Tạo cơ sở dữ liệu quản lí sản xuất tại doanh nghiệp X - Pdf 13

1. Những đóng góp của ngành thương mại Việt Nam
Thương mại hình thành và phát triển thành một ngành kinh tế độc lập
tương đối,một bộ phận cấu thành của nền kinh tế,chuyên đảm nhậnviệc tổ
chức lưu thông hàng hoá.Nó có vai trò quan trọng đốivới sự phát triển của
nền kinh tế ở mỗi quốc gia.Trong điều kiện ở nước ta nền kinh tế thị trường
được xây dựng dựa trên nền tảng của một nước kém phát triển kinh tế nông
nghiệp nghèo nàn lạc hậu,trình độ quản lý điều hành còn hạn chế.Vì thế theo
định hướng của Đảng và Nhà nước ta là xoá bỏ cơ chế quản lýkế hoạch hoá
tập trung quan liêu bao cấp sang quản nền kinh tế thị trường vận hành theo
định hướng xã hội chủ nghĩa mà thương mại sẽ đóng vai trò quan trọng trong
guồng máy vận hành.
a) Thương mại tạo các điều kiện chuyển nền kinh tế tự cung tự cấp
sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước
Trong lịch sử phát triển xã hội loài người,thương mại đã từng đóng vai
trò khá quan trọng đó là xoá bỏ nền sản xuất nhỏ tạo điều kiện thuận lợi thúc
đẩy ra đời nền sản xuất hàng hoá (hàng hoá sản xuất ra để trao đổi).Trong
thời kỳ chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế này vai trò của thương mại lại được
khẳng định như một mắt xích không thể thiếu được trong quá trình vận hành
nền kinh tế theo cơ chế thị trường.Thương mại tác động tích cực thúc đẩy
quá trình phân công lại lao động xã hội ở nước ta,chuyên môn hoá và hợp tác
sản xuất,hướng sản xuất theo nền sản xuất hàng hoá lớn,tạo ra nguồn hàng
lớn cung cấp cho chu cầu đa dạng trong nước và xuất khẩu.Thương mại là
yếu tố trực tiếp thúc đẩy lưu thông hàng hoáphát triển,cung ứng hàng hoá và
dịch vụ thông suốt trong vùng các trọng điểm kinh tế của đất nước.Sự hoạt
động của thương mại bên cạnh chịu sự chi phối của các quy luật nền kinh tế
hàng hoá,còn thực hiện cácchính sách kinh tế xã hội,cung ứng tư liệu sản
xuất,vật phẩm tiêu dùng và mua các sản phẩm ở vùng kém phát triển,kinh tế
khó khăn để thúc đẩy kinh tế hàng hoá ở các vùng này phát triển,đẩy lùi kinh
1
tế tự nhiên rút ngắn khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng,cân bằng lại các
hoạt động kinh tế.

phần kinh tế không được khuyến khích phát triển,quan hệ cung cầu vốn đã
mất cân đối lại càng mất cân đối hơn.Nhưng từ khi chuyển sang nền kinh tế
thị trường hoạt động thương mại chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế thị
trường đã góp phần kích thích sản xuất phát triển,cung ứng hàng hoá và dịch
vụ cho nhân dân .Thương mại đã có nhiều những đóng góp tích cực trong
việc ổn định và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân,cung
ứng hàng hoá và dịch vụ theo yêu cầu của nhân dan về số lượng cũng như
mẫu mã và chất lượng hàng hoá với giá hợp lý và phong cách phục vụ quần
chúng một cách tốt nhất .
Hoạt động thương mại thông qua cơ chế thị trường kích thích các nhà
sản xuất kinh doanh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật ,đổi mới trang thiết
bị và quy trình công nghệ ,ứng dụng khoa học vào quản lý để nền sản xuất
ngày một phong phú tiên tiến hơn,có đủ sức cạnh tranh trên thị trường .Đây
là những tiến trình quan trọng trên con đường công nghiệp hoá ,hiện đại hoá
đất nước.Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại
hoá là một quá trình chịu sự tác động của nhiều nhân tố trong đó thị trường
và thương mại có ý nghĩa quan trọng.Hoạt động thương mại có tác dụng phát
triển thị trường trong nước và ngoài nước thông qua xuất nhập khẩu .Hàng
hoá tiêu thụ nhanh,giá trị hàng hoá được thực hiện ,phần tích luỹ trong cơ
cấu giá cả hàng hoá được hình thành.Mặt khác bản thân thương mại cũng
góp phần tích luỹ phần tích luỹ của thương mại chính là lợi nhuận do thực
hiện chức năng lưu thông nói đúng hơn là do thực hiện chức năng tiếp tục
quá trình sản xuất trong lưu thông tạo ra.Như vậy hoạt động thương mại góp
phần tích luỹ vốn cho sự nghiệp ,công nghiệp hoá ,hiện đại hoá đất nước,trên
con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội phồn vinh và phát triển.
d) Thương mại góp phần mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại và hội
nhập
Các quy luật phân công và hợp tác lao động ,về lợi thế so sánh giữa
các quốc gia,vốnlà những quy luật có liên quan đến sự hình thành và phát
3

thổ.
4
- Từ vài chục doanh nghiệp nhà nước được độc quyền kinh doanh
xuất nhập khẩu; hệ thống thương nghiệp xã hội chủ nghĩa chiếm vị trí độc
tôn kinh doanh trên thị trường nội địa, thì nay mọi doanh nghiệp ở mọi quy
mô kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế đều có quyền tiếp cận trực tiếp
với thị trường trong, ngoài nước.
- Trong một thời gian dài, kinh doanh xuất khẩu diễn ra theo kiểu
"hàng xén", nghĩa là xuất khẩu nhiều mặt hàng nhưng kim ngạch ở từng mặt
hàng chỉ vài chục nghìn USD đến vài chục triệu USD. Đến nay, chúng ta đã
có 7 nhóm ngành hàng có kim ngạch xuất khẩu từ 500 triệu USD trở lên;
nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu có thứ hạng cao trên thị trường thế giới
như hồ tiêu, gạo, cà phê, cao su, điều nhân…
- Từ chỗ chỉ xuất khẩu gia công, xuất khẩu theo giá FOB…, thì
nay, một số doanh nghiệp đã lập văn phòng đại diện thương mại ở nước
ngoài, thậm chí tổ chức phân phối trực tiếp ở thị trường nước xuất khẩu, một
số doanh nghiệp đầu tư mở siêu thị tại Campuchia, Lào, Nga… tổ chức hội
chợ để tăng cường đưa hàng hoá của Việt Nam sang các nước khu vực và thế
giới.
- Trên thị trường nội địa, từ chỗ phân phối sản phẩm theo kiểu
người mua phải "cầu cạnh" người bán, nay đã chuyển sang kinh doanh
thương mại, khách hàng được tôn vinh là "thượng đế" với nhiều phương thức
kinh doanh hiện đại như bán qua Internet, qua hệ thống siêu thị…
- Thúc đẩy sản xuất phát triển cung ừng các nhu cầu cho nhân
dân và đẩy mạnh quá trình CNH-HĐH đất nước: là cầu nối giữa sản xuất và
tiêu dùng thương mại cung ứng các tư liệu sản xuất cần thiết, tạo diều kiện
cho tái sản xuất tiến hành một cách thuận lợi. Hoạt động thương mại thông
qua cơ chế thị trường kích thích các nhà sản xuất kinh doanh ứng dụng tiến
bộ khoa học kỹ thuật, đổi mới trang thiết bị và quy trình công nghệ, ứng
dụng khoa học vào quản lý đẻ nền sản xuất ngày một phong phú tiên tiến

tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực
vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực.
- Về quan hệ hợp tác song phương, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại
giao với hơn 170 quốc gia trên thế giới, mở rộng quan hệ thương mại,
xuất khẩu hàng hoá tới trên 230 thị trường của các nước và vùng lãnh
thổ[1], ký kết trên 90 Hiệp định thương mại song phương, gần 60 Hiệp
định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 54 Hiệp định chống đánh thuế hai
lần và nhiều Hiệp định hợp tác về văn hoá song phương với các nước và
các tổ chức quốc tế.

- Việt Nam đã thiết lập quan hệ tốt với tất cả các nước lớn, trong đó có
5 nước thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (P5), các nước
trong nhóm G8; nâng quan hệ đối tác chiến lược với Trung Quốc trở
thành đối tác chiến lược toàn diện, gia tăng nội hàm của quan hệ đối
tác chiến lược với Nga, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Nhật
Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Anh, Tây Ban Nha. Số lượng các cơ quan
đại diện của ta ở nước ngoài cũng tăng lên (91 cơ quan) với 65 đại
sứ quán, 20 tổng lãnh sự quán, 4 phái đoàn thường trực bên cạnh các
tổ chức quốc tế, 1 văn phòng kinh tế văn hóa.

- Về hợp tác đa phương và khu vực: Việt Nam đã có mối quan hệ tích
cực với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như Ngân hàng phát triển
Á Châu, Quỹ tiền tệ thế giới, Ngân hàng thế giới. Tiến trình hội nhập
kinh tế quốc tế của Việt Nam được đẩy mạnh và đưa lên một tầm cao
hơn bằng việc tham gia các tổ chức kinh tế, thương mại khu vực và
thế giới, ký kết các hiệp định hợp tác kinh tế đa phương. Tháng
7/1995 Việt Nam đã gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
(ASEAN) và chính thức tham gia Khu vực thương mại tự do ASEAN
(AFTA) từ 1/1/1996. Đây được coi là một bước đột phá về hành động
trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Tiếp đó, năm

đồng bộ nhằm tận dụng tốt các cơ hội và vượt qua thách thức trong
giai đoạn ta hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu.

- Là thành viên của WTO, ta đã cố gắng tham gia tích cực các cuộc
đàm phán trong khuôn khổ WTO ở các nội dung có liên quan đến Việt
Nam có liên quan đến Việt Nam như nông nghiệp, công nghiệp, sở
hữu trí tuệ, trợ cấp thủy sản và chương trình hỗ trợ thương mại của
WTO…

8
- Việt Nam đang tích cực chuẩn bị cho phiên rà soát chính sách
thương mại lần đầu tiên của Việt Nam, dự kiến diễn ra trong khoảng
thời gian đầu năm 2013.
* Trong khuôn khổ ASEAN

- Sau 16 năm tham gia Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN,
1995-2011), mối quan hệ hợp tác khu vực giữa Việt Nam với ASEAN
ngày càng phát triển toàn diện và có tác động sâu sắc tới đời sống kinh tế,
xã hội và chính trị của Việt Nam, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam
trên các diễn đàn hợp tác khu vực và thế giới. Đối với Việt Nam,
ASEAN luôn là đối tác thương mại và đầu tư lớn nhất (riêng năm 2009,
ASEAN là nhà đầu tư lớn thứ 2 của Việt Nam, sau Hoa Kỳ).

- Việc thực hiện các cam kết hội nhập sâu rộng nhằm xây dựng Cộng
đồng ASEAN vào năm 2015 đã đóng góp thiết thực cho việc cải thiện
môi trường luật pháp trong nước, tạo thuận lợi cho sản xuất kinh
doanh và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, cũng như làm cơ sở, làm
tiền đề giúp Việt Nam tham gia các khuôn khổ hợp tác song phương
và đa phương khác.


* Trong khuôn khổ ASEM

- Là diễn đàn đại diện hơn 60% dân số thế giới và đóng góp hơn 50%
tổng sản phẩm quốc nội (GDP) toàn cầu, ASEM không chỉ là cầu nối
cho quan hệ đối tác mới giữa hai châu lục Á-Âu mà còn hướng tới
mục tiêu đem lại những đóng góp thiết thực cho hòa bình, hợp tác và
phát triển trên thế giới.

- Trong hai năm qua (2010-2011), Việt Nam đã tích cực đề xuất và triển
khai nhiều sáng kiến, hoạt động của ASEM, nổi bật là việc tổ chức thành
công nhiều hội thảo quan trọng như "Hội thảo về tăng cường hình ảnh
ASEM thông qua các hoạt động văn hóa", "Hội thảo ASEM về vượt qua
khủng hoảng- định hình sự phát triển bền vững", "Diễn đàn ASEM về an
ninh lương thực", "Diễn đàn ASEM về biến đổi khí hậu", "Diễn đàn
ASEM về lưới an toàn xã hội", Diễn đàn Á – Âu (ASEM) về tăng trưởng
xanh với chủ đề: “Cùng hành động hướng tới các nền kinh tế xanh
tăng”…

2. Việt Nam đang tích cực tham gia vào đàm phán, ký kết các Hiệp định
thương mại tự do

Trong những năm gần đây, thế giới đang được chứng kiến sự gia
tăng nhanh chóng của các Hiệp định thương mại tự do (FTA) để thiết
lập các Khu vực thương mại tự do. Phù hợp với xu hướng hội nhập
10
kinh tế quốc tế của thế giới và khu vực, tiến trình đàm phán và ký
kết các FTA của Việt Nam đã được khởi động và triển khai cùng với
tiến trình gia nhập các tổ chức quốc tế và khu vực. Đến nay, Việt
Nam đã tham gia thiết lập FTA với 15 nước trong khung khổ của 6
FTA khu vực, bao gồm:

hàng hoá ASEAN - Ấn độ (AITIG) ký kết năm 2009, thực hiện từ
01/06 năm 2010.
11
Ngoài việc ký kết và tham gia các Hiệp định Thương mại tự do với
tư cách là thành viên khối ASEAN thì Hiệp định Thương mại tự do
đầu tiên mà Việt Nam ký kết với tư cách là một bên độc lập là Hiệp
định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (2008), tiếp đó là Hiệp
định Thương mại tự do Việt Nam – Chi Lê (11/11/2011). Hiện Việt
Nam đang nghiên cứu tiền khả thi và triển khai đàm phán FTA với
một số đối tác như EFTA (bao gồm 4 nước là Thuỵ Sỹ, Na Uy,
Liechtenstein và Ai-xơ-len), Liên minh Hải quan (bao gồm 3 nước là
Nga, Belarus và Kazakhstan), EU, Đài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ Việt
Nam cũng đã chính thức tham gia vào đàm phán Hiệp định Đối tác
kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) từ tháng 11/2010.
3. Việt Nam đã và đang thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế quốc
tếvới mức độ tự do hoá sâu rộng

* Các cam kết trong khuôn khổ WTO:

- Toàn bộ các cam kết về thuế quan của Việt Nam trong WTO được
thể hiện trong Biểu cam kết về Hàng hoá của Việt nam:

- Việt Nam cam kết ràng buộc với toàn bộ Biểu thuế nhập khẩu hiện
hành gồm 10.600 dòng thuế.

- Thuế suất cam kết cuối cùng có mức bình quân giảm đi 23% so với
mức thuế bình quân hiện hành (thuế suất MFN) của Biểu thuế (từ 17,4%
xuống còn 13,4%). Thời gian thực hiện sau 5- 7 năm.

- Trong toàn bộ Biểu cam kết, Việt Nam cắt giảm thuế với khoảng

được giữ nguyên thuế suất cơ sở và 4,75% số dòng thuế được giảm
thuế một phần.
4. Việt Nam đã và đang gặt hái được những thành tựu trong việc tự
do hoá thương mại và mở cửa thị trường
- Thời kỳ 2001-2010, tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa
bình quân 17,42%, cao hơn 2,42% so với chỉ tiêu đề ra tại Chiến
lược phát triển xuất khẩu 2001-2010.

Tính riêng trong giai đoạn 2007-2010, là giai đoạn sau khi gia nhập
WTO, xuất khẩu tăng bình quân 14% năm, nhập khẩu tăng bình
quân 11% năm.

Đến năm 2011, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, kim ngạch hàng
hóa xuất khẩu đạt 96,3 tỷ USD là là mức cao nhất từ trước tới nay, tăng
13
33,3% so với kỷ lục đạt được trong năm 2010. Đồng thời, mức nhập
siêu của năm 2011 là mức thấp nhất trong vòng 5 năm qua.
Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001-2010 đã có
sự chuyển dịch khá tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng nhóm hàng
chế biến và giảm dần hàng xuất khẩu thô. Trong đó, tỷ trọng của
nhóm hàng nông, lâm, thuỷ sản giảm dần từ 29,37% năm 2001
xuống còn 23,3% vào năm 2010; nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu
thủ công nghiệp đã tăng mạnh từ 35,72% vào năm 2001, lên 48,9%
năm 2010; nhóm hàng nhiên liệu khoáng sản giảm từ 34,92% năm
2001 xuống còn 27,8% năm 2010.
- Thị trường ngoài nước ngày càng mở rộng, đa dạng. Số lượng thị
trường xuất khẩu đã tăng gấp hơn 1,4 lần sau 10 năm, từ 160 thị
trường lên trên 230 thị trường. Cơ cấu thị trường xuất, nhập khẩu đã
có sự chuyển dịch theo hướng giảm dần lệ thuộc vào thị trường Châu
Á.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status