề,và tỷ trọng này ngày
càng gia tăng và có xu hường ngày càng phát triển mạnh và có hiệu quả. Trong
qua trình phát triển kinh tế ngoài quốc doanh có những đặc điểm như sau
+ Xét theo loại hình kinh tế, KTNQD hoạt động dưói nhiều hình thức
khác nhau, rất đa dạng và phong phú như kinh tế cá thể, kinh tế tiểu chủ, kinh
tế hợp tác xã, kinh tế tư bản tư nhân và hình thức liên doanh liên kết.Các hình
thức này vừa mang đặc điểm chung của thành phần KTNQD nhưng đồng thời
nó cũng mang những đặc điểm riêng, đặc điểm này do lịch sử phát triển của
từng loại hình kinh tế ở nước ta quyết định, hơn nữa với mỗi hình thức tồn tại
khác nhau sẽ có những điều kiện,yêu cầu đòi hỏi khác nhau về vốn tín dụng
ngân hàng.Vì thế khi xây dựng chính sách tín dụng, chính sách lãi xuất,chính

Qua sự thống kê của viện nghiên cứu kinh tế đã cho thấy trình độ sản
xuất của các doanh nghiệp là còn đang thấp, công nghệ lạc hậu làm cho các
sản phẩm kém sức cạnh tranh và đã gây khó khăn cho khu vực kinh tế này
trong việc mở rộng thị phần.
Chính vì vậy đổi mới công nghệ nhằm sản xuất được những hàng hoá có
tính cạnh tranh cao đang là nhu cầu càn thiết của KTNQ, để đạt được yêu cầu
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
như mong muốn, tự bản thân các doanh nghiệp phải xoay sở, phải nâng cao
nguồn tài chính cho mình,có những đề án sản xuất kinh doanh hiệu quả nhằm
thu hút vốn đầu tư có như vậy khu vực KTNQD mới có thể cạnh tranh đứng
vững trên thị trường, do vậy để khắc phục những hạn chế về vốn, công nghệ
khu vực KTNQD rất cần sự hỗ trợ của các NHTM,vì vậy NHTM cần phải nắm
được những khó khăn của khu vực kinh tế này để mở rộng tín dụng kịp thời.
Tuy nhiên cũng thấy rằng đặc điểm này có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng
tín dụng mà ngân hàng cung cấp,nếu ngân hàng cho vay mà không trọng tâm
thì không những tháo gỡ được khó khăn mà còn có thể gây ra ảnh hưởng rất
sấu đến khu vực kinh tế này và cả chất lượng tín dụng của ngân hàng. Do vậy,
cùng với việc mở rộng tín dụng thì các ngân hàng cũng cần phải nâng cao chất
lượng tín dụng đối với KTNQD.Bên cạnh khả năng tài chính cò hạn hẹp thì đội
ngũ lao động khu vực KTNQD cũng là vấn đề cần quan tâm bởi số lượng và
chât lượng lao động còn ít và kém,doanh nghiệp có lao động dưới 10 người
vào khoảng 48% tổng số các doanh nghiệp, doanh nghiệp có từ 10- 50 người
chiếm khoảng 37%, từ 50-200 người khoảng 9% còn lại là doanh nghiệp có số
lao động 200 người trở lên. Đội ngũ lao động khu vực KTNQD nói riêng và
trong toàn bộ nền kinh tế nói chung đều có kỹ năng và tay nghề còn thấp chưa
đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp.
Mặc dù còn nhiều hạn chế nhưng trong thời gian vừa qua khu vực
KTNQD cũng đã đóng góp rất nhiều cho nền kinh tế. Chúng ta phải thừa nhận
rằng do tính đa dạng về hình thức tồn tại nên hoạt động của khu vực KTNQD

để làm được điều đó thì khu vực kinh tế này cần sự hỗ trợ rất lớn của các
NHTM
1.3.1.3. Vai trò của khu vực KTNQD
Việc thực hiện cơ chế thị trường đã làm cho nền kinh tế nước ta trở nên
sôi động hơn, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định, Việt nam đã trở thành
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới,là môi
trường hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư.Chính vì vậy KTNQD đóng vai trò
không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường.
Khu vực KTNQD góp phần tối đa hoá nguồn lực của đất nước,tạo việc
làm thu hút lao động,giảm tỷ lệ thất nghiệp đóng góp vào sự tăng trưởng kinh
tế của đất nước,tăng thu cho ngân sách nhà nước chính nhờ đó mà hiện tại khu
vực này đóng góp khoảng hơn 40% GDP của toàn bộ nền kinh tế .Trong khi đó
số việc làm mới tại khu vực kinh tế nhà nươc lại tăng không đáng kể .Bên cạnh
việc giải quyết việc làm cho dân cư thì khu vưc KTNQD sẽ thúc đẩy mọi thành
viên trong nền kinh tế bỏ sức bỏ vốn, năng động trong việc khai thác mọi
nguồn lực làm ra của cải đáp ứng nhu cầu xã hội. Việc phát triển kinh tế khu
vực KTNQD góp phần nâng cao chất lượng lực lượng lao động trong xã
hội,nâng cao trình độ hiểu biết của người lao động.
Ngoài việc đóng góp trên thì việc phát triển khu vực KTNQD cũng đã
hoàn thiện hơn cho bộ máy quản lý nhà nước và làm đồng bộ hơn hệ thống văn
bản pháp luật. Sự phát triển của KTNQD có tác dụng tạo ra môi trường cạnh
tranh lành mạnh giữa kinh tế nhà nước với KTNQD.
Trên đây là những vai trò quan trọng mà khu vực KTNQD mang lại cho
nền kinh tế cũng như cho xã hội, với sự phát triển như hiện nay thì trong tương
lai không xa khu vực này sẽ mang lại nhiều kết quả tốt đẹp hơn.
1.3.1.4. Những vấn đề về vốn đối với sự phát triển khu vực KTNQD
Đây là những vấn đề nan giải của khu vực KTNQD bởi khả năng huy
động vốn tự do của khu vực này còn hạn chế rất nhiều. Bất kỳ một doanh

- Tín dụng Ngân hàng là đòn bẩy kinh tế hỗ trợ sự ra đời và phát triển
KTNQD.Ngày nay trong nền kinh tế thị trường bất cứ một chủ thể nào khi
muốn đầu tư đều nghĩ đến mục đích sinh lời, chính vì vậy những người có vốn
nhàn rỗi họ săn sàng cho vay để kiếm lời và những người thiếu vốn thì sẵn
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
sàng vay để đầu tư mở rộng sản xuất, với tư cách là trung gian dẫn vốn ngân
hàng đã giải quyết mâu thuẫn đó.
- Tín dụng ngân hàng tác động điều tiết sự di chuyển vốn đầu tư làm
bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận, thúc đẩy sự phát triển của khu vực KTNQD
- Tín dụng ngân hàng luôn chuyển hướng đầu tư vào doanh nghiệp có tỷ
suất lợi nhuận cao, hạn chế và không đầu tư vào doanh nghiệp có tỷ suất lợi
nhuận thấp.
Qua đây thấy rằng tín dụng ngân hàng làm thay đổi cung cầu hàng hoá
và làm thay đổi cơ cấu nghành nghề kinh tế.
- Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện trong việc tiếp cận vốn nứoc ngoài:
bên cạnh việc kích thích các tổ chức kinh tế và cá nhân trong nước thực hiện
tiết kiệm, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập chung vốn tiền tệ, tín dụng ngân
hàng còn thu hút nguồn vốn nước ngoài dưới nhiều hình thức như trực tiếp cho
vay bằng tiển, bảo lãnh cho các doanh nghiệp khi mua thiết bị trả chậm, tạo
điều kiện kinh doanh cho các nhà kinh tế đặc biệt trong lĩnh vực xuất nhập
khẩu
- Tín dụng Ngân hàng thúc đẩy các doanh nghiệp NQD hoạt động kinh
doanh và đầu tư có hiệu quả: Để tiếp cận tín dụng ngân hàng một cách dễ dàng
trước hết doanh nghiệp phải nỗ lực kinh doanh có hiệu quả .
Khi cấp tín dụng một dự án thì trước đó quá trình thẩm định khắt khe
của ngân hàng thấy được tính hiệu quả khả thi của nó, chính tín dụng đã có khả
năng loại trừ các dự án không khả thi, điều này góp phần nâng cao hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp.
- Tín dụng ngân hàng góp phần tăng nguồn vốn nâng cao khả năng cạnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status