Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học và năng lực trí tuệ của học sinh miền núi từ 11 đến 17 tuổi tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ - Pdf 13

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI


NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH HỌC VÀ NĂNG
LỰC TRÍ TUỆ CỦA HỌC SINH MIỀN NÚI TỪ 11 ĐẾN 17
TUỔI TỈNH VĨNH PHÚC VÀ PHÚ THỌ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

HÀ NỘI - 2013


HÀ NỘI - 2013

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU………………………………………………………………………………
1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU…………………
4
1.1. KHÁI QUÁT VỀ CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ EM
4
1.2. TUỔI DẬY THÌ CỦA TRẺ EM
1.2.1. Cơ sở lý luận về tuổi dậy thì
1.2.2. Các nghiên cứu về dậy thì
6
6
9
1.3. CÁC CHỈ SỐ HÌNH THÁI – THỂ LỰC CỦA TRẺ EM
11
1.3.1. Chỉ số hình thái - thể lực của trẻ em
11
1.3.2. Các nghiên cứu về chỉ số hình thái - thể lực của trẻ em Việt Nam
12
1.4. CÁC CHỈ SỐ CHỨC NĂNG CỦA TRẺ EM
16

2.3.2. Phƣơng pháp tính tuổi
32
2.3.3. Phƣơng pháp chọn mẫu và cỡ mẫu
32
2.3.4. Phƣơng pháp nghiên cứu các chỉ số sinh học
33
2.3.5. Phƣơng pháp nghiên cứu trí tuệ, trí nhớ và khả năng chú ý
37
2.3.6. Phƣơng pháp xử lý số liệu
39
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
40
3.1. TUỔI DẬY THÌ CỦA HỌC SINH
3.1.1. Tuổi dậy thì của học sinh nữ
3.1.2. Tuổi dậy thì của học sinh nam
40
40
42
3.2. MỘT SỐ CHỈ SỐ HÌNH THÁI - THỂ LỰC CỦA HỌC SINH TỪ 11 - 17 TUỔI
43
3.2.1. Chiều cao đứng của học sinh
43

3.2.2. Cân nặng của học sinh

87
3.5.2. Mối liên quan giữa chỉ số IQ với khả năng chú ý của học sinh
88
3.5.3. Mối liên quan giữa chỉ số IQ với TGPX cảm giác – vận động của học sinh
89
CHƢƠNG 4. BÀN LUẬN
92
4.1. TUỔI DẬY THÌ CỦA HỌC SINH
92
4.2. CÁC CHỈ SỐ HÌNH THÁI - THỂ LỰC CỦA HỌC SINH
94
4.3. CHỨC NĂNG TUẦN HOÀN, HÔ HẤP VÀ PHẢN XẠ CỦA HỌC SINH
103
4.3.1. Một số chỉ số chức năng tuần hoàn của học sinh
103
4.3.2. Một số chỉ số chức năng hô hấp của học sinh
105
4.3.3. Thời gian phản xạ cảm giác - vận động của học sinh
109
4.4. NĂNG LỰC TRÍ TUỆ CỦA HỌC SINH
4.5. MỐI TƢƠNG QUAN GIỮA CÁC CHỈ SỐ
112
115
KẾT LUẬN
121
KIẾN NGHỊ
123
TÀI LIỆU THAM KHẢO
125
PHỤ LỤC

62
Biểu đồ 3.5. Đồ thị phân tán mô tả mối quan hệ tuyến tính giữa VC và chiều cao
theo tuổi của học sinh

85
Biểu đồ 3.6. Đồ thị phân tán mô tả mối quan hệ tuyến tính giữa chỉ số IQ và thời
gian phản xạ thị giác – vận động của học sinh

90
Biểu đồ 3.7. Đồ thị phân tán mô tả mối quan hệ tuyến tính giữa chỉ số IQ và thời
gian phản xạ thính giác - vận động của học sinh………

91
Bảng 3.2. Thời điểm học sinh nữ có kinh lần đầu
41
Bảng 3.3. Số lượng học sinh nam xuất tinh lần đầu theo lứa tuổi
42
Bảng 3.4. Thời điểm xuất tinh lần đầu của học sinh nam
43
Bảng 3.5. Chiều cao đứng trung bình của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính
44
Bảng 3.6. Cân nặng trung bình của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính
47
Bảng 3.7. Vòng ngực trung bình của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính Error! Bookmark not defined. Error! Bookmark not defined.
49
Bảng 3.8. Chỉ số BMI của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính……………
51
Bảng 3.9. Phân bố học sinh theo thể trạng, tuổi, dân tộc và giới tính
53
Bảng 3.10. Chỉ số Pignet của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính………
54
Bảng 3.11. Tần số tim của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính
56
Bảng 3.12. Huyết áp tâm thu của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính
57
Bảng 3.13. Huyết áp tâm trương của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính
58
Bảng 3.14. Tần số hô hấp của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính
60
Bảng 3.15. Dung tích sống của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính
61
Bảng 3.16. Dung tích sống thở mạnh của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới
tính

76
Bảng 3.25. Trí nhớ ngắn hạn thị giác của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính
78
Bảng 3.26. Trí nhớ ngắn hạn thính giác hạn của học sinh theo tuổi, dân tộc
và giới tính

80
Bảng 3.27. Độ tập trung chú ý của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính
81
Bảng 3.28. Mức tăng các chỉ số thể lực và chức năng của học sinh từ 11 đến
17 tuổi

83
Bảng 3.29. Mô hình hồi quy tuyến tính giữa chiều cao với VC và tuổi của học sinh
Kinh

86
Bảng 3.30. Phương trình hồi quy các thông số chức năng phổi của học sinh
87
Bảng 3.31. Phương trình hồi quy tuyến tính giữa chỉ số IQ với TN ngắn hạn
của học sinh

88
Bảng 3.32. Phương trình hồi quy tuyến tính giữa chỉ số IQ với KNCY của
học sinh

88
Bảng 3.33. Phương trình hồi quy tuyến tính giữa chỉ số IQ với TGPX cảm
giác - vận động của học sinh


106
Bảng 4.10. Thời gian phản xạ thị giác – vận động (ms) của học sinh theo nghiên cứu của các tác giả khác nhau
110
Bảng 4.11. Thời gian phản xạ thính giác – vận động (ms) của học sinh theo
nghiên cứu của các tác giả khác nhau

111
Bảng 4.12. Trí nhớ ngắn hạn của học sinh theo các tác giả khác nhau
114
Bảng 4.13. Khả năng chú ý (điểm) của học sinh theo nghiên cứu của các tác giả
khác nhau

115
Bảng 4.14. Phương trình hồi quy về mối tương quan giữa dung tích sống
với tuổi và chiều cao của học sinh theo các tác giả khác nhau

117
Bảng 4.15. Phương trình hồi quy về mối tương quan giữa FVC với tuổi và
chiều cao của học sinh theo các tác giả khác nhau

118
MỞ ĐẦU

Nghiên cứu về mặt sinh học của con ngƣời là một hƣớng nghiên cứu cơ bản
và rất rộng lớn, đòi hỏi sự tham gia của nhiều nhà khoa học thuộc các chuyên ngành
khác nhau nhƣ y học, sinh học, điều khiển học, hóa học, toán học… Trong thập kỉ
60 - 70 của thế kỉ XX, đã có 2 hội nghị tổng kết về hằng số sinh học ngƣời Việt
Nam đƣợc tổng hợp trong cuốn “Hằng số sinh học ngƣời Việt Nam” [76] xuất bản
năm 1975, đã giúp ích rất nhiều và đến nay vẫn còn đƣợc dùng để làm tài liệu tham
khảo cho nhiều công trình khoa học thuộc các chuyên ngành khác nhau. Trong điều
kiện đất nƣớc ta đã và đang đổi mới, nhiều công trình nghiên cứu về các chỉ số sinh
học và trí tuệ của trẻ em Việt Nam đã đƣợc tiến hành. Kết quả nghiên cứu đƣợc trình
bày trong các tạp chí, tài liệu chuyên ngành [9], [22], [35], [79], [80], [81]. Đặc biệt là
công trình nghiên cứu của các tác giả trong nhóm đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh
thể con ngƣời Việt Nam, tình trạng dinh dƣỡng và các biện pháp nâng cao chất lƣợng
sức khoẻ”, mã số KX - 07 - 07 do Lê Nam Trà làm chủ nhiệm đề tài [71], [72], [73],
[74] và nhóm đề tài “Nghiên cứu các chỉ tiêu sinh học và trí tuệ của học sinh và sinh
viên” do Tạ Thuý Lan làm chủ nhiệm đề tài [37], [38], [39], [40], [41]. Các công
trình nghiên cứu trên đã đóng góp rất nhiều vào việc xác định các chỉ số sinh học và
trí tuệ của ngƣời Việt Nam cũng nhƣ việc hoạch định chiến lƣợc giáo dục - đào tạo
nguồn nhân lực tƣơng lai của đất nƣớc. Tuy nhiên, số lƣợng các công trình nghiên
cứu về chỉ số sinh học và năng lực trí tuệ của trẻ em chƣa dàn trải đều trên các vùng
miền của đất nƣớc. Trẻ em ở khu vực miền núi có những điều kiện phát triển về tầm
vóc và trí tuệ vẫn còn nhiều khó khăn, đặc biệt là học sinh các dân tộc ít ngƣời. Vì
vậy, việc mở rộng phạm vi nghiên cứu nhằm cung cấp thêm số liệu về các chỉ tiêu
hình thái - thể lực, chức năng sinh lí và năng lực trí tuệ của học sinh các dân tộc ở
Việt Nam sẽ góp phần cung cấp các dữ liệu khoa học là cơ sở đề xuất các giải pháp
đúng đắn trong hoạch định chiến lƣợc, cải tiến phƣơng pháp giáo dục, rèn luyện thể
chất cho học sinh. Vĩnh Phúc và Phú Thọ là hai tỉnh thuộc khu vực trung du miền

phản xạ cảm giác - vận động (ms) của học sinh dân tộc Kinh, Mƣờng và Sán Dìu từ
11 - 17 tuổi.
- Đánh giá năng lực trí tuệ và một số chỉ số hoạt động thần kinh nhƣ chỉ số
IQ, trí nhớ ngắn hạn, khả năng chú ý của học sinh dân tộc Kinh, Mƣờng và Sán Dìu
từ 11 - 17 tuổi ở tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ.
- Nghiên cứu mối liên quan giữa các chỉ số hình thái - thể lực với các chỉ số
chức năng, giữa chỉ số IQ với thời gian phản xạ cảm giác - vận động, giữa chỉ số IQ 3
với trí nhớ ngắn hạn và khả năng chú ý của học sinh từ 11 - 17 tuổi dân tộc Kinh,
Mƣờng và Sán Dìu.
Ý nghĩa khoa học của luận án là xác định đƣợc sự phát triển một số chỉ số
hình thái - thể lực, chỉ số chức năng tuần hoàn, hô hấp, thần kinh, tuổi dậy thì và
năng lực trí tuệ của học sinh các dân tộc Kinh, Mƣờng và Sán Dìu đang học tại một
số trƣờng phổ thông trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ. Các số liệu trong đề
tài có thể đƣợc dùng làm tài liệu tham khảo trong các công trình nghiên cứu và
giảng dạy về đặc điểm phát triển của trẻ em lứa tuổi học đƣờng nhằm nâng cao chất
lƣợng công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận án này gồm 4 chƣơng:
Chƣơng 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu; Chƣơng 2. Đối tƣợng và phƣơng pháp
nghiên cứu; Chƣơng 3. Kết quả nghiên cứu; Chƣơng 4. Bàn luận. 4 5
- Nhóm thứ nhất từ 11 - 14 tuổi thuộc thời kì nhi đồng.
- Nhóm thứ hai từ 15 - 17 tuổi là thời kì thanh xuân.
Các tác giả của Bộ môn Nhi khoa trƣờng Đại học Y Dƣợc Hà Nội cũng đƣa
ra sơ đồ phân chia các giai đoạn phát triển cá thể của con ngƣời [2]. Theo sơ đồ này,
trẻ em từ 11 - 17 tuổi thuộc hai giai đoạn:
- Từ 11 - 12 tuổi thuộc giai đoạn học sinh lớp dƣới.
- Còn từ 13 - 17 tuổi là giai đoạn dậy thì.
Tạ Thúy Lan và Trần Thị Loan cho rằng, cách phân chia của viện Hàn lâm
Sƣ phạm Liên Xô phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của ngƣời Việt Nam và có thể ứng
dụng trong hệ thống giáo dục trẻ em Việt Nam [45]. Nhƣ vậy, trẻ em từ 11 - 17 tuổi
thuộc 3 thời kì phát triển cá thể:
- Thời kì đầu từ 11 - 12 tuổi thuộc cuối thời kì học sinh nhỏ.
- Từ 13 - 15 tuổi (nữ) và 13 - 16 tuổi (nam) là thời kì dậy thì.
- Còn từ 15 - 17 tuổi là giai đoạn đầu của thời kì vị thành niên.
Trong mỗi thời kì, sự phát triển của cơ thể có những đặc điểm riêng. Cuối
thời kì học sinh nhỏ có sự phân biệt giới tính về hình dáng và kích thƣớc cơ thể. Sự
tăng trƣởng về chiều cao diễn ra nhanh nhƣng mức độ tăng trƣởng ở nữ cao hơn ở
nam. Đến 11 tuổi nữ vƣợt nam về chiều cao và cân nặng, tạo thành điểm giao chéo
thứ nhất của đƣờng cong tăng trƣởng [45].
Tuổi dậy thì của trẻ em có sự khác biệt giữa các vùng, giữa các cá thể và
theo giới tính. Dƣới tác dụng của hoocmon testosteron, cơ thể trẻ em nam lớn nhanh
và xuất hiện các đặc tính sinh dục nam thứ phát, túi tinh và tuyến tiền liệt phát triển,
cơ nở nang, da thô dày. Còn ở nữ, dƣới tác dụng của hoocmon estrogen và
progesteron, chuyển hóa của cơ thể tăng, cơ thể phát triển nhanh cả về chiều cao lẫn

Tinh hoàn bắt đầu sản sinh tinh trùng và bài tiết testosteron. Dƣới tác dụng của
testosteron, cơ thể lớn nhanh và xuất hiện các đặc tính sinh dục nam thứ phát nhƣ
dƣơng vật to lên, túi tinh và tuyến tiền liệt phát triển, cơ nở nang, da thô dày, giọng
nói trầm. Đứa trẻ bắt đầu có khả năng hoạt động tình dục và sinh sản [32].
Cơ chế dậy thì: Trƣớc kia, ngƣời ta cho rằng dậy thì là thời điểm tinh hoàn
“chín”. Sau này khi phát hiện ra các hoóc môn hƣớng sinh dục của tuyến yên ngƣời
ta lại cho rằng nguyên nhân của dậy thì là “sự chín” của tuyến yên. Ngày nay, với
các thực nghiệm ghép tinh hoàn và tuyến yên của động vật non vào động vật trƣởng
thành ngƣời ta thấy cả hai tuyến đó đều có khả năng hoạt động nhƣ của động vật 7
trƣởng thành nếu có những kích thích phù hợp. Không những thế, ngay cả vùng
dƣới đồi cũng có khả năng bài tiết đủ lƣợng GnRH. Tuy nhiên, trong thực tế cả ba
vùng này đều không hoạt động trong suốt thời kì từ sau khi sinh đến trƣớc tuổi dậy
thì vì thiếu một tín hiệu kích thích đủ mạnh từ các trung tâm phía trên vùng dƣới
đồi, mà ngày nay ngƣời ta thƣờng cho rằng trung tâm đó chính là vùng limbic [32].
1.2.1.2. Dậy thì nữ
Sau khi trẻ gái ra đời, buồng trứng không hoạt động cho tới khi nhận đƣợc
kích thích phù hợp từ tuyến yên. Hai buồng trứng bắt đầu hoạt động, thể hiện bằng
hoạt động sinh giao tử và bài tiết hoóc môn sinh dục nữ dẫn đến những thay đổi về
thể chất, tâm lí, sự trƣởng thành và hoàn thiện về chức năng sinh dục. Thời kì phát
triển và trƣởng thành này đƣợc gọi là dậy thì [2].
Những biến đổi về cơ thể: Trong thời kì này cơ thể các em gái phát triển nhanh
về chiều cao cũng nhƣ khối lƣợng. Cơ thể trở nên cân đối, mềm mại, thân hình có
đƣờng cong do lớp mỡ dƣới da phát triển, đặc biệt ở một số vùng nhƣ ngực, mông,
khung chậu nở rộng hơn. Xuất hiện một số đặc tính sinh dục thứ cấp nhƣ hệ thống lông

khoảng 13 - 14 tuổi [2], [32], [45].
Cơ chế dậy thì: Ở nữ, buồng trứng có khả năng bài tiết hoóc môn sinh dục, nhƣng
trong thực tế tuyến này không hoạt động cho tới tuổi dậy thì khi nhận đƣợc tín hiệu của
hoóc môn hƣớng sinh dục từ tuyến yên. Thời gian dậy thì chính là khoảng thời gian phát
triển mối liên hệ giữa vùng dƣới đồi - tuyến yên - tuyến sinh dục hoàn chỉnh [45].
Chu kì kinh nguyệt là sự biến đổi về cấu trúc, chức năng của buồng trứng
dẫn tới sự chảy máu có chu kì do bong niêm mạc tử cung dƣới tác dụng của các
hoóc môn tuyến yên và buồng trứng. Độ dài của chu kì kinh nguyệt là khoảng thời
gian tính từ ngày bắt đầu hành kinh kì này đến ngày bắt đầu hành kinh kì sau. Độ
dài của chu kì kinh nguyệt ở phụ nữ Việt Nam thƣờng là 28-30 ngày [16]. Khoảng 2
ngày cuối cùng của chu kì, hoàng thể đột nhiên bị thoái hóa, nồng độ estrogen và
progesteron đột ngột giảm xuống mức rất thấp. Kinh nguyệt xuất hiện do sự giảm đột
ngột nồng độ hai hoóc môn sinh dục nữ, đặc biệt là progesteron. Do nồng độ hoóc
môn giảm, niêm mạc tử cung bị thoái hóa tới 65% chiều dày. Các động mạch xoắn co
thắt do tác dụng của các sản phẩm đƣợc bài tiết từ niêm mạc bị thoái hóa, trong đó có
prostaglandin. Một mặt do các động mạch nuôi dƣỡng lớp niêm mạc chức năng bị co
thắt gây tình trạng thiếu máu, mặt khác do thiếu tác dụng kích thích của hoóc môn 9
nên lớp niêm mạc này bắt đầu hoại tử đặc biệt là các mạch máu. Kết quả là mạch máu
bị tổn thƣơng và máu chảy đọng lại dƣới lớp niêm mạc chức năng. Vùng chảy máu
lan rộng nhanh trong 24-36 giờ và lớp niêm mạc bị hoại tử sẽ tách khỏi tử cung. Sau
khoảng 48 giờ kể từ lúc xảy ra hiện tƣợng chảy máu, toàn bộ lớp niêm mạc chức
năng bong ra [60].
1.2.2. Các nghiên cứu về dậy thì
Từ 1976 đến 1988, Đinh Kỷ, Lƣơng Bích Hồng, Cao Quốc Việt, Nguyễn

thƣờng thập kỉ 90 thế kỉ XX, Cao Quốc Việt và cs nghiên cứu về tuổi dậy thì ở trẻ
em và các yếu tố ảnh hƣởng. Tác giả đƣa ra nhận xét, tuổi dậy thì của các em gái
thƣờng đến sớm hơn so với của các em trai khoảng từ 1 - 2 năm. Tuổi dậy thì của
trẻ em trong thời điểm nghiên cứu đến sớm hơn so với các kết quả trong “Hằng số
sinh học ngƣời Việt Nam” năm 1975 khoảng 1 năm [81].
Năm 1998, khi nghiên cứu sinh lí tuổi dậy thì của học sinh phổ thông các dân
tộc ít ngƣời ở tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ, Nguyễn Quang Mai và Nguyễn Thị Lan
đƣa ra kết luận, tuổi có kinh nguyệt lần đầu của nữ là 14,3 và tuổi xuất tinh lần đầu
của nam là 15,4 [56].
Năm 2002, Nguyễn Phú Đạt đã nghiên cứu sự phát triển dậy thì của 9.585 trẻ
lứa tuổi 6 - 17 ở 5 tỉnh miền Bắc Việt Nam và nhận thấy, tuổi dậy thì trung bình
của trẻ trai là 13 năm 5 tháng, của trẻ gái là 11 năm 10 tháng. Theo tác giả, một số
yếu tố ảnh hƣởng đến tuổi dậy thì nhƣ: trẻ gái dậy thì sớm hơn trẻ trai, trẻ có cân
nặng thấp dậy thì muộn, trẻ ở miền núi, nông thôn dậy thì muộn hơn so với trẻ ở
thành phố [16].
Năm 2006, Đỗ Hồng Cƣờng nghiên cứu trên học sinh trung học cơ sở các dân
tộc ở tỉnh Hòa Bình đã đƣa ra kết luận, tuổi dậy thì của nam dao động từ 13 năm 9
tháng đến 14 năm, tuổi dậy thì của nữ dao động từ 13 năm 4 tháng đến 13 năm 7
tháng. Thời điểm dậy thì hoàn toàn của học sinh dân tộc Dao đến sớm hơn so với các
dân tộc Mƣờng, Kinh và Tày [6].
Theo số liệu trong cuốn “Các giá trị sinh học ngƣời Việt Nam bình thƣờng thập
kỉ 90 - thế kỉ XX” (GTSH TK90), tuổi có kinh nguyệt lần đầu ở trẻ gái thay đổi theo
vùng miền. Ở Hà Nội, tuổi có kinh lần đầu của nữ là 13 năm 2 tháng, ở nông thôn là 14
năm, ở Huế là 13 năm 7 tháng, ở miền núi Thừa Thiên Huế là 14 năm 7 tháng, ở thị xã
Đắc Lắk là 13 năm 5 tháng, ở miền núi Đắk Lắk là 13 năm 9 tháng [3]. 11

12
WHO công bố chuẩn tăng trƣởng của trẻ em học đƣờng và ngƣời trƣởng thành, là một
mốc quan trọng cho các nghiên cứu ứng dụng các chỉ số hình thái để đánh giá tình
trạng dinh dƣỡng và phát triển thể lực của con ngƣời [108], [110].
Nhiều tác giả trong nghiên cứu của mình đƣa ra nhận xét có sự khác nhau về
tốc độ tăng trƣởng các chỉ số thể lực giữa nam và nữ theo độ tuổi. Trong giai đoạn
từ 7 - 10 tuổi nữ có tốc độ tăng trƣởng cao hơn, còn từ 11 tuổi trở đi tốc độ tăng
trƣởng của nam nhanh hơn so với của nữ. Các tác giả cũng đƣa ra nhận xét về một
số nguyên nhân ảnh hƣởng đến sự phát triển thể lực của trẻ em, chủ yếu là do chế
độ dinh dƣỡng, môi trƣờng và di truyền. Dƣới tác động của điều kiện sống và đặc
điểm di truyền, sự phát triển về mặt hình thái và chức năng của cơ thể trẻ em ngày
càng hoàn thiện theo tuổi [58], [86], [90].
1.3.2. Các nghiên cứu về chỉ số hình thái - thể lực của trẻ em Việt Nam
Cuốn “Hằng số sinh học ngƣời Việt Nam” (HSSH) [76] xuất bản năm 1975 do
Nguyễn Tấn Gi Trọng chủ biên là công trình đầu tiên nêu ra khá đầy đủ các thông
số về hình thái - thể lực của ngƣời Việt Nam ở mọi lứa tuổi trong đó có nhóm tuổi
11 - 17 và là chỗ dựa đáng tin cậy cho các nghiên cứu sau này trên ngƣời Việt Nam.
Sau khi thống nhất đất nƣớc (1975), các công trình nghiên cứu hình thái - thể lực đã
đƣợc triển khai trên toàn quốc.
Từ năm 1980 đến 1990, Thẩm Thị Hoàng Điệp nghiên cứu dọc trên 101 học
sinh Hà Nội từ 6 - 17 tuổi đã đƣa ra kết luận, chiều cao phát triển mạnh nhất lúc 12
tuổi ở nữ và 13 - 15 tuổi ở nam, cân nặng phát triển mạnh nhất lúc 13 tuổi ở nữ và
15 tuổi ở nam [17].
Năm 1991, Đào Huy Khuê nghiên cứu 36 chỉ tiêu kích thƣớc về sự tăng
trƣởng và phát triển cơ thể của 1478 học sinh từ 6 - 17 tuổi ở Thị xã Hà Đông - Hà
Sơn Bình đã cho thấy, trong thời kì phát triển tầm vóc từ 6 - 17 tuổi có những giai

nhƣ chiều cao, cân nặng, vòng ngực… của ngƣời Việt Nam từ 1 - 25 tuổi ở một số
vùng Nghệ An và Hà Tĩnh. Tác giả nhận thấy, sự phát triển chiều cao ở tất cả các
độ tuổi của cƣ dân vùng Nghệ Tĩnh thấp hơn so với cƣ dân vùng đồng bằng Bắc bộ
và ở tất cả các độ tuổi các kích thƣớc của nam đều lớn hơn của nữ [62].
Năm 1990 - 1996, Trần Đình Long và cs nghiên cứu đặc điểm phát triển và
một số yếu tố ảnh hƣởng tới sự phát triển cơ thể của học sinh phổ thông tại một số
trƣờng ở Hà Nội. Kết quả đã cho thấy, sự phát triển cơ thể của cả hai giới đều chậm
lại rõ rệt từ 17 đến 18 tuổi [51], [52]. 14
Năm 1996, Phan Thị Sang khi nghiên cứu chiều cao và cân nặng của học
sinh từ 9 - 17 tuổi cho thấy, cả hai chỉ số này của nữ sinh Huế đều tăng dần theo
tuổi. Ở lứa tuổi 11 - 15, chiều cao và cân nặng của nhóm nữ sinh đã có kinh nguyệt
vƣợt trội hơn hẳn so với các em chƣa có kinh nguyệt ở cùng lứa tuổi [60].
Năm 1996, Nguyễn Hữu Chỉnh và cs trong nghiên cứu của mình đã đƣa ra
nhận xét, dân cƣ ở Kiến An có các chỉ số nhân trắc tốt hơn so với các dẫn liệu trong
“Hằng số sinh học ngƣời Việt Nam”. Các chỉ số nhân trắc của nữ phát triển nhanh
hơn của nam ở thời điểm 10 - 11 tuổi, nhƣng từ 14 đến 15 tuổi các kích thƣớc này
của nam bắt kịp và vƣợt hơn so với của nữ. Sự khác biệt về mặt chủng tộc, điều
kiện sống và quá trình rèn luyện thân thể là những yếu tố tác động đến thể lực của
thanh niên [5].
Năm 1998, Nguyễn Quang Mai và cs nghiên cứu trên nữ sinh các dân tộc ít
ngƣời ở tỉnh Vĩnh Phú đã cho thấy, đến 18 tuổi chiều cao và cân nặng trung bình của
nữ sinh dân tộc ít ngƣời thấp hơn so với nữ sinh vùng đồng bằng và thành thị. Theo
giải thích của các tác giả, nguyên nhân chủ yếu là do ảnh hƣởng của các yếu tố tự
nhiên, môi trƣờng, chủng tộc và điều kiện kinh tế - xã hội [56].

nam, nhƣng từ 11 tuổi trở lên thì tốc độ tăng trƣởng chiều cao của nam lại nhanh
hơn so với của nữ. Đây chính là nguyên nhân đã tạo ra điểm giao chéo tăng trƣởng
chiều cao lần thứ nhất và lần thứ hai lúc 11 và 14 tuổi [5], [34].
Trong thực tế, sự phát triển thể lực của trẻ em phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố và
là kết quả tác động qua lại giữa cơ thể với môi trƣờng. Các yếu tố môi trƣờng và điều
kiện sống đã tác động đến quá trình sinh trƣởng và phát triển của trẻ em [16], [18],
[31].
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về hình thái - thể lực của học sinh Việt
Nam khá phong phú. Tuy kết quả nghiên cứu trong các công trình có khác nhau ít
nhiều, nhƣng đều xác định đƣợc sự thay đổi của các chỉ số này theo lứa tuổi và theo
giới tính. Sự rèn luyện thể lực có tác động tốt đến chiều cao, cân nặng và một số vòng
của cơ thể. Các yếu tố xã hội ảnh hƣởng đến sự phát triển của cơ thể đặc biệt là trong
giai đoạn dậy thì. Có sự khác biệt về các chỉ số hình thái - thể lực giữa nam và nữ,
giữa trẻ em thành thị và nông thôn, giữa các địa bàn khác nhau cũng nhƣ giữa các dân
tộc.
16
1.4. CC CH S CHC NNG CA TR EM
1.4.1. c im ch s chc nng ca tr em
1.4.1.1. Chc nng tun hon ca tr em
H tun hon cú chc nng c bn l mang mỏu giu ụxi v cht dinh dng
i nuụi ton b c th v mang khớ cacbonic cựng nhng cht c, cht cn bó
thi ra ngoi. Hot ng ca h tun hon c th hin qua nhng ch s c bn
nh tn s tim v huyt ỏp ng mch.
Tn s tim thay i theo la tui v theo trng thỏi ca c th. Vỡ vy, vic nghiờn

tuổi khoảng 300 - 460 ml, ở trẻ 15 - 16 tuổi khoảng 300 - 560 ml [86], [87], [97].
1.4.1.3. Phn x cm giỏc - vn ng
Cm giỏc l quỏ trỡnh chuyn i nng lng vt lớ thnh phn ng ca cỏc
c quan cm th, l s phn ỏnh ca h thn kinh i vi vt kớch thớch.
Nm 1863, nh sinh lớ hc ngi Nga Ivan Sechenov ó a ra khỏi nim:
Mi hot ng tinh thn k c cỏc dng phc tp nht, nu xột v bn cht u l
cỏc phn x. ễng cng nhn mnh, trong s hỡnh thnh phn x cú c hng phn
v c ch [94].
Nm 1927, I.P.Pavlov ó xõy dng nờn hc thuyt v hot ng phn x.
Pavlov cho rng, mi hot ng ca c th u l nhng phn x [98].
Phn x l nhng phn ng i vi nhng kớch thớch ca mụi trng bờn trong
cng nh bờn ngoi tỏc ng vo c th. Thi gian phn x l thi gian t lỳc cú kớch
thớch ti lỳc xut hin phn ng. Thi gian phn x ph thuc vo mc phỏt trin
chc nng ca h thn kinh. Tc dn truyn cỏc xung ng thn kinh bin i theo
la tui. Ngoi ra, thi gian phn x cũn liờn quan cht ch vi cỏc ch s nng lc trớ
tu nh IQ v mt s ch s hỡnh thỏi khỏc [50].
Theo hng nghiờn cu s phỏt trin ca hot ng phn x trong c th, cỏc
nghiờn cu ca Sfatklit (1947), Glebovski (1959), Krylov (1960) cho thy, s bin
i ca mụi trng bờn ngoi cú nh hng ti phỏt trin hot ng phn x ca tr
em (theo [42]). Giai on 11 - 13 tui n v 13 - 15 tui nam c coi l giai
on chuyn tip. giai on ny tc phn x thng nhanh, cng phn x
mnh do quỏ trỡnh hng phn chim u th, cũn giai on t 14 - 18 tui tc
phn x tng i n nh (theo [45]).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status