Hệ thống y tế cho người nghèo ở Việt Nam kể từ Quyết định số 139/2002 QĐ-TTg
LỜI NÓI ĐẦU
Trên thế giới hiện nay, bất cứ quốc gia nào cũng phải đối mặt với hiện trang phân
hóa giàu nghèo, ngay từ các siêu cường quốc như Mỹ, Anh đến các nền kinh tế mới nổi
như Trung Quốc, Ấn Độ cũng như các nước nghèo nhất thế giới như Zimbabue…Chênh
lệch giàu nghèo thực ra là một quá trình tự nhiên, tất yếu của xã hội loài người bởi vì cứ
khi có sự phân công lao động là có sự phân hoá giàu nghèo. Thế nhưng khi kinh tế càng
phát triền bao nhiêu, thì sự chênh lệch này càng đi xa và gây ra nhiều hậu quả bấy nhiêu.
Một nguyên nhân khiến sự chênh lệch giàu nghèo ngày càng tăng, khiến cho người
nghèo thì nghèo hơn trong khi những người giàu lại càng ngày càng tích góp được của cải
nhiều hơn chính là sự tiếp cận của người nghèo đến những điều kiện học tập và cơ hội
nâng cao sức khỏe không nhiều.
Chính vì thế, Chính phủ các nước đã đưa nhiều biện pháp, đưa ra các chính sách và
luật để hỗ trợ người nghèo tiếp cận đến những cơ hội nâng cao học vấn và sức khỏe …
hay còn gọi là các chính sách an sinh xã hội. Trong đó, các chính sách hỗ trợ về y tế thực
sự là mối quan tâm của tất cả các nước cũng như tất cả người dân, đặc biệt là những
người nghèo. Việc chính phủ ngày càng gia tăng các ưu đãi y tế cho người nghèo đã góp
phần tạo công bằng xã hội, thể hiện sự nhân ái, chia sẻ trong toàn thể tầng lớp dân cư.
Quyết định số 139/2002 QĐ-TTg ra đời đã tạo ra 1 bước ngoặt lớn, tạo hiệu quả cao trong
việc hỗ trợ y tế cho người nghèo tại Việt Nam.
Đó chính là lý do nhóm tiểu luận của môn kinh tế phát triển đã tìm hiểu, nghiên
cứu về Hệ thống y tế cho người nghèo ở Việt Nam kể từ Quyết định số 139/2002 QĐ-
TTg.
Nhóm 9 - KTE406.3_LT
1
Hệ thống y tế cho người nghèo ở Việt Nam kể từ Quyết định số 139/2002 QĐ-TTg
NỘI DUNG
I/ Khái quát chung
1) Người nghèo là gì?
Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu
chuẩn tối thiểu nhất định. Thước đo các tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến
triệu đồng/người/năm) trở xuống.
3/ Chính sách xã hội và chính sách y tế là gì
Chính sách xã hội là sự cụ thể hoá, thể chế hoá các đường lối, chủ trương để giải
quyết những vấn đề xã hội dựa trên những tư tưởng, quan điểm phù hợp với bản chất xã
hội-chính trị phản ánh lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng xã hội nói chung và của từng
nhóm xã hội nói riêng nhằm tác động trực tiếp vào con người và điều chỉnh các quan hệ
giữa con người với con người, giữa con người với xã hội, hướng tới mục đích cao nhất là
thoả mãn những nhu cầu ngày càng tăng về đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần của
nhân dân. [Bùi Đình Thanh, Xã hội học và Chính sách xã hội, NXB KHXH, Hà Nội,
2004, tr 290]
Chính sách y tế bao gồm những quyết định, kế hoạch, và hành động được thực
hiện để đạt được các mục tiêu chăm sóc sức khỏe cụ thể trong một xã hội.
Nhóm 9 - KTE406.3_LT
3
Hệ thống y tế cho người nghèo ở Việt Nam kể từ Quyết định số 139/2002 QĐ-TTg
/>4/ Chính sách y tế cho người nghèo là gì
Chăm sóc sức khỏe cho người nghèo là một trong những định hướng ưu tiên của
Đảng, Nhà nước và là chủ trương nhất quán của ngành. Nhiều năm qua, Chính phủ dành
sự quan tâm cho việc chăm sóc sức khỏe người nghèo và người dân tộc thiểu số. Điều này
được cụ thể hóa thông qua việc Chính phủ ban hành một số chính sách nhằm tăng cường
khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế cho người nghèo.
Nhằm tạo điều kiện và cải thiện việc tiếp cận dịch vụ y tế DVYT cho người nghèo,
năm 2002 Chính phủ đã ban hành Quyết định 139/2002/QĐ-TTg về việc thành lập Quỹ
khám chữa bệnh cho người nghèo. Quyết định đã quy định, quỹ khám chữa bệnh cho
người nghèo được dùng để Mua thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo hoặcthực thanh thực
chi cho dịch vụ khám chữa bệnh tại tuyến xã và viện phí và một số cách thức khác nhằm
hỗ trợ cho người nghèo.
Quyết định này đánh dấu bước ngoặt trong công tác khám chữa bệnh và khẳng định
sự quan tâm của Chính phủ dành cho người nghèo. Đây là bước tiến quan trọng trong việc
xác định cụ thể nguồn kinh phí dành cho công tác khám chữa bệnh cho người nghèo.
ngân sách địa phương hàng năm.
2. Bộ Y tế hướng dẫn các cơ sở khám chữa bệnh của nhà nước tổ chức thực hiện khám,
chữa bệnh cho người nghèo theo qui định tại Quyết định này.
3. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Uỷ ban Dân tộc phối hợp với các Bộ, ngành
liên quan hướng dẫn các địa phương xác định đối tượng được hưởng chế độ khám, chữa
bệnh theo Quyết định này.
Nhóm 9 - KTE406.3_LT
5
Hệ thống y tế cho người nghèo ở Việt Nam kể từ Quyết định số 139/2002 QĐ-TTg
4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Uỷ ban nhân dân tỉnh, Bộ Ngoại giao, Bộ Tài
chính, Bộ Y tế huy động sự đóng góp của các tổ chức kinh tế - xã hội, các cá nhân trong
nước và nước ngoài, Chính phủ các nước và các tổ chức phi Chính phủ hỗ trợ Quỹ khám,
chữa bệnh cho người nghèo.
5. Đề nghị Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của
Mặt trận vận động các tổ chức, cá nhân hỗ trợ Quỹ khám, chữa bệnh cho người nghèo và
giám sát việc thực hiện
II. Hệ thống y tế cho người nghèo ở VN kể từ Quyết định số
139/2002 QĐ-TTg
1) Tài chính y tế cho người nghèo ở VN
1.1 Nguồn tài chính dành cho hệ thống y tế
1.1.1) Các nguồn vốn hình thành ngân sách cho hệ thống y tế
- Vốn Chương trình Mục Tiêu Quốc Gia thuộc ngành Y tế. Đây là chương trình thực
hiện các dự án y tế do nhu cầu của xã hội, nhằm giải quyết một vấn đề đặc biệt cấp thiết
với những mục tiêu rõ ràng, trong một thời gian nhất định, nhằm tạo ra một cơ sở tiền đề
để tiếp tục duy trì và phát triển những thành quả đã đạt được. Mục đích cuối cùng là nâng
cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân. Một số ví dụ: chương trình phòng
chống bệnh đái tháo đường phê duyệt vào cuối năm 2008, Chương trình quốc gia phòng,
chống các rối loạn do thiếu hụt iod (PGS.TS. Tạ Văn Bình - người đã có nhiều năm làm
Chương trình quốc gia phòng, chống các rối loạn do thiếu hụt iod)
+) Số lượng giai đoạn 2006-2010: 9, 418 tỷ đồng . Cụ thể:
Trong giai đoạn 1998-2008, tính theo giá so sánh, tốc độ tăng chi y tế bình quân hằng
năm đạt 9,8% cao hơn so với tốc độ tăng GDP bình quân hằng năm năm 2000 luôn đạt
mức trên 5% và đạt 6.2% GDP năm 2007.
Nhóm 9 - KTE406.3_LT
8
Hệ thống y tế cho người nghèo ở Việt Nam kể từ Quyết định số 139/2002 QĐ-TTg
Nguồn: Bộ Y tế, Tài khoản Y tế quốc gia 2000-2009
Nhìn bản đồ trên ta thấy nhìn chung tổng chi y tế tính theo % so với GDP đã tăng liên tục
từ 1998- 2009.
Theo Tổ chức Y tế thế giới, tổng chi cho y tế cần chiếm ít nhất 4-5% GDP để có thể đạt
được mục tiêu chăm sóc sức khỏe toàn dân. So với nhiều nước khác Việt Nam có tỷ lệ
tổng chi y tế so với GDP cao hơn mặc dù GDP bình quân đầu người của Việt Nam
thấphơn các nước này như Ma-lai-xia, Thái Lan, Trung Quốc…
Quốc gia % tổng chi y tế so với GDP % chi công cho y tế so với
tổng chi y tế
Indonexia 2,2 55
Thái Lan 3.7 73
Philipin 3.9 35
Trung Quốc 4.3 45
Malayxia 4.6 44
Hàn Quốc 6.3 55
Việt Nam 6.2 38
Nguồn: WHO financing fact sheet, WHO Vietnam Country Office, 2010 [129]
Nhóm 9 - KTE406.3_LT
9
Hệ thống y tế cho người nghèo ở Việt Nam kể từ Quyết định số 139/2002 QĐ-TTg
Chi phí y tế bình quân đầu người của Việt Nam năm 2008 là 1,1 triệu đồng, tính tương
đương sức mua Đô-la thì đạt mức $PPP 178. Chi phí y tế bình quân đầu người tăng
nhanh, tính theo giá thực tế thì tăng gấp 4,6 lần từ 1998 đến 2008. Tuy nhiên, để đánh giá
trị giá thực của chi y tế phải điều chỉnh theo chỉ số giảm phát. Sử dụng chỉ số giảm phát
sách miễn giảm viện phí cho các đối tượng không có khả năng chi trả.
- Quĩ xoá đói giảm nghèo do NSNN chi trả: người bệnh nghèo được khám chữa bệnh như
hình thức BHYT bắt buộc
Từ khi có Quyết định 139/2002/QĐ-TTg về việc thành lập Quỹ Khám chữa bệnh cho
người nghèo tại cấp tỉnh, công tác KCB cho người nghèo bao gồm cả nhóm dân tộc thiểu
số sống tại sáu tỉnh miền núi phía Bắc, năm tỉnh Tây Nguyên và tất cả những người dân
sống ở các xã “135” đã có những bước tiến mới về cả quy mô người hưởng lợi cũng như
mức quyền lợi cao hơn hẳn cho người nghèo.
Trong giai đoạn đầu thực hiện Quyết định 139, Quỹ Khám chữa bệnh người nghèo tại các
tỉnh được sử dụng theo hai hình thức: mua BHYT cho người nghèo hoặc chi trả trực tiếp
cơ sở y tế chi phí khám chữa bệnh cho người nghèo. Kinh phí từ ngân sách nhà nước cấp
mua BHYT cho người nghèo tăng nhanh qua các năm do mức mệnh giá thẻ tăng lên từ 50
000đ (2002), 60 000đ (2006), 80 000đ (2007), 130 000 (2008), rồi 394 200 (2010, khi áp
Nhóm 9 - KTE406.3_LT
11
Hệ thống y tế cho người nghèo ở Việt Nam kể từ Quyết định số 139/2002 QĐ-TTg
dụng 4,5% lương tối thiểu), trong khi số đối tượng được cấp thẻ BHYT người nghèo
không giảm.
Nguồn: Bộ y tế, Niên giám thống kê y tế 2005- 2009
Theo Quyết định số 289/QĐ-TTg ngày 18/3/2008, ngân sách nhà nước hỗ trợ 50% mệnh
giá thẻ bảo hiểm y tế đối với thành viên thuộc hộ cận nghèo tham gia bảo hiểm y tế tự
nguyện. Theo lộ trình thực hiện BHYT toàn dân quy định trong Luật BHYT, việc bao phủ
đối tượng cận nghèo được thực hiện vào năm 2010.
2) Thực trạng hệ thống y tế ở VN kể từ Quyết định số 139/2002 QĐ-TT
2.1) Giai đoạn trước khi ban hành Quyết định số 139/2002 QĐ-TTg
2.1.1. Các biện pháp được áp dụng
Trước khi có quyết định 139/2002/QĐ-TTg, nhiều biện pháp đã được thực hiện nhằm
giúp người nghèo được khám chữa bệnh (KCB) khi cần thiết, bao gồm việc miễn giảm
viện phí tại các bệnh viện Nhà nước, cấp thẻ KCB miễn phí hoặc thẻ BHYT cho người
nghèo, cấp thuốc miễn phí. Tuy nhiên việc thực hiện các biện pháp này trên thực tế còn
Nhóm 9 - KTE406.3_LT
13
Hệ thống y tế cho người nghèo ở Việt Nam kể từ Quyết định số 139/2002 QĐ-TTg
Quy định trong việc KCB cho người nghèo còn nhiều thủ tục chồng chéo và rườm
rà, gây khó khăn cho người nghèo trong việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế, đơn cử như
quy trình mua thẻ BHYT cho người nghèo ở các tỉnh, địa phương phải duyệt qua các
bước sau: Sở LĐ-TBXH lập danh sách dựa trên báo cáo từ cơ sở gửi về, sau đó tập hợp
trình UBND tỉnh phê duyệt, Sở Y tế dựa trên danh sách này phê chuẩn và chuyển kinh phí
cho BHXH tỉnh để in ấn, lập mã số, cấp phát thẻ. Thẻ từ đây chuyển về các làng xã cấp
phát cho dân.
2.1.2. Tình hình KCB của người nghèo trước những chính sách trên
+ Hiện tượng không chữa bệnh:
Kết quả của nhiều nghiên cứu trước năm 2002 cho thấy tình trạng không chữa bệnh ở
người nghèo phổ biến hơn so với các nhóm đối tượng khác. Theo một nghiên cứu của Bộ
Y tế thực hiện tại một số tỉnh từ 2000 đến 2002 cho thấy ở miền Bắc, tỷ lệ người nghèo bị
ốm không điều trị chiếm tỷ lệ khoảng 40%. Kết quả Điều tra y tế Quốc gia 2001-2002
(ĐTYTQG) cũng tương tự là người nghèo khi ốm không điều trị chiếm tỷ lệ khá cao gần
40%.
+ Người nghèo chưa tiếp cận được với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe có chất lượng.
Số lượt sử dụng DVYT ngoại trú bình quân của một người nghèo trong một năm
thấp hơn rõ rệt so với người không nghèo. Theo ĐTYTQG 2001–2002, người nghèo đi
khám bệnh khoảng 2,9 lượt/năm, ít hơn nhiều so với người có điều kiện kinh tế khá và
giàu là 4,7 lượt/năm.
Đa số người nghèo có xu hướng sử dụng dịch vụ nội trú tại bệnh viện huyện, phòng
khám đa khoa khu vực và kể cả tại trạm y tế ở những vùng khó khăn. Ngược lại, người
càng giàu càng có xu hướng sử dụng dịch vụ nội trú của bệnh viện tỉnh và TW. Theo
Nhóm 9 - KTE406.3_LT
14
Hệ thống y tế cho người nghèo ở Việt Nam kể từ Quyết định số 139/2002 QĐ-TTg
nghèo mắc nợ do chi phí khám chữa bệnh. Theo kết quả ĐTYTQG 2002, tỷ lệ những
người nghèo phải vay mượn tiền để chi trả cho điều trị nội trú chiếm tới 67%. Các kết quả
này đều chỉ ra rằng gánh nặng chi phí y tế đối với người nghèo khá lớn.
Tóm lại, có thể thấy rằng những khó khăn về tài chính làm cho người nghèo không
dám đi khám chữa bệnh, những khó khăn về tài chính cũng cản trở các địa phương nâng
cao chất lượng các cơ sở y tế của mình. Vì vậy, người nghèo là những người phải chịu
thiệt thòi nhất khi tham gia vào các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Đặt trong hoàn cảnh
những năm 2000, mặc dù đã có nhiều biện pháp được đưa ra nhằm giúp người nghèo
được khám chữa bệnh khi cần thiết như miễn giảm viện phí ở các bệnh viện nhà nước cho
người nghèo, cấp thẻ khám chữa bệnh miễn phí hoặc thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo,
cấp thuốc miễn phí, nhưng những giải pháp này không mang tính hệ thống, mới chỉ áp
dụng được đối với một số trường hợp đặc biệt do còn nhiều vướng mắc trong các thủ tục
hành chính. Mặt khác những biện pháp này không mang tính khả thi về lâu dài, từ đó đặt
ra những yêu cầu về một biện pháp mang tính hệ thống, phổ thông để áp dụng cho tất cả
các địa phương và giải quyết được bài toán cấp thiết là nguồn kinh phí cho các hoạt
động khám chữa bệnh cho người nghèo.
2.2) Giai đoạn sau khi ban hành Quyết định số 139/2002 QĐ-TTg
2.2.1. Thành quả
Sau khi ban hành Quyết định 139/2002 QĐ-TTg, người nghèo đã có nhiều thuận lợi
hơn trong việc tìm kiếm các DVYT. Qua các năm triển khai từ 2003 đến nay, tình hình
KCB cho người nghèo có những thay đổi nhất định. Sau khi Quỹ khám chữa bệnh người
nghèo được thành lập đã có một tỷ lệ đáng kể người nghèo được hưởng lợi từ Quỹ này.
Theo thống kê, số lượng đối tượng hưởng lợi từ Quỹ khám chữa bệnh người nghèo là
14,3 triệu người, chiếm khoảng 17,5% dân số toàn quốc. Năm 2003, có 11 lượt triệu
Nhóm 9 - KTE406.3_LT
16
Hệ thống y tế cho người nghèo ở Việt Nam kể từ Quyết định số 139/2002 QĐ-TTg
người đã được hưởng chế độ khám chữa bệnh cho người nghèo theo Quyết định
139/2002/QĐ-TTg, tăng lên gấp 3 lần so với thời gian trước khi ban hành QĐ
139/2002/QĐ-TTg.
đa số người nghèo khá hài lòng với các dịch vụ y tế ngoại trú và nội trú. Sự hài lòng của
người bệnh được đánh giá thông qua nhiều chỉ số như thời gian chờ đợi, quy trình khám
chữa bệnh, điều kiện cơ sở vật chất của cơ sở y tế và thái độ của cán bộ y tế đối với người
bệnh.
2.2.2. Hạn chế
+ Rào cản do các chi phí gián tiếp.
Quyết định 139/2002/QĐ-TTg đã giúp người nghèo tăng khả năng tiếp cận và sử
dụng các DVYT lên đáng kể. Tuy nhiên, kể cả được hỗ trợ kinh phí khám chữa bệnh thì
một bộ phận người nghèo vẫn gặp nhiều khó khăn khi đi KCB do phải trả thêm chi phí
KCB trực tiếp không được BHYT thanh toán như tiền thuốc, vật tư v.v. và các chi phí
gián tiếp khác như đi lại, ăn uống, đồ dùng cá nhân v.v.
Nhằm hỗ trợ chi phí gián tiếp, một số dự án đã xây dựng các gói can thiệp nhằm
giảm chi phí gián tiếp của người nghèo như dự án Y tế Tây Nguyên (do ADB và Sida-
Thụy Điển hỗ trợ). Bên cạnh việc được BHYT thanh toán khi đi KCB, người nghèo ở 5
tỉnh Tây Nguyên còn được hỗ trợ thêm các khoản chi phí gián tiếp khác như ăn uống và
đi lại. Việc hỗ trợ chi phí gián tiếp đã tăng khả năng tiếp cận CSYT của người dân rõ rệt,
khoảng 51% hộ gia đình có thẻ BHYT có người ốm được đến KCB ở bệnh viện. Kết quả
này cao hơn hẳn nếu so với kết quả của một điều tra năm 2006. Theo một nghiên cứu của
Viện Chiến lược và Chính sách Y tế, năm 2006 tỷ lệ sử dụng dịch vụ bệnh viện của hộ gia
đình có người ốm chỉ khoảng 8% ở tỉnh Gia Lai. Như vậy, khả năng tiếp cận dịch vụ bệnh
viện của người dân có thẻ BHYT người nghèo tại 5 tỉnh Tây Nguyên tăng lên đáng kể.
Tuy nhiên, theo khảo sát năm 2010, sau khi Dự án y tế Tây Nguyên kết thúc, người
dân ở 5 tỉnh lại gặp khó khăn trong việc tiếp cận DVYT do không được hỗ trợ chi phí
Nhóm 9 - KTE406.3_LT
19
Hệ thống y tế cho người nghèo ở Việt Nam kể từ Quyết định số 139/2002 QĐ-TTg
gián tiếp (trừ các huyện được dự án HEMA hỗ trợ). Chính vì vậy, chi phí gián tiếp vẫn là
rào cản lớn trong việc tiếp cận và sử dụng DVYT của người nghèo.
+ Rào cản địa lý đối với việc sử dụng các cơ sở y tế
Điều kiện địa lý có ảnh hưởng đến việc khám chữa bệnh theo tuyến điều trị. Nhìn
Bên cạnh rào cản về địa lý thì một nguyên nhân quan trọng khác là các DVYT ở
miền núi có chất lượng thấp hơn và chi phí ít hơn các DVYT ở miền xuôi. Nhiều tỉnh,
huyện miền núi không có hoặc không sử dụng được các trang thiết bị chẩn đoán, điều trị
hiện đại cũng như không thực hiện được các thủ thuật, phẫu thuật phức tạp, chi phí cao
.v.v. Một nghiên cứu về y tế cơ sở thực hiện trong năm 2010 phát hiện thấy chất lượng
các DVYT do tuyến xã cung cấp cho người dân không cao và năng lực chuyên môn của
các y bác sỹ công tác tại tuyến xã còn nhiều hạn chế. Đây là những thách thức không nhỏ
trong công tác CSSK cho người nghèo. Nếu rào cản tài chính của người người được cải
thiện nhưng chất lượng DVYT ở tuyến dưới vẫn thấp thì người nghèo vẫn không được sử
dụng các DVYT có chất lượng phù hợp với nhu cầu.
Một thách thức khác cần quan tâm xem xét, đó là đối tượng cận nghèo gặp nhiều
khó khăn trong việc tiếp cận các DVYT do không được hỗ trợ chi phí y tế khi đi khám
chữa bệnh. Khoảng cách giữa người nghèo và cận nghèo không lớn, vì vậy nếu gặp phải
bệnh nặng thì đối tượng cận nghèo sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận và sử
dụng các DVYT, từ đó có dẫn đến nguy cơ rơi vào bẫy nghèo.
Tóm lại sau khi quyết định 139/2002 QĐ-TTg đi vào đời sống, rất nhiều người
nghèo đã thỏa mãn được nhu cầu khám chữa bệnh, tuy nhiên vẫn còn rất nhiều những
rào cản làm cho người nghèo đặc biệt là người dân nghèo ở miền núi, vùng sâu vùng xa
chưa thực sự được hưởng nhiều từ các dịch vụ y tế. Đây cũng là 1 bài toán khó đặt ra với
Nhóm 9 - KTE406.3_LT
21
Hệ thống y tế cho người nghèo ở Việt Nam kể từ Quyết định số 139/2002 QĐ-TTg
các cấp lãnh đạo, cần thiết phải đưa ra những giải pháp mới để khắc phục những rào
cản trên.
III/ Đề xuất nâng cao chất lượng hệ thống y tế cho người
nghèo ở Việt Nam
Để có thể nâng cao hiệu quả khám chữa bệnh cho người nghèo, những giải pháp
sau đây cần được thực hiện một cách đồng bộ và khẩn trương.
Một là, cần phải thực hiện triệt để việc cấp thẻ BHYT cho 100% người nghèo;
đồng thời các cơ quan hữu quan, đặc biệt là Sở Lao động – thương binh – xã hội cần
hành. Như trên đã phân tích, chi phí KCB tại tuyến xã và huyện có chi phí thấp hơn
nhiều so với tuyến tỉnh. Do đó, việc đầu tư nâng cấp hệ thống y tế cơ sở, trong đó có
hệ thống các trạm y tế xã sẽ giúp giảm đáng kể chi phí y tế, kể cả chi phí đi lại, chi phí
mất ngày công lao động v.v… Chắc chắn người nghèo sẽ được chăm sóc tốt hơn,
thuận lợi hơn khi cơ sở y tế gần nhà của họ (giảm chi phí đi lại), phòng bệnh tốt hơn
(giảm chi phí điều trị), phát hiện bệnh sớm hơn ngay từ tuyến cơ sở (chi phí rẻ hơn),
và đỡ mất công lao động hơn khi được điều trị ngoại trú.
Hiện nay, tình trạng quá tải của các Bệnh viện vẫn chưa được giải quyết triệt để.
Đề án 1816 của Bộ Y tế "Cử cán bộ chuyên môn luân phiên từ bệnh viện tuyến trên về
hỗ trợ các bệnh viện tuyến dưới nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh", một chủ
trương lớn của ngành y tế thể hiện quyết liệt thực hiện chủ đề "Hướng về y tế cơ sở",
đồng thời cũng là một trong những giải pháp quan trọng đóng góp "giảm tải" các bệnh
viện tuyến trên đã phần nào giải quyết tình trạng này nhưng chỉ ở một số cơ sở chứ chưa
giải quyết triệt để vấn đề quá tải Bệnh viện. Sự kết hợp đề án 1816 với việc nâng cấp cơ
sở vật chất và cung cấp trung thiết bị cho các Bệnh viện, tăng cường đào tạo cán bộ cả về
chăm sóc sức khỏe ban đầu và y tế chuyên sâu, cải tiến chế độ tiền lương, phụ cấp cho
cán bộ y tế, có chế độ quy định bắt buộc, đồng thời thu hút cán bộ y tế đến công tác tại
các vùng nông thôn, vùng khó khăn, vùng sâu vùng xa.
Việc đầu tư cho hệ thống y tế dự phòng là rất cần thiết nhằm giúp bảo vệ người
dân nói chung và người nghèo nói riêng tránh dịch bệnh từ ô nhiễm môi trường và các
yếu tố gây bệnh khác. Muốn như vậy, ngoài việc đầu tư mạnh mẽ và đồng bộ vào hệ
thống y tế dự phòng, cần phải có sự phối hợp chặt chẽ và thực chất giữa ngành y tế với
các ngành có liên quan như Tài nguyên môi trường, Nông nghiệp và phát triển nông
thôn, Công thương, Quản lý thị trường, Văn hoá - Thể thao và Du lịch v.v… nhằm tạo
Nhóm 9 - KTE406.3_LT
23
Hệ thống y tế cho người nghèo ở Việt Nam kể từ Quyết định số 139/2002 QĐ-TTg
ra cho người nghèo một môi trường sống trong lành, một hệ thống kiểm soát thực
phẩm chặt chẽ, giàu dinh dưỡng và an toàn.
Cuối cùng, nhưng cũng là giải pháp quan trọng nhất, đó là tăng cường mạnh mẽ
25