Đầu tư phát triển ngành du lịch tỉnh Ninh Bình. Thực trạng và giải pháp - Pdf 13

LỜI NÓI ĐẦU
Những năm gần đây, nhờ chính sách đổi mới, mở cửa của Đảng và Nhà nước,
đặc biệt là chính sách đổi mới về đối ngoại và kinh tế đối ngoại cùng với xu hướng toàn
cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng nhanh ở hầu hết các quốc gia trên thế
giới, ngành du lịch Việt Nam nói chung và ngành du lịch của Ninh Bình nói riêng cũng
có những bước tiến nhất định và ngày càng có tác động tích cực hơn đến nhiều lĩnh vực
của đời sống kinh tế- xã hội đất nước. Du lịch được xác định “ là một ngành kinh tế mũi
nhọn” trong các ngành kinh tế quốc dân và đang hội nhập với trào lưu phát triển du lịch
của khu vực và thế giới. Khách du lịch đến Việt Nam đặc biệt là Ninh Bình đang ngày
một tăng. Phát triển du lịch của Ninh Bình là phù hợp với xu thế của thời đại, phù hợp
với chiến lược phát triển du lịch của Việt Nam đặc biệt là chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước.
Với vị trí địa lý và tiềm năng tài nguyên du lịch phong phú, những chính sách
phù hợp, thời gian qua du lịch Ninh Bình đã có bước phát triển đáng ghi nhận, đóng góp
tích cực vào sự nghiệp phát triển du lịch của cả nước. Tuy nhiên trong quá trình phát
triển, nhiều tiềm năng du lịch chưa được khai thác hiệu quả, sự phát triển du lịch Ninh
Bình chưa tương xứng với tiềm năng và vị trí của mình. Cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật
của Tỉnh mặc dù đã được cải thiện rất nhiều trong những năm gần đây nhưng vẫn chưa
đáp ứng được yêu cầu phát triển, chất lượng phục vụ còn thấp, sản phẩm du lịch còn
nghèo nàn, chưa phong phú. Đầu tư phát triển du lịch trên địa bàn Tỉnh còn dàn trải và
thiếu tập trung, khả năng thu hút vốn từ các nhà đầu tư không được cao.
Chính vì thế trong thời gian đi thực tập vừa qua, em đã nghiên cứu và viết báo
cáo thực tập, tên đề tài là:
“Đầu tư phát triển ngành du lịch tỉnh Ninh Bình. Thực trạng và giải
pháp.”
Vũ Thị Hải Yến Kinh tế đầu tư 47A
Nội dung bài viết gồm 3 phần chính:
Phần một: Tổng quan về tỉnh Ninh Bình và các khu du lịch trong tỉnh
Phần hai: Thực trạng đầu tư phát triển du lịch trong những năm qua
Phần ba: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư vào du lịch tỉnh
Ninh Bình

trị nhất tại Ninh Bình là Vườn quốc gia Cúc Phương. Rừng Cúc Phương là loại rừng
mưa nhiệt đới điển hình với cấu trúc thảm thực vật nhiều tầng và phong phú về thành
phần loài. Gần đây Ninh Bình đã thành lập khu bảo tồn đất ngập nước Vân Long là khu
bảo tồn sinh cảnh đặc trưng cho hệ sinh thái núi đá ngập nước.
Ninh Bình có tổng diện tích đất tự nhiên là 138. 420 ha, trong đó đất cho sản xuất
nông nghiệp là 67.605 ha ( chiếm 48,87% diện tích tự nhiên), đất lâm nghiệp là 19.972
ha ( chiếm 14,4% diện tích tự nhiên), đất chuyên dùng 16.769 ha ( chiếm 12,1% diện
tích tự nhiên), đất khu dân cư 5.068 ha ( chiếm 0,37% diện tích tự nhiên) và đất chưa sử
dụng 28.961 ha ( chiếm 21% diện tích tự nhiên). Hiện nay, diện tích đất chưa sử dụng
có khả năng đưa vào khai thác cho các hoạt động kinh tế là 16.497 ha.
Dân số của Ninh Bình là 936.262 người trong đó số dân trong độ tuổi lao động
xấp xỉ 60%, mật độ dân số 659 người/ km
2
. Dân tộc ngoài dân tộc Kinh và dân tộc
Mường chiếm 1,7% dân số thì các dân tộc khác như Tày, Nùng, Thái, Hoa, H’Mông,
Dao…mỗi dân tộc có từ trên một chục đến hơn một trăm người. Dân tộc Mường đã
định cư khá lâu đời ở các xã thuộc miền núi cao như Nho Quan, Tam Điệp, còn lưu giữ
được nhiều giá trị văn hóa truyền thống hấp dẫn du lịch. Các dân tộc khác sống rải rác ở
các địa phương trong tỉnh, không hình thành cộng đồng dân tộc nhất định, đa số có quan
hệ hôn nhân và chịu ảnh hưởng sâu sắc của phong tục tập quán sinh hoạt, sản xuất,
truyền thống văn hóa của người Kinh.
Trong những năm qua, Ninh Bình đã thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế- xã
hội mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII và XIV đề ra với kết quả năm sau
cao hơn năm trước. Kinh tế phát triển, cơ sở hạ tầng được tăng cường, văn hoá - xã hội
có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân ổn định và được cải thiện. Tốc độ tăng trưởng kinh
tế hàng năm đạt cao; tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn từ năm 1996-2000 đạt bình
quân: 8,12%/ năm; từ năm 2001-2005 bình quân đạt 11,9%/năm; năm 2006 đạt 12,6%;
cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ. Thu
nhập bình quân đầu người năm 1991 đạt 0,51 triệu đồng, năm 2006 đạt 6,42 triệu đồng,
Vũ Thị Hải Yến Kinh tế đầu tư 47A

Trăng Khuyết, động Chúa, động Thủy Tiên, động Người Xưa, hang Con Moong, động
San Hô.
Trong vườn có suối nước nóng, hệ động thực vật phong phú, đặc biệt có những
cây chò xanh, cây sấu cổ thụ trên dưới 1000 tuổi và những loài thú quí, lạ. Hiện nay,
vườn quốc gia Cúc Phương đã trở thành môt trung tâm cung cấp các lòai thực vật quí
hiếm, có giá trị kinh tế cao phục vụ cho chương trình trồng rừng trong khu vực và trên
cả nước.
♦ Khu bảo tồn đất ngập nước Vân Long
Là khu bảo tồn sinh cảnh đặc trưng cho hệ sinh thái núi đá ngập nước có diện
tích lớn nhất ở đồng bằng sông Hồng. Đây cũng là nơi khoanh vùng bảo vệ loài Vọoc
quần đùi trắng – là loài linh trưởng quí hiếm đã ghi trong Sách đỏ thế giới. Rừng Vân
Long có 8 loài thực vật, 9 loài động vật được ghi trong Sách đỏ Việt Nam.
Khu Vân Long có 32 hang động đẹp, nhiều hang động có giá trị. Nước ở đây
mênh mông phẳng lặng, không có gió to sóng lớn, mang phong cảnh một miền quê êm ả
- một Vịnh Hạ Long không song. Đây chính là một nơi du lịch sinh thái rất tốt, là hiện
trường nghiên cứu, học tập cho các nhà khoa học, sinh viên khi muốn nghiên cứu về
vùng đất ngập nước nội đồng của Việt Nam.
♦ Quần thể hang động Tràng An
Nằm ở thôn Tràng An, xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, với những dải đá vôi, các
thung lũng và những dòng sông ngòi đan xen với nhau tạo nên một không gian huyền ảo
và thơ mộng. Du khách đến bến thuyền sông Sào Khê, từ đây những chiếc thuyền nan
lướt nhẹ trên mặt nước qua Xuyên Thủy Động vào đến quần thể hang động Tràng An.
Hai bên dòng sông là những phong cảnh hữu tình mà thiên nhiên đã ban tặng nơi đây.
♦ Tam Cốc
Khu du lịch Tam Cốc - Bích Động là một quần thể du lịch, một địa danh nổi
tiếng từ xa xưa, thuộc địa phận huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình; cách thủ đô Hà Nội 100
km về phía Nam. Nơi đây vẫn giữ được nét nguyên sơ, thiên tạo, với nhiều hang động,
Vũ Thị Hải Yến Kinh tế đầu tư 47A
di tích lịch sử, văn hóa nổi tiếng trong và ngoài nước như: đền Thái Vi, Tam Cốc, chùa
Bích Động, động Tiên, chùa Linh Cốc…

♦ Đèo Tam Điệp
Đèo Tam Điệp còn có tên là đèo Ba Dội, thuộc thị xã Tam Điệp, cách thành phố
Ninh Bình 18km về phía Nam. Nơi đây có 3 dãy núi đá vôi chạy suốt từ Hòa Bình về,
ăn ra biển Đông theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Điều độc đáo là Đèo Tam Điệp có
đất đỏ. Từ đây du khách có thể quan sát cả một vùng rộng lớn. Toàn cảnh đèo là những
dãy núi hung vĩ, hiểm trở, quanh co như những con rồng uốn khúc, đan xen là những
thung lũng rộng và nhiều dòng suối trong xanh uốn lượn. Ngoài ra Đèo Tam Điệp còn là
một phòng tuyến lợi hại , có vị trí chiến lược trong quân sự, như bức tường thành thiên
nhiên án ngữ con đường Bắc Nam
♦ Suối nước nóng Kênh Gà
Suối nước nóng mặn Kênh Gà thuộc huyện Gia Viễn. Dòng nước từ trong núi
chảy ra, trong vắt, chưa bao giờ ngừng. Năm 1940 người Pháp biết tới, bắt đầu nghiên
cứu và đi vào khai thác. Nước khoáng Kênh Gà có chứa nhiều muối Natriclorua,
Kaliclorua, nước không màu, trong, nhiệt độ ổn định quanh năm 53
0
C. Nước khoáng
Kênh Gà dùng để tắm hay ngâm mình nhiều lần sẽ khỏi các bệnh như khớp mãn tính,
viêm dây thần kinh, các bệnh ngoài da và phụ khoa. Nước khoáng Kênh Gà uống vào có
tác dụng kích thích hoạt động của gan, mật, chữa bệnh bướu cổ và dùng để bào chế
huyết thanh tiêm tĩnh mạch.
♦ Động Vân Trình
Động rộng gần 3500m
2
, là một động lớn nhất và đẹp nhất tỉnh Ninh Bình, sánh
ngang với động Thiên Cung ở vịnh Hạ Long ( Quảng Ninh). Động nằm trong núi Mõ,
tên chữ thời xưa là núi Thổ Tích, thuộc huyện Nho Quan. Động Vân Trình gồm 2 hang
liền nhau, so le một cao một thấp là Hang Cả và Hang Hai. Trong cả hai hang đều có
những nhũ đá đẹp như những “ vách gấm”, nhiều khối nhũ đá từ trên nóc động chảy
xuống, có khối chạm đến nền hang, như những nhánh rễ cây đa cổ thụ to lớn thả xuống
mặt đất. Động Vân Trình còn giữ được nét đẹp trinh nguyên, tinh khiết của đá.

Tam Quan, chùa Quan Âm, La Hán Đường, Tháp Chuông, khu hồ phóng sinh,…
♦ Hệ sinh thái ven biển Kim Sơn
Vũ Thị Hải Yến Kinh tế đầu tư 47A
Với 18km đường bờ biển nơi có cửa sông đổ ra với sự hình thành 2 cồn nổi
( Cồn Thoi và Hòn Nẹ), thảm thực vật ngập mặn đã hình thành nơi cư trú của nhiều loài
sinh vật, đặc biệt là một số loài chim di cư quí hiếm như Cò Thìa,…
2. Tài nguyên du lịch nhân văn
2.1. Các di tích lịch sử - văn hóa
♦ Cố đô Hoa Lư
Cố đô Hoa Lư là kinh đô đầu tiên của nền phong kiến tập quyền ở nước ta, thuộc
huyện Hoa Lư, nằm trên một diện tích khoảng 400ha.
Ngàn năm trước, Hoa Lư là đế đô nguy nga với núi đồi trùng điệp xung quanh
kinh đô như tấm bình phong, sông Hoàng Long và cánh đồng Nho Quan, Gia Viễn
mênh mông là hào sâu thiên nhiên rất thuận lợi về mặt quân sự. Khu thành Hoa Lư có
qui mô rộng lớn, có nhiều tuyến liên hoàn. Thành gồm hai khu, khu trong và khu ngoài,
thông với nhau bằng một lối đi nhỏ hẹp và hiểm trở. Mỗi khu gồm nhiều vòng, nhiều
tuyến nhỏ.
♦ Đền vua Đinh
Đến thờ vua Đinh Tiên Hoàng, hiện ở xã Trường Yên, huyện Hoa Lư. Đền quay
hướng Đông, trên khuôn viên rộng khoảng 5 mẫu, được xây dựng vào khoảng thế kỉ 17,
lấy núi Mã Yên làm án. Đền vua Đinh Tiên Hoàng kiến trúc theo kiểu "nội công ngoại
quốc", đường đi trong đền theo hình chữ "vương". Các công trình kiến trúc đối xứng
nhau theo đường chính đạo, tên gọi phỏng theo tên gọi của cung điện ngày xưa.
♦ Đền vua Lê
Đền thờ vua Lê Đại Hành, hiện ở làng Trường Yên Hạ, xã Trường Yên, huyện
Hoa Lư, cách đền vua Đinh chừng 300m về phía Bắc, cũng xây dựng trên nền cung điện
xưa của kinh đô Hoa Lư. Đền ở làng Trường Yên Hạ nên gọi là đền Hạ. Đền lấy núi
Đèn làm án. Kiến trúc của đền xây dựng theo kiểu "nội công ngoại quốc", có thêm Từ
Vũ.
♦ Nhà thờ đá Phát Diệm

♦ Lễ hội Báo bản Nộn Khê: Được tổ chức vào ngày 14 tháng giêng âm lịch hàng năm,
tại làng Nộn Khê, xã Yên Từ, huyện Yên Mô.
♦ Lễ hội đền Nguyễn Công Trứ: Tổ chức ngày 13-15 tháng 11 âm lịch hàng năm, tại xã
Quang Thiện, huyện Kim Sơn. Ngày 13 tế yết cáo, ngày 14 tế chính kị, ngày 15 tế tạ.
2.3. Các làng nghề truyền thống
♦ Thêu ren Ninh Hải: Nghề thêu ren ở đây đã có trên 700 năm. Tương truyền năm 1285
bà Trần Thị Dung là vợ Thái sư Trần Thủ Độ đã theo triều đình nhà Trần về đây và
truyền dạy cho nhân dân thôn Văn Lâm nghề thêu ren. Đường nét thêu ren rất tinh xảo
nhưng sống động. Sản phẩm thêu ren rất phong phú: ga trải giường, rèm cửa, gối, khăn
bàn, tranh, ảnh,…
♦ Mỹ nghệ cói Kim Sơn: Cây cói xuất hiện ở Kim Sơn mới gần 2 thế kỉ nhưng chiếm
một vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế của người dân nơi đây. Người dân Kim Sơn
dùng cây cói làm nhiều sản phẩm như: chiếu, thảm, làn, khay, hộp, cốc, mũ,…đặc biệt
là nghề dệt chiếu
♦ Chạm khắc đá Ninh Vân: Đây là làng nghề cổ truyền được cả nước biết đến. Sản
phẩm bao gồm nhiều loại, như tượng, chim, thú, bể cảnh, bia, thống, chậu hoa, xà nhà,
…Ngoài ra còn có các mặt hàng thủ công mĩ nghệ và những đồ vật bằng đá như: bộ ấm
trà, gạt tàn thuốc lá, khóm trúc, bé cưỡi trâu, tranh ảnh.
2.4. Ẩm thực
Bên cạnh những món ăn của vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ, ẩm thực Ninh
Bình có đặc trưng riêng. Đó là: Tái dê Ninh Bình, Nhất hưởng thiên kim (cơm cháy),
Nem Yên Mạc ( Yên Mô), Rượu Lai Thành, Mắm tép Gia Viễn, Rượu cần Nho Quan
Tỉnh Ninh Bình định hướng tổ chức các khu du lịch:
Vũ Thị Hải Yến Kinh tế đầu tư 47A
1. Khu du lịch Tam Cốc - Bích Ðộng, Tràng An, núi chùa Bái Đính và Cố đô Hoa
Lư: Du lịch Văn hóa, lễ hội, tâm linh; Du lịch nghiên cứu; Du lịch tham quan, thắng
cảnh; Du lịch cuối tuần.
2. Khu du lịch trung tâm thành phố Ninh Bình với Dục Thuý Sơn, Ngọc Mỹ Nhân và
hồ Kỳ Lân: Du lịch Văn hóa, Du lịch MICE, Du lịch vui chơi giải trí, Du lịch đô thị.
3. Khu du lịch vườn quốc gia Cúc Phương, Kỳ Phú, hồ Ðồng Chương: Du lịch sinh

Hiện nay mạng lưới giao thông đang được cải thiện ngày một tốt hơn. Tuy nhiên
hệ thống giao thông vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Hệ
thống các đường nội thị vẫn còn yếu kém, nhiều tuyến đường cần được cải tạo và mở
rộng. Đặc biệt cần nâng cấp, cải tạo toàn tuyến 1A trên địa bàn tỉnh nhất là đoạn đi qua
thành phố Ninh Bình. Đây chính là tuyến đường chủ đạo trong giao lưu kinh tế giữa
Ninh Bình với các tỉnh phía Bắc cũng như phía Nam, đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng
hóa và hành khách qua Ninh Bình ngày càng lớn. Hệ thống giao thông nông thôn, đường
liên thôn liên xã đã được nâng cấp, rải nhựa, cải tạo và làm mới. Điều này có ý nghĩa rất
quan trọng trong việc khai thác thế mạnh của vùng, nhằm phát triển kinh tế, nâng cao
Vũ Thị Hải Yến Kinh tế đầu tư 47A
mức sống người dân đặc biệt là mở rộng giao lưu với các địa phương trong tỉnh, phát
triển các tour liên huyện.
٭ Đường sắt: Ninh Bình nằm trên tuyến đường sắt quốc gia Bắc Nam, đây là tuyến
đường sắt đóng góp một phần rất lớn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh và
các địa phương khác trong vùng kinh tế và trên toàn quốc. Toàn tỉnh có 4 ga là : ga
Ghềnh, ga Đồng Giao, ga Cầu Yên và ga Ninh Bình. Ngoài ra tuyến tàu chạy Hà Nội –
Vinh đi qua Ninh Bình đi các tỉnh phía Nam.
٭Đường thủy: Ninh Bình có 22 sông có thể khai thác vận tải đường thủy với tổng
chiều dài 387,3km. Mật độ sông là 27,3km/km
2
( lớn hơn mật độ bình quân cả nước),
phần lớn là sông cấp II, III và IV mang đặc điểm chung của sông, kênh khu vực đồng
bằng sông Hồng. Toàn tỉnh có các sông chảy qua là sông Đáy, sông Hoàng Long, sông
Vạc, sông Vân, sông Lạng,.. giúp cho Ninh Bình có điều kiện thuận lợi và là đầu mối
quan trọng trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng và
toàn vùng Bắc Bộ rộng lớn.
1.2. Hệ thống cấp điện
Mạng lưới điện trong cả tỉnh đã được xây dựng với tổng chiều dài các đoạn
đường dãy trung cao áp là 770km. Hiện nay Tỉnh có 1 nhà máy điện Ninh Bình và 4
trạm điện phân phối. Nguồn điện hiện nay bao gồm cả mạng lưới điện phân phối về cơ

điện tử hiện đại của bưu điện trung tâm tỉnh và bưu điện của 7 huyện thị xã, hệ thống
viễn thông vi ba, cáp quang Bắc – Nam chạy qua đảm bảo cho liên lạc nhanh chóng
thuận tiện giữa Ninh Bình và các địa phương, các vùng trong nước và liên lạc quốc tế.
Hệ thống bưu cục: 32 trạm. Các tuyến, trạm truyền thông tin: 25 tuyến, trạm. Hiện toàn
tỉnh có khoảng 6,6 máy điện thoại/ 100 dân. Mạng điện thoại di động đã phủ sóng gần
hết lãnh thổ Ninh Bình. Đến cuối 2005 đã có 112 xã có điểm bưu điện văn hóa xã ( đạt
82%).
1.5. Hệ thống dịch vụ tài chính, ngân hàng
Các cơ sở dịch vụ về tài chính, ngân hàng của Ninh Bình bao gồm hệ thống ngân
hàng nhà nước và các ngân hàng chuyên doanh, hệ thống kho bạc từ tỉnh đến các huyện,
thị xã, công ty bảo hiểm, các quĩ tín dụng nhân dân… Hệ thống các cơ sở dịch vụ này
hiện tại thường xuyên được cải tiến về nghiệp vụ chuyên môn và phong cách phục vụ,
tăng cường trang bị kĩ thuật hiện đại, thực hiện vi tính hóa trong quản lí và thanh toán…
đang ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu về vốn cho sản xuất – kinh doanh, đáp ứng tốt
hơn các công tác thanh toán, trao đổi hàng hóa – dịch vụ; phục vụ kịp thời cho công tác
Vũ Thị Hải Yến Kinh tế đầu tư 47A
lãnh đạo, quản lí của các cấp, các ngành; góp phần tích cực cho phát triển kinh tế, caỉ
thiện đời sống nhân dân trong tỉnh.
1.6. Hệ thống nhà hàng, khách sạn
Thời gian qua, với vị thế đã có và khai thác có hiệu quả tiềm năng phong phú về
tài nguyên phục vụ phát triển du lịch, Ninh Bình đã dần khẳng định du lịch là một ngành
kinh tế quan trọng của tỉnh, nhiều công trình cơ sở hạ tầng được xây dựng, tu bổ tôn tạo
để phục vụ phát triển du lịch. Hạ tầng Ninh Bình thay đổi mạnh mẽ và nhanh chóng, tạo
điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội và đặc biệt là hoạt động du lịch.
Cùng với xu hướng chung của cả nước hiện nay, do lượng khách quốc tế ngày
càng tăng và khách nội địa có nhu cầu đi nghỉ nhiều hơn nên các khách sạn nhà trọ được
xây dựng thêm để đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách du lịch. Ngành du lịch Ninh Bình
cũng không ngừng nâng cấp, xây mới khách sạn, nhà nghỉ phục vụ khách du lịch. Số
lượng khách sạn, nhà nghỉ của các thành phần kinh tế tăng nhanh cả về số lượng và qui
mô và phương thức hoạt động.

lớn. Chính vì vậy các nhà đầu tư thường không đủ khả năng hoặc không mong muốn
đầu tư vào lĩnh vực này. Nhưng cơ sở hạ tầng lại là yếu tố tiên quyết để phát triển kinh
tế - xã hội. Vậy để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Nhà nước có vai
trò rất quan trọng trong việc điều tiết nguồn vốn. Trong thời gian qua, những công trình
lớn, trọng điểm đầu tư vào cơ sở hạ tầng thường là do Nhà nước đầu tư. Sự hỗ trợ từ
ngân sách, kết hợp cả nguồn vốn địa phương và nguồn vốn đầu tư phát triển hạ tầng du
lịch của Trung ương thật sự là “xúc tác” góp phần quan trọng trong việc tạo ra môi
trường thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư trong nước và quốc tế. Tỉnh Ninh Bình
có nguồn tài nguyên du lịch phong phú nhưng với ngân sách địa phương eo hẹp nên
những năm trước đây đã không cho phép tỉnh đầu tư phát triển trong lĩnh vực này. Từ
năm 2000 đến nay, với nguồn vốn hỗ trợ của Ngân sách Trung Ương nhiều dự án đầu tư
cơ sở hạ tầng phục vụ chiến lược phát triển du lịch đã được triển khai.
Bảng 2.2. Tổng hợp các nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ 2001-2008
Vũ Thị Hải Yến Kinh tế đầu tư 47A
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu
Thời gian
thực hiện
Dự toán
được duyệt
Vốn giải ngân
đến 31/12/2008
I. Ngân sách địa phương: 5.384 4,335
1. XD Trụ sở làm việc của Sở Du lịch
2004-
2005 5.181,6 4,185.20
2. Qui hoạch khu DL Kênh Gà - Vân
Trình 2004 102,4 50
3. Bổ sung Qui hoạch Khu DL Tam
Cốc- Bích Động

Vũ Thị Hải Yến Kinh tế đầu tư 47A
Những khu du lịch trọng điểm của Ninh Bình được ưu tiên vốn đầu tư, đang gấp rút xây
dựng và hoàn thành xong phần cơ bản về hạ tầng, bắt đầu tiến hành khai thác như khu
Tam Cốc – Bích Động, Tràng An, núi chùa Bái Đính, nước nóng Kênh Gà. Các dự án
khác như: Cơ sở hạ tầng tuyến du lịch đường thủy Bích Động- Hang Bụt, Thạch Bích-
Thung Nắng, cơ sở hạ tầng Khu du lịch các làng nghề truyền thống cũng đang được gấp
rút hoàn thiện để đưa vào khai thác.
Cơ sở hạ tầng được đầu tư cải thiện là đệm phóng cho những dự án đầu tư của
khu vực tư nhân. Những năm gần đây, các doanh nghiệp trong Tỉnh cũng như ở trong
nước đang liên tiếp đăng kí đầu tư. Hiện nay, các dự án đang được triển khai thực hiện
đầu tư theo đúng tiến độ đã phê duyệt. Nhiều hạng mục công trình của các dự án đã đưa
vào khai thác, sử dụng phục vụ khách du lịch hiệu quả.
Bảng 2.3. Phân loại nguồn vốn trong nước theo khu du lịch của tỉnh Ninh Bình
tính đến 31/12/2008
Đơn vị: triệu đồng
STT Khu du lịch Vốn tư nhân
Vốn Ngân
sách
Tổng vốn
đầu tư

1 Khu DL Kênh Gà, Vân Trình, Vân Long 484.930 43.289 528.219
2 Khu DL vườn QG Cúc Phương 355.082 36.619 391.701
3 Khu phòng tuyến Tam Điệp- Biện Sơn 23.583 0 23.583
Vũ Thị Hải Yến Kinh tế đầu tư 47A
4 Khu DL Hồ Yên Thắng, Đồng Thái 1.074.840 0 1.074.840
5 Khu DL Kim Sơn, nhà thờ đá Phát Diệm 10.107 0 10.107
6 Khu DL Trung tâm thành phố Ninh Bình 973.160 0 973.160
7 Khu DL Tam Cốc Bích Động, Tràng An 639.597 4.020.257 4.659.854
Tổng vốn đầu tư vào DL của Tỉnh 3.561.299 4.100.165 7.661.464

qui chế, chương trình hành động về du lịch giai đoạn 2001-2005 làm cơ sở cho việc đầu
tư, phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh. Cũng trong năm 2000, Sở đã tổ chức các lớp học
tập, nghiên cứu về du lịch, tổ chức đi khảo sát và học tập kinh nghiệm thực tế tại các
tỉnh miền Trung và miền Nam, tham gia triển lãm gian hàng hội xuân Du lịch – Văn hóa
Việt Nam tại Vân Hồ - Hà Nội và đã đạt được giải ba toàn quốc; phối hợp với các ban
ngành trong tỉnh tổ chức thành công Lễ hội Trường Yên 2000.
Trong khuôn khổ chương trình hành động về du lịch của Tỉnh, năm 2002, Sở Du
lịch Ninh Bình đã chính thức đưa trung tâm xúc tiến đầu tư và phát triển du lịch đi vào
hoạt động và bước đầu đạt được kết quả tốt. Đơn vị này đã phối hợp với các doanh
nghiệp du lịch trên địa bàn tỉnh tích cực triển khai thực hiện các chương trình quảng bá,
xúc tiến hình ảnh du lịch Ninh Bình. Tổ chức thành công hội thi “ Nấu các món ăn dân
tộc Việt Nam ngành du lịch Ninh Bình – 2002”, phát động chương trình Báo chí viết về
du lịch Ninh Bình và đã thu hút được nhiều tầng lớp dân cư tham gia.
Nhằm đa dạng hóa các sản phẩm du lịch mang đặc trưng Ninh Bình, Sở Du lịch
đã tiến hành nghiên cứu, tổ chức thực hiện và đưa vào thử nghiệm đề tài “ Nghiên cứu
tổ chức đóng thử tàu chở khách trên sông”. Cũng trong khuôn khổ đề tài này, lần đầu
tiên du lịch Ninh Bình tiến hành khảo sát chuyên sâu và công bố kết quả về tuyến du
lịch sinh thái chùa Bái Đính – động Sinh Dược, công bố động Sinh Dươc dài 1.360 m –
một tài nguyên du lịch hết sức quí giá. Hiện nay, đang triển khai thực hiện đề tài “
Nghiên cứu cơ sở khoa học và giải pháp khai thác tiềm năng hang động Karst phục vụ
phát triển du lịch Ninh Bình” làm cơ sở để xây dựng và đưa vào khai thác các tuyến
tham quan du lịch mới nhằm từng bước đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ du lịch và nâng
cao sức hấp dẫn cho du lịch Ninh Bình.
Vũ Thị Hải Yến Kinh tế đầu tư 47A
Sở Du lịch phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam xây dựng 4 bộ phim giới
thiệu về tiềm năng du lịch Ninh Bình, gồm: “ Non nước Tràng An – Ninh Bình”, “ Non
nước Ninh Bình”, “ Làng đá Ninh Vân”, “ Về thăm Gia Viễn”. Xuất bản và đưa vào lưu
hành cuốn sách “ Non nước Ninh Bình”, đưa vào sử dụng website du lịch Ninh Bình,
xuất bản “ Thông tin du lịch Ninh Bình”.Ngành Du lịch tỉnh Ninh Bình cũng đã tổ chức
thành công các cuộc thi “ Hướng dẫn viên du lịch giỏi toàn ngành”, hoàn thiện 10 bài

đảm nhiệm.
Theo thống kê của ngành, tính đến năm 2007, số lao động trực tiếp trong ngành
du lịch là 960 người tăng 2,3 lần so với năm 2002. Số lượng lao động trong ngành có
trình độ chuyên môn về du lịch: đại học, cao đẳng 196 người chiếm 20,4%, trung cấp và
nghề 410 người chiếm 42,7%. Đào tạo trong các lĩnh vực khác (chưa qua đào tạo về du
lịch) là 219 người chiếm 22,8%. Số lao động có khả năng sử dụng một trong 3 ngoại
ngữ phổ biến (Anh – Pháp – Trung) là 315 người chiếm 33%. Riêng đối với lao động
thực hiện chức năng quản lý nhà nước về du lịch, ngành đã thực hiện tốt chủ trương thu
hút nhân tài về làm việc: Tuyển thẳng 01 sinh viên tốt nghiệp loại giỏi chuyên ngành du
lịch, tiếp nhận hơn 10 lao động có trình độ cử nhân về du lịch về công tác tại các phòng
ban, đơn vị thuộc Sở. Đưa đội ngũ nhân lực thực hiện chức năng quản lý nhà nước về
du lịch (biên chế của Sở Du lịch trước khi sát nhập thành Sở Văn hóa, Thể thao và Du
lịch) có trình độ đại học và trên đại học chiếm 39%, trình độ cao đẳng trung cấp 29%.
Bảng 2.4. Thực trạng lao động du lịch Ninh Bình giai đoạn 2003- 2007
Đơn vị: người
STT Chỉ tiêu 2003 2004 2005 2006 2007
1 Lao động trực tiếp làm du lịch 470 621 650 916 960
- Trình độ đại học, cao đẳng 50 70 85 183 196
- Trình độ trung cấp và sơ cấp nghề 195 158 190 322 410
- Trình độ đào tạo khác 195 215 255 220 219
- Có khả năng giao tiếp 1 trong 3 ngoại ngữ
Anh, Pháp, Trung 147 180 286 290 315
Vũ Thị Hải Yến Kinh tế đầu tư 47A
2 Số lao động gián tiếp làm du lịch 5620 5700 5750 5900 6150
Nguồn: Sở Văn hóa – Thể thao – Du Lịch Ninh Bình
Nguồn nhân lực du lịch được coi là yếu tố quan trọng để thực hiện thắng lợi chủ
trương phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, động lực thúc đẩy sự phát
triển các ngành nghề dịch vụ và nâng cao đời sống nhân dân theo tinh thần Nghị quyết
số 03-NQ/TƯ của Ban Thường vụ Tỉnh ủy (khóa XIV về phát triển du lịch đến 2010 và
kế họach số 17/KH - UBND ngày 16/8/2006 của UBND tỉnh về việc thực hiện thông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status