Lời nói đầu
I. Tính cấp thiết của đề tài:
Những năm qua, đất nớc ta đã và đang trong quá trình thực hiện sự
nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Nền kinh tế nớc ta phát triển theo hớng
đa thành phần, môi trờng pháp lý đợc mở rộng tạo điều kiện cho thành phần
kinh tế ngoài quốc doanh phát triển. Chính vì vậy, sau hơn 10 năm đổi mới,
cùng với khu vực kinh tế quốc doanh, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã có
bớc phát triển nhanh chóng và ngày càng khẳng định rõ vị trí và vai trò của
mình trong nền kinh tế.
Tuy nhiên nhìn một cách toàn diện thì khu vực kinh tế ngoài quốc
doanh chủ yếu là sản xuất nhỏ, cha phát triển mạnh, cha tơng xứng với tiềm
năng. Sự tăng trởng cũng nh khối lợng sản phẩm cha tơng xứng với khả năng
mà khu vực kinh tế năng động này có thể đạt đợc.
Bên cạnh đó, nhu cầu đầu t, nhất là đầu t đổi mới máy móc thiết bị, thay
đổi qui trình sản xuất và công nghệ là vấn đề cấp thiết đối với nền kinh tế, đặc
biệt đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.
Chính vì vậy để giải quyết các vấn đề này cần có sự hỗ trợ từ phía Nhà
nớc và Ngân hàng thơng mại. Thông qua nghiệp vụ tín dụng, ngân hàng thơng
mại đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với khu vực này trong việc phát
triển công nghệ, tăng cờng vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh, hiện đại
hoá máy móc, nâng cao hiệu quả sản xuất, phục vụ cho quá trình CNH - HĐH.
Ngân hàng Công thơng Hà Tây là một trong ba ngân hàng thơng mại
hoạt động trên địa bàn. Hoạt động của Ngân hàng Công thơng Hà Tây góp
phần phát triển kinh tế địa phơng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng CNH -
HĐH. Tuy nhiên, hoạt động cho vay đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
của Ngân hàng công thơng Hà Tây còn nhiều vấn đề vớng mắc. Do vậy, việc
đánh giá những kết quả đạt đợc, tìm ra nguyên nhân, các giải pháp khắc phục
là vấn đề cần thiết trong tình hình hiện nay.
Bởi vậy, sau một thời gian thực tập tại Ngân hàng Công thơng Hà Tây,
vấn đề "Mở rộng và nâng cao hiệu quả cho vay đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh tại Chi nhánh Ngân hàng Công thơng Hà Tây" đã đợc tôi chọn
vực kinh tế ngoài quốc doanh tại NHCT Hà Tây.2
chơng I
tín dụng ngân hàng đối với khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh
I. Đặc điểm và vai trò của kinh tế ngoài quốc doanh.
1. Đặc điểm của thành phần kinh tế ngoài quốc doanh.
Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là một trong hai khu vực kinh tế lớn
của nền kinh tế. Nó góp phần không nhỏ vào sự tăng trởng và phát triển của
nền kinh tế. Chính vì vậy để nghiên cứu vấn đề tín dụng ngân hàng đối với khu
vực kinh tế ngoài quốc doanh, chúng ta cần xem xét những đặc điểm của khu
vực kinh tế này.
Thứ nhất: Các thành phần kinh tế thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc
doanh có tính t hữu cao. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các thành phần
kinh tế này gắn liền với quyền lợi, lợi ích cá nhân của ngời sản xuất. Chính vì
đặc điểm này mà họ luôn tập trung tối đa sức lực, tài sản, trí tuệ... để có thể đạt
đợc lợi nhuận cao nhất.
Thứ hai: Các thành phần kinh tế thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc
doanh không có yếu tố sở hữu của Nhà nớc, nghĩa là ngời chủ sở hữu có toàn
quyền lựa chọn và quyết định những vấn đề liên quan đến quá trình kinh
doanh của mình (theo pháp luật) và tự chịu trách nhiệm về những quyết định
đó. Các thành phần kinh tế này bên cạnh nguồn vốn sẵn có, nếu họ muốn tồn
tại và phát triển đợc trong cơ chế thị trờng thì họ phải tự tìm kiếm các nguồn
vốn khác để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất của mình. Hơn nữa đại đa số các
chủ thể kinh tế thuộc thành phần này khi tiến hành sản xuất kinh doanh đều
nhằm mục tiêu cuối cùng là tìm kiếm lợi nhuận. Họ luôn mong muốn đạt đợc
mục tiêu này bằng bất kỳ giá nào, bằng mọi thủ đoạn trong sản xuất kinh
doanh. Xuất phát từ đặc điểm này mà thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có
xã hội thì đòi hỏi Nhà nớc phải có một chính sách và tạo một môi trờng thuận
lợi cho khu vực kinh tế này phát triển.
2. Vai trò của kinh tế ngoài quốc doanh.
Sự ra đời của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là một bớc ngoặt quan
trọng trong quá trình phát triển kinh tế, nó tạo ra một môi trờng kinh tế năng
động hơn, làm việc có tính công nghiệp hơn. Vì thế mỗi con ngời đều có thể
phát huy năng lực của mình và phải vơn lên để tồn tại, tự khẳng định mình
trong cơ chế kinh tế mới. Đây là một động lực lớn thúc đẩy xã hội phát triển
trên cơ sở pháp lý của các mối quan hệ kinh tế bình đăng tự chủ, tìm tòi các
nguồn lực để mục đích mang lại quyền lợi lớn cho mình. Do vậy có thể khăng
định sự tồn tại của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là tất yếu khách quan,
phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế và phù hợp với nhu cầu của con
4
ngời. Có thể nói kinh tế ngoài quốc doanh giữa một vai trò hết sức quan trọng
trong nền kinh tế :
Một là: Kinh tế ngoài quốc doanh góp phần tập trung vốn của xã hội
tạo cơ sở vật chất ban đầu cho nền kinh tế chuyển từ kinh tế tự nhiên sang kinh
tế hàng hoá, thực hiện thành công sự nghiệp CNH-HĐH theo chủ ở trơng của
Đảng và Nhà nớc.
Nền kinh tế nớc ta vốn là nền kinh tế nông nghiệp nhỏ bé, lạc hậu, cơ sở
vật chất ban đầu lại yếu kém. Muốn đổi mới và phát triển toàn diện thì cần
phải có vốn. Trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, kinh tế ngoài quốc doanh
không đợc chú trọng, số liệu thống kê về đầu t của khu vực kinh tế t nhân, hợp
tác xã và gia đình nhìn chung là rất nhỏ bé. Từ khi chuyển đổi cơ cấu kinh tế,
nhất là chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, quy mô đầu t của khu
vực kinh tế ngoài quốc doanh tăng mạnh, đóng góp một phần nguồn vốn đầu t
cho nền kinh tế.
Hơn nữa thành phần kinh tế ngoài quốc doanh tuy chiếm tỷ lệ nhỏ nhng
rất năng động nên dễ dàng đón đầu và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ
vùng một cách thuận lợi. Trong lĩnh vực thơng nghiệp và dịch vụ thì khu vực
kinh tế ngoài quốc doanh đóng góp 90%.
Trong những năm qua kinh tế ngoài quốc doanh không chỉ đáp ứng
ngày một nhiều hơn nhu cầu tiêu dùng trong nớc, góp phần tạo thế cân đối quỹ
hàng hoá trong các địa phơng, trong cả nớc mà còn là nguồn lực chính tạo ra
sản phẩm xuất khẩu, tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nớc. Hiện nay kim ngạch
xuất khẩu ở nớc ta chiếm tỷ trọng khá cao trong GDP. Với chiến lợc từ nay
đến năm 2010 dự báo kim ngạch xuất khẩu còn tăng nhng trớc mắt để tăng
xuất khẩu chủ yếu chúng ta vẫn cần thiết khai thác mọi tiềm năng về nông
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, tài nguyên khoáng sản và dịch vụ, mà chủ thể
quan trọng nhất để thực hiện quá trình này là các thành phần kinh tế ngoài
quốc doanh.
Bốn là: Kinh tế ngoài quốc doanh tăng cờng thu cho Ngân sách Nhà n-
ớc. Thuế là nguồn thu chính của Ngân sách Nhà nớc, nguồn thu này đợc dùng
để đầu t vào các ngành kinh tế mũi nhọn hoặc xây dựng cơ sở hạ tầng, hoặc
giúp đỡ, hỗ trợ một số ngành yếu kém. Hàng năm tỷ trọng của các khoản thuế
thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng thu
Ngân sách Nhà nớc.
Trong điều kiện xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của mọi ngời về
sinh hoạt tăng lên, trình độ dân trí cũng đợc nâng cao, mà mục đích cuối cùng
của các thành phần kinh tế này là thoả mãn nhu cầu của con ngời, phục vụ lợi
ích cho con ngời, kiếm đợc lợi nhuận tối đa. Do vậy mà mọi hoạt động sản
xuất kinh doanh đều đợc mở rộng và phát triển dẫn đến khả năng đóng góp
của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh cho Ngân sách Nhà nớc sẽ ngày một
6
tăng. Hiện nay khu vực này đóng góp vào nguồn thu cho Ngân sách nhà nớc
khoảng 50%. Từ đó góp phần giảm bớt sự mất cân đối trong thu chi Ngân sách
Nhà nớc, tạo điều kiện cho Nhà nớc có vốn để đầu t hơn nữa vào sản xuất cũng
nh các công trình phúc lợi, nâng cao đời sống của các tổ chức dân c, phát huy
7
trong nền kinh tế. Nó tồn tại và phát triển tốt là dựa trên những điều kiện khá
thuận lợi nh: cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nớc...Nhà nớc cũng luôn cố
gắng tạo ra một môi trờng pháp lý bình đăng tự chủ trong kinh doanh để các
doanh nghiệp có điều kiện vơn lên. Tuy nhiên, các thành phần kinh tế ngoài
quốc doanh cũng phải đơng đầu với những khó khăn rất lớn là các thành phần
kinh tế này mới đợc hình thành và phát triển nên cơ sở vật chất kỹ thuật còn
nghèo nàn lạc hậu, quy mô còn nhỏ, hành lang pháp lý còn cha hoàn thiện.
Hơn nữa trình độ quản lý tổ chức của các thành viên trong khu vực này còn
cha cao. Do vậy, để có thể đứng vững và phát huy đợc vai trò của mình, kinh
tế ngoài quốc doanh cần có sự hỗ trợ từ phía Nhà nớc về nhiều mặt nh cơ chế
chính sách, thuế, công nghệ ...đặc biệt là vốn và pháp luật. Nhìn chung tình
trạnh phổ biến ở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là thiếu vốn sản xuất kinh
doanh do vốn tự có còn quá nhỏ bé, họ phải tự tìm kiếm các nguồn vốn từ bên
ngoài với một chi phí lớn và không ổn định. Nguồn vốn chính mà kinh tế
ngoài quốc doanh nên tiếp cận là nguồn vay từ Ngân hàng.
II. Vai trò tín dụng của ngân hàng đối với kinh tế ngoài quốc
doanh.
1. Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng.
1.1. Sự ra đời của ngân hàng th ơng mại.
Ngân hàng thơng mại là một trong những ngành công nghiệp lâu đời
nhất thế giới, nó đợc thành lập đầu tiên vào năm 1782 tại Hoa Kỳ.
Do sự biến động của nền kinh tế, trong xã hội xuất hiện tầng lớp có của
ăn của để, mà họ cần có một nơi gửi tiền an toàn. Đáp ứng đợc nhu cầu của
tầng lớp dân c này, những ngời thợ kim hoàn đã nghĩ ra một công việc mới vì
vậy ngân hàng sơ khai ra đời. Giai đoạn đầu, ngời chủ chỉ nhận giữ tiền vàng
và họ đợc hởng một khoản tiền gọi là chi phí giữ tiền hộ. Nhng trong quá trình
nhận giữ tiền nh vậy họ nhận ra rằng không chỉ có những ngời có tiền cần gửi
mà còn có nhiều ngời cần vay tiền. Do vậy họ đã thay đổi cách kinh doanh của
kinh tế thị trờng.
1.2. Các nghiệp vụ chủ yếu của Ngân hàng th ơng mại.
Ngân hàng thơng mại là một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực
tiền tệ. Vì vậy các nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thơng mại:
* Nghiệp vụ huy động vốn: Huy động vốn là việc Ngân hàng tập trung
các nguồn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong xã hội dới các hình thức khác nhau.
Các hình thức huy động vốn bao gồm:
- Vốn tiền gửi: Là số tiền khách hàng gửi Ngân hàng dới các hình thức
khác nhau.
+ Tiền gửi của các tổ chức kinh tế: gồm các khoản tiền gửi vào Ngân
hàng có thời hạn và không có thời hạn.
9
Tiền gửi không kỳ hạn là số tiền mà ngời gửi có thể gửi vào và rút ra
một cách linh hoạt không có cam kết trớc về kỳ hạn. Nhng cần phải phân biệt
tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi tạm thời. Tiền gửi tạm thời là số tiền gửi
"qua đêm hay trong một ngày". Loại tiền gửi không kỳ hạn thờng đợc tính lãi
suất rất thấp. Đặc trng của nguồn vốn này là biến động thờng xuyên và đây là
nguồn vốn quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi có nguyên tắc, ngời gửi chỉ đợc rút ra
khi đến kỳ hạn thanh toán đã thoả thuận (trừ trờng hợp đặc biệt). Đây là nguồn
vốn tơng đối ổn định, phù hợp với yêu cầu cho vay có kỳ hạn của Ngân hàng
thơng mại.
+Tiền gửi dân c: Gồm tiền gửi tiết kiệm (có kỳ hạn, không kỳ hạn).
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi: Trái phiếu Ngân hàng, kỳ phiếu, chứng
từ có giá là nguồn vốn Ngân hàng nhận đợc bằng việc phát hành các chứng chỉ
tiền gửi.
Vay Ngân hàng Trung ơng hoặc các Ngân hàng khác: Đây là khoản vốn
Ngân hàng tìm kiếm trên thị trờng liên Ngân hàng từ Ngân hàng Trung ơng
hoặc các tổ chức tín dụng khác. Họ có thể vay bằng tiền hoặc bằng cách thuê
chơng trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, mở mang ngành nghề sản xuất
kinh doanh cũng nh xây dựng cơ bản. Đây là việc ngân hàng thơng mại hỗ trợ
các khách hàng có đủ nguồn lực tài chính để thực hiện các dự án có thời gian
thu hồi vốn trên 12 tháng. Cho vay trung hạn thờng từ 2 đến 5 năm, còn cho
vay dài hạn khoảng trên 5 năm.
Đối với mỗi khách hàng, Ngân hàng có thể sử dụng những phơng thức
cho vay khác nhau, chẳng hạn nh:
+ Cho vay dự án đầu t là một dạng cho vay trung và dài hạn chủ yếu
nhất của các ngân hàng thơng mại. Đây là loại tín dụng trung và dài hạn mà
Ngân hàng thực hiện nhằm tài trợ vốn cho khách hàng thực hiện các dự án đầu
t trong đó có hai loại cho vay đối với dự án phát triển sản xuất theo chiều sâu,
đầu t xây dựng cơ bản mới.
+ Đồng tài trợ dự án đầu t. Đối với các dự án đầu t xin vay cỡ vừa và
lớn, đôi khi vợt quá khả năng tài trợ của một NHTM, mặt khác để phân tán rủi
ro thì các NHTM cùng cho vay một dự án. Đồng tài trợ đợc áp dụng trong
những trờng hợp sau:
Nhu cầu vay vốn để thực hiện dự án vợt giới hạn tối đa cho phép
cho vay của một ngân hàng thơng mại.
Nhu cầu phân tán rủi ro của các NHTM.
Khả năng nguồn vốn của một NHTM không đấp ứng đợc nhu cầu
vốn của dự án.
+ Cho thuê tài chính do các NHTM hoặc do các công ty cho thuê tài
chính trực thuộc chúng thực hiện. Cho thuê tài chính là nghiệp vụ cho vay
11
trung và dài hạn nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp, trớc hết là các doanh nghiệp
vừa và nhỏ có cơ hội sử dụng máy móc thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh
của họ trong khi họ cha đủ tài lực mua sắm chúng ngay một lúc. Tín dụng thuê
mua là hình thức tín dụng trong đó Ngân hàng (ngời cho thuê) chuyển giao tài
sản cho ngời thuê sử dụng trong một thời gian nhất định, đổi lại ngời thuê phải
12
Đây là một số nghiệp vụ kinh doanh cơ bản của hệ thống Ngân hàng th-
ơng mại hiện nay. Có thể nói nó chỉ phát triển đầy đủ trong điều kiện của một
nền kinh tế thị trờng phát triển. Hiệu quả hoạt động của các nghiệp vụ này
quyết định hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng.
2. Vai trò tín dụng của Ngân hàng thơng mại đối với sự phát triển
kinh tế ngoài quốc doanh
2.1. Tín dụng Ngân hàng
Tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại và phát triển qua nhiều hình
thái kinh tế xã hội khác nhau. Cho đến nay cha có sự thống nhất trong việc đa
ra một khái niệm đầy đủ về tín dụng.
Tuỳ theo cách tiếp cận, tuỳ theo mức độ quan tâm của từng đối tợng mà
có cách hiểu khác nhau về tín dụng. Chẳng hạn theo quan niệm truyền thống
ngời ta coi tín dụng là một ngành kinh tế trong đó một ngời là tổ chức kinh tế
chuyển cho ngời khác (hoặc tổ chức khác) quyền sử dụng một lợng giá trị
hoặc vật giá trị nào đó với điều kiện đợc hai bên thoả thuận trớc. Còn đứng
trên phơng diện nghiệp vụ thì tín dụng đợc coi là một hoạt động mà trong đó
một ngời đa vốn (hoặc hứa đa vốn) cho ngời khác sử dụng (hoặc cam kết bằng
chữ ký cho ngời này) nhng có sự bảo đảm, bảo chứng hay bảo lãnh có thu
tiền....
Dù đứng trên phơng diện nào thì chúng ta đều hiểu tín dụng là phạm trù
kinh tế, phản ánh quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau qua các tác nhân và thể nhân
trong nền kinh tế hàng hoá.
Quan hệ tín dụng phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp,
tuỳ theo từng thời kỳ phát triển kinh tế xã hội. Qua mỗi thời kỳ lại có những
quan hệ tín dụng phù hợp với nó và ngày càng đa dạng hoá.
Cùng với sự phát triển kinh tế hàng hoá, nhu cầu vốn của xã hội ngày
càng tăng thì tín dụng Ngân hàng đã ra đời. Tín dụng Ngân hàng là quan hệ tín
dụng một bên là Ngân hàng còn bên kia là các tác nhân và thể nhân trong nền
kinh tế.
đối với sự vận động và phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội.
Nhng vốn tín dụng ngân hàng không phải là nguồn vốn duy nhất cho
sản xuất kinh doanh. Có thể nói tín dụng ngân hàng có thể đáp ứng đợc nhu
cầu vốn tín dụng cả về khối lợng, cả về thời hạn và nó có thể mở rộng phạm vi
hoạt động sang các ngành nghề khác nhau. Mặc dù vậy tín dụng ngân hàng có
độ rủi ro tơng đối cao. Do đó các ngân hàng dễ bị mất vốn. Hiệu quả hoạt
động kém khi xảy ra rủi ro.
2.2. Vai trò tín dụng Ngân hàng đối với sự phát triển của khu vực
kinh tế ngoài quốc doanh.
14
Với chức năng là trung gian tín dụng của nền kinh tế, các Ngân hàng th-
ơng mại thực hiện tập trung huy động vốn tạm thời nhàn dỗi trong xã hội và
phân phối lại dới hình thức cho vay. Từ đó giúp cho các đơn vị có đủ vốn để
duy trì quá trình sản xuất đợc liên tục, thúc đẩy sản xuất và phát triển, thông
qua đó mà Ngân hàng cũng có thể tồn tại và phát triển.
Tín dụng Ngân hàng đợc coi là đòn bẩy kích thích tăng trởng kinh tế,
kiềm chế và đẩy lùi lạm phát. Cùng với công cuộc đổi mới của nền kinh tế,
hoạt động Ngân hàng cũng không ngừng phát triển, hoàn thiện. Hơn nữa tín
dụng Ngân hàng cần đợc xem là công cụ của Nhà nớc để quản lý nền kinh tế
phát triển theo định hớng xã hội chủ nghĩa và đặc biệt đối với sự phát triển
kinh tế quốc doanh ở nớc ta trong giai đoạn hiện nay.
Xuất phát từ đặc điểm và vai trò của nền kinh tế ngoài quốc doanh cho
thấy kinh tế ngoài quốc doanh là một thị trờng đầy tiềm năng của Ngân hàng
vì nó vốn là một khu vực kinh tế năng động, nhạy bén và có khả năng sản xuất
cao, dễ thích ứng với sự biến động của thị trờng. Tuy nhiên khu vực kinh tế
này cũng còn nhiều tồn tại và hạn chế cần khắc phục. Điển hình nh nguồn vốn
tự có của đại bộ phận này còn rất nhỏ bé, ít ỏi, cơ sở vật chất còn nghèo nàn,
lạc hậu, chính sách phát triển kinh tế đối với khu vực này cha đồng bộ, bất
cập. Do đó để phát triển kinh tế khu vực ngoài quốc doanh đúng với khả năng
trình độ trang bị kỹ thuật còn thấp kém, công nghệ chắp vá, thiếu đồng bộ làm
giảm u thế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và cản trở sự phát triển của
nó. Thông qua nguồn vốn tín dụng Ngân hàng đã tạo ra các cơ hội "vàng" cho
các chủ doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất tìm kiếm những công việc đổi
mới dây truyền sản xuất, nâng cao chất lợng sản phẩm, tạo ra nhiều sản phẩm
thoả mãn nhu cầu trong nớc và ngoài nớc.
Thứ ba: Tín dụng Ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.
Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ nên một
trong những mục đích kinh doanh của Ngân hàng là mục tiêu lợi nhuận, nên
luôn đề cao nhiệm vụ đảm bảo an toàn vốn. Cho vay luôn canh cánh một nỗi
lo, liệu nguồn vốn cho vay này có thu hồi đợc không, có đợc sử dụng đúng
mục đích không, có đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng hay không? Còn đối với
các nhà sản xuất kinh doanh thì lại phải quan tâm xem sử dụng vốn nh thế nào
để có thể đem lại hiệu quả cao nhất, hoàn trả cả vốn và lãi cho Ngân hàng.
Nhất là trong giai đoạn hiện nay, không có tình trạng cho vay tràn lan mà
Ngân hàng tiến hành cho vay có "chọn lọc" những khách hàng làm ăn thực sự
có hiệu quả. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh vốn đã bị nhiều hạn chế trong
khi vay vốn tín dụng nh cần phải quan tâm hơn đối với hiệu quả từng đồng
vốn.
16
Mặt khác, Ngân hàng dựa trên những hiểu biết, kinh nghiệm nắm bắt thị
trờng có thể soạn thảo giúp các đơn vị đợc vay vốn Ngân hàng những dự án
đầu t, t vấn cho khách hàng trong việc sử dụng vốn sao cho có hiệu quả thông
qua công cụ tín dụng Ngân hàng. Từ đó hạn chế những rủi ro có thể xảy ra đối
với những doanh nghiệp cũng nh bản thân Ngân hàng.
Thứ t: Tín dụng Ngân hàng góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo h-
ớng công nghiệp hoá, hiên đại hoá.
Hiện nay, phần lớn nguồn vốn tín dụng của kinh tế ngoài quốc doanh
đa ra các hình thức của tín dụng ngân hàng.
1. Dựa vào kỳ hạn của các khoản tín dụng thì có 2 loại hình tín
dụng:
- Tín dụng ngắn hạn: Tín dụng ngắn hạn có thời hạn sử dụng vốn dới 12
tháng. Loại hình này thờng đầu t chủ yếu là tài sản lu động. Các khoản cho
vay thuộc loại hình này thờng có mức độ rủi ro thấp, do đó lãi xuất cho vay
cũng phải ấn định thấp hơn so với lãi xuất cho vay trung và dài hạn. Các khoản
cho vay ngắn hạn dễ có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt hơn do đó dễ
dàng bán nợ để thu hồi vốn hơn.
- Tín dụng trung và dài hạn: Hình thức tín dụng này thờng có thời hạn
sử dụng vốn trên một năm và chủ yếu đầu t vào tài sản cố định. Các khoản cho
vay thuộc loại hình tín dụng này có mức độ rủi ro cao, do vậy mà mức lãi xuất
cho vay thờng cao hơn cho vay ngắn hạn. Do hình thức tín dụng này có thời
gian sử dụng dài, chi phí chuyển đổi lớn vì vậy mà các khoản vay thuộc loại
này thờng không có tính lỏng nhiều.
2. Dựa vào tính chất bảo đảm của khoản vay:
- Tín dụng có bảo đảm: Đây là loại hình tín dụng khi cấp ra đợc bảo
đảm bằng tài sản thế chấp thuộc sở hữu của ngời đi vay (thờng chiếm khoảng
70% giá trị tài sản vay) hoặc đợc bảo đảm bằng tài sản cầm cố (thờng là tài
sản tài chính). Ngoài ra các khoản vay thuộc hình thức tín dụng này còn có thể
đợc bảo đảm bằng sự bảo lãnh của ngời thứ ba.
- Tín dụng không có bảo đảm: là hình thức mà khi khoản tín dụng cấp
ra không đợc bảo đảm bằng các tài sản thế chấp mà chỉ dựa vào sự tin tởng
nhau (tín chấp).
3. Dựa vào hình thái tồn tại của vốn tín dụng.
- Tín dụng bằng tiền: là hình thức tồn tại dới hình thái tiền tệ. Sự chuyển
hoá của nó tơng đối ling hoạt và nó có thể mở rộng phạm vi hoạt động với kỳ
hạn dài hay kỳ hạn ngắn. nhng độ rủi ro của hình thức tín dụng này rất cao.
- Tìn dụng bằng hiện vật: tồn tại dới dạng hàng hoá, t liệu sản xuất
nguyên vật liệu và t liệu sản xuất nói chung. Nó đợc thực hiện trong hình thức
Ngân hàng đã huy động đợc đầu vào thì phải tìm kiếm các yếu tố đầu ra. Nh
vậy, hiệu quả công tác cho vay đợc đánh giá bằng chính sự phát triển toàn diện
kinh tế xã hội.
- Hiệu quả cho vay của Ngân hàng đợc xác định thể hiện qua việc phát
triển mối quan hệ lâu dài đối với khách hàng, đặc biệt là khách hàng truyền
thống, những ban hàng lớn thu hút đợc đầy đủ khách hàng đến giao dịch và
mở rộng thị phần cũng nh uy tín của Ngân hàng trên thị trờng tài chính trong
19
NEC
Số tiền lãi
Vốn huy động
ROA
LNST
Tài sản
ROE
LNST
Vốn chủ sở hữu
nớc cũng nh quốc tế. Nó không chỉ thực hiện qua số lợng mối quan hệ với
khách hàng mà còn biểu hiện qua chất lợng mối quan hệ có lành mạnh có bền
vững hay không? Vì khách hàng chính là ngời quyết định đến sự tồn tại và
phát triển của Ngân hàng.
Tóm lại hiệu quả tín dụng ngân hàng chính là việc ngân hàng có thể
tránh đợc rủi ro nhiều nhất, sự an toàn trong kinh doanh là lớn nhất, khả năng
thanh toán và sinh lời là cao nhất.
2. Các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả tín dụng ngân hàng.
Một khía cạnh đặc biệt cần quan tâm khi đánh giá hiệu quả công tác
cho vay đó là sự tăng trởng tín dụng, biểu hiện qua các chỉ tiêu cụ thể sau:
- Qua chỉ tiêu doanh số chung thể hiện Ngân hàng đã rất năng động tìm
kiếm đầu ra, đã đảm bảo quá trình luân chuyển vốn của Ngân hàng một cách
ROE
LNST
Vốn chủ sở hữu
cho vay. Chính vì vậy mà các ngân hàng cần phải tính lãi suất hiệu quả hay là
lãi suất cạnh tranh. Chỉ tiêu lãi suất này đợc tính dựa trên tỷ lệ giữa tổng số
tiền lãi và tổng số vốn huy động. Chỉ tiêu này cho ta biết đợc cơ cấu tiền lãi so
với nguồn vốn huy động để từ đó ngân hàng có thể điều chỉnh chỉ tiêu này cho
phù hợp và có hiệu quả nhất.
+ Hiệu suất sinh lời:
* Hiệu suất sinh lời tài sản (ROA): bản chất của chỉ tiêu này là một
đồng tài sản có thể tạo ra đợc bao nhiêu lợi nhuận sau thuế. Nếu chỉ tiêu này
đạt mức cao thì chứng tỏ việc kinh doanh của ngân hàng đạt hiệu quả tốt. Chỉ
tiêu này đợc xác định bằng tỷ lệ giữa lợi nhuận sau thuế và tổng tài sản.
* Hiệu suất sinh lời nguồn vốn (ROE): chỉ tiêu này đo lừng khả năng
sinh lời của vốn chủ sở hữu, tức là một đồng vốn chủ sở hữu thì tạo đợc ra bao
nhiêu lợi nhuận sau thuế. Xác định bằng lợi nhuận sau thuế chia cho vốn chủ
sở hữu.
3. Các nhân tố chủ yếu tác động đến hiệu quả tín dụng ngân
hàng.
Hiệu quả hoạt động cho vay là một phạm trù rộng nên nó chịu ảnh hởng
của rất nhiều nhân tố. Để có thể mở rộng và nâng cao hiệu quả của hoạt động
này thì cần phải xem xét từng nhân tố một. Cụ thể:
* Chính sách tín dụng:
Chính sách tín dụng là kim chỉ nam đảm bảo cho hoạt động tín dụng đi
đúng quỹ đạo. Do đó việc hoạch định chính sách tín dụng có ý nghĩa quyết
định đến sự thành công hay thất bại đối với mỗi Ngân hàng. Một chính sách
tín dụng đúng đắn thu hút đợc nhiều khách hàng, đảm bảo khả năng sinh lời
21
hành thẩm định không chỉ thu thập thông tin phân tích mà phải đi vào thực tế
kiểm tra. Kết quả của công tác thẩm định để đa ra quyết định có nên cho vay
hay không. Nếu kết quả thẩm định càng chính xác bao nhiêu thì hiệu quả cho
vay càng cao bấy nhiêu. Đi đôi với việc mở rộng cho vay Ngân hàng cần phải
nâng cao chất lợng thẩm định.
Hiệu quả hoạt động cho vay còn phụ thuộc vào công tác kiểm tra. Cán
bộ tín dụng không chỉ thực hiện việc kiểm tra trớc khi cho vay mà diễn ra
trong suốt quá trình cho vay và thu nợ. Vì chỉ có kiểm tra trớc, trong và sau
khi phát tiền vay thì Ngân hàng mới có thể nắnm chắnc đợc mình cho vay có
đúng đối tuợng không, khách hàng sử dụng vốn vay có đúng mục đích không
và hiệu quả vốn vay nh thế nào. Thông qua kiểm tra Ngân hàng có thể đảm
bảo khản vay nh mong muốn và đồng thời có những biện pháp kịp thời khi
phát hiện những sai trái bất hợp pháp, Đó là biện pháp ngăn ngừa, hạn chế rủi
ro có thể xảy ra góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay của Ngân
hàng.
Việc xác định thu nợ gốc và lãi của Ngân hàng cho từng đối tợng khách
hàng là rất quan trọng, vì hiệu quả đợc đánh giá trên kết quả thu đợc. Đối với
các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp ngoài quốc doanh chu kỳ sản xuất
kinh doanh thờng hay biến động, có thể vì một lý do nào đó mà khách hàng
22
cha muốn trả nợ, cha tìm đợc nguồn trả nợ. Do vậy nếu Ngân hàng không thu
nợ kịp thời hay xác định kỳ hạn trả nợ không hợp lý có thể dẫn đến nợ quá hạn
gia tăng, mất khả năng thu đợc nợ sẽ làm ảnh hởng đến hiệu quả khoản vay
của Ngân hàng. Nếu khi xuất hiện khoản nợ có vấn đề thì Ngân hàng phải
nhanh chóng đa ra những biện pháp sử lý kịp thời. Tuỳ theo những điều kiện
cụ thể mà Ngân hàng áp dụng các biện pháp sử lý có vấn đề nh tổ chức khai
thác (t vấn khách hàng), thanh lý tài sản (phát mại tài sản thế chấp và cầm cố,
yêu cầu tuyên bố phá sản).
* Chất l ợng nhân sự:
khoản vốn tín dụng của Ngân hàng.
Việc quy định lãi suất phù hợp với điều kiện cụ thể của từng Ngân hàng
cũng nh tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là cần thiết, nó quyết
định khả năng cạnh tranh của Ngân hàng trên thị trờng. Cụ thể nếu quy định
mức lãi xuất phù hợp giữa lãi suất Ngân hàng với tỷ suất lợi nhuận của các
doanh nghiệp thì sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển và đảm bảo khả năng trả nợ
cho Ngân hàng, Ngân hàng giảm đợc chi phí vốn mà vẫn đảm bảo hoạt động
có hiệu quả. Khi Ngân hàng giảm lãi suất cho vay thì Ngân hàng sẽ thu hút đ-
ợc đông đảo khách hàng đến giao dịch. Có thể nói lãi suất ảnh hởng không
nhỏ đến hiệu quả tín dụng nói chung và cho vay ngắn hạn nói riêng của Ngân
hàng.
Sự thay đổi chính sách phát triển kinh tế của chính phủ: Chính sách về
xuất nhập khẩu hàng hoá cha ổn định, nhu cầu của xã hội thay đổi doanh
nghiệp nào kém năng động không kịp điều chỉnh dễ làm ăn thua lỗ, gây thất
thoát vốn của Ngân hàng, làm cho hiệu quả tín dụng của Ngân hàng bị giảm
sút.
* Môi tr ờng pháp lý:
Môi trờng pháp lý bao gồm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, tính
đầy đủ thống nhất của các văn bản dới luật, đồng thời gắnn liền với quá trình
chấp hành và trình độ dân trí.
Môi trờng pháp lý có chức năng tạo ra môi trờng cho các hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tiến hành
thuận tiện và đạt kết quả cao, là cơ sở pháp lý để giải quyết các vấn đề khiếu
nại khi có tranh chấp sảy ra. Các doanh nghiệp cũng nh Ngân hàng phải tuân
thủ những quy định nghiêm chỉnh của pháp luật thì hiệu quả và lợi ích sẽ đợc
đảm bảo. Môi trờng pháp luật này luôn đợc điều chỉnh, bổ xung hoàn thiện để
nó ngày càng phù hợp với sự phát triển chung của nền kinh tế trong đó có hệ
thống Ngân hàng.
* Các nhân tố khác:
Ngoài những nhân tố kể trên, hiệu quả công tác cho vay của Ngân hàng