phân tích tình hình kinh doanh công ty tnhh thương mại xuất nhập khẩu sơn thanh đang - Pdf 13

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
UNIVERSITY OF ECONOMICS HOCHIMINH CITY
•
TIỂU LUẬN:
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH KINH DOANH CÔNG TY
TNHH THƯƠNG MẠI XUẤT NHẬP KHẨU SƠN
THANH ĐANG
MÔN : KINH DOANH THƯƠNG MẠI
GV : Th.S NGÔ THỊ HẢI XUÂN
LỚP : NT02 – HC14
NHÓM : 6
SVTH :
NGUYỄN THỊ THU – 33111022594
TRẦN THỊ THUỶ TIÊN – 33111022177
KAO THỊ NGUYỆT HẰNG – 33111025277
NGUYỄN MINH TÂM – 33111022558
PHẠM NGỌC THANH XUÂN – 33111024312
LƯ HÀ VÂN – 33111022592
Mục lục:
Phần 1: Giới thiệu về Công Ty TNHH SX TM XNK SƠN THANH ĐANG 1
1. Lịch sử hình thành và phát triển 1
2. Giới thiệu về công ty 2
3. Cơ cấu tổ chức của công ty 3
4. Hoạt động kinh doanh 3
Phần 2: Vài nét về thị trường mua bán sơn ở Việt Nam 4
1. Mô tả ngành công nghiệp sản xuất sơn ở Việt Nam 4
2. Về quy mô 4
Phần 3: Đánh giá chung tình hình tiêu thụ trên thị trường nội địa 8
1. Thành tựu và những thế mạnh 8
2. Những tồn tại và khó khăn 8
Phần 4: Phân tích tình hình doanh thu của công ty Thanh Đang 10

có tiền thân là Công ty TNHH TM XNK SƠN THANH ĐANG được thành lập vào năm
1990 với vồn điều lệ ban đầu là 300 triệu đồng, hoạt động trong lĩnh vực mua bán trao đổi
sơn công nghiệp cho xe máy và xe ô tô tại thành phố Hồ Chí Minh. Đến năm 1995 nhận
thấy tiềm năng phát triển mạnh mẽ của lĩnh vực sản xuất sơn tại Việt Nam. Công ty quyết
định đầu tư mở rộng phạm vi kinh doanh sang lĩnh vực sản xuất, khởi đầu là việc xây dựng
cơ sở sản xuất với tổng vốn đầu tư là 2 tỷ đồng, chuyên sản xuất các mặt hàng lót chống gỉ
cho kim loại. Để nâng công suất sản xuất thêm các mặt hàng sơn màu và sơn bóng, đến
năm 2004 công ty đầu tư xây dựng nhà máy mới đưa vào hoạt động cuối tháng 12 năm
2004 tại khu công nghiệp Việt Nam Singapore 1, tỉnh Bình Dương. Đây là một trong
những bước chuyển biến quan trọng về định hướng của nhà máy sản xuất sơn Thanh Đang,
cùng với công nghệ hiện đại hoàn toàn có thể cung cấp sản phẩm phù hợp với mọi nhu cầu
của quý khách hàng. Hiện tại, chi nhánh công ty cũ vẫn duy trì hoạt động bình thường (số
liệu trong bài báo cáo là của công ty thương mại, là công ty cũ thuộc hệ thống của tổng
công ty Sơn Thanh Đang hiện nay).
Ra đời và phát triển mạnh mẽ với tốc độ cao hàng năm, để tiếp tục phát triển với quy
mô lớn hơn, nhanh hơn, năm 2006 công ty chính thức chuyển sang Công ty TNHH SX TM
XNK SƠN THANH ĐANG với số vốn điều lệ là 12 tỷ đồng.
Công ty sơn Thanh Đang cho đến hôm nay cũng đã phần nào có được vị trí trong một
số đối tượng khách hàng, và là sản phẩm sơn Việt Nam phục vụ cho ngành xe máy và xe ô
tô đầu tiên được quan tâm và ủng hộ nhiều nhất. Toàn bộ các nguyên liệu sản xuất đều
phải có chất lượng cao và được nhập khẩu từ các tập đoàn lớn như: Bayer, BASF, Ciba,
Dow, Connell, Mobil, Toyo, Borcher…
Định hướng phát triển:
iv
• Đa dạng hoá sản phẩm, đa dạng hoá thị trường.
• Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất ngành sơn.
• Luôn chú ý học hỏi và nâng cao chất lượng sản phẩm.
• Làm hài lòng khách hàng.
2. Giới thiệu về công ty:
• Tên công ty: Công ty TNHH SX TM XNK SƠN THANH ĐANG.

việc của Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc Công ty, và các phòng quản lý
sản xuất gồm: Bộ phận Kiểm tra chất lượng sản phẩm, Phòng Kỹ thuật phối
màu, Bộ phận sản xuất hàng, Bộ phận đóng gói.
Trụ sở 2 (văn phòng tại TPHCM):
• Tổng diện tích khoảng hơn 1.400m2 phụ trách về kênh phân phối bán hàng
gồm có: Phòng Hành chính, Phòng Nhân sự, Phòng Xuất nhập khẩu, Phòng
Kế toán - Tài chính,bộ phận bán hàng, Bộ phận giao nhận hàng hóa, Bộ phận
lưu kho.
4. Hoạt động kinh doanh:
Hoạt động sản xuất, kinh doanh chính của công ty hiện nay là sản xuất các mặt hàng
màu nhiều loại cho xe máy và ô tô cùng một số ít sản phẩm khác phục vụ cho sơn công
trình, sơn mài, sơn gỗ. Sản phẩm của công ty rất đa dạng và phân loại theo nhiều tiêu
chuẩn khác nhau.
vi
Phần 2
Vài nét về thị trường mua bán sơn ở Việt Nam
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước năm 2010: Tổng sản phẩm trong nước
(GDP) năm 2010 tăng 6,78% so với năm 2009 trong đó lâm nghiệp và thủy sản tăng
2,78%, công nghiệp, xây dựng tăng 7,7%, khu vực dịch vụ tăng 7,52% (Tổng Cục Thống
kê 29/12/2010).
Cùng với đà tăng trưởng của cả nước 2010, với sự nổ lực tuyệt vời của doanh
nghiệp, ngành sơn mực in Việt Nam đã đạt được kết quả khá tốt. Theo số liệu của TCTK
29/12/2010 – Sơn hóa học tăng 34,7%.
Năm 2010 đã xảy ra 22 vụ cháy trong đó có 2 doanh nghiệp sản xuất Sơn- Mực in,
20 cửa hàng kinh doanh và cơ sở sử dụng sơn- mực in, gây thiệt hại cả trăm tỉ đồng, đã gây
bức xúc không những cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh ngành nghề mà cho cả
cộng đồng xã hội liên quan. Điều đáng lưu ý là các vụ cháy xảy ra ngày càng nhiều hơn do
sự bất cẩn và chưa thực hiện nghiêm túc về an toàn phòng cháy nổ của các cơ sở sử dụng
và gia công sơn.
1. Mô tả ngành công nghiệp sản xuất sơn ở Việt Nam:

DOANH NGHIỆP TƯ
NHÂN
18.398 34.512 40.903 45.114 54.187 60.084
DOANH NGHIỆP CÓ VỐN
ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
64.339 116.152 11.598 150.207 155.324 162.616
TỔNG 99.751 162.543 165.724 206.177 220.254 235.331
Các sản phẩm sơn của Việt Nam được sản xuất tập trung nhiều ở Thành phố Hồ Chí
Minh, Đồng Nai, Bình Dương, tiếp theo là ở Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh và một số
tỉnh miền trung như Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Khánh Hòa.
Tỉ lệ đóng góp về sản lượng của các loại sơn (năm 2006). Qua đó có thể thấy được rằng
sơn trang trí chiếm thị phần lớn nhất, tiếp đến là sơn công nghiệp.
viii
Biểu đồ tỷ lệ sản lượng sơn trong ngành
66%
7%
27%
Sơn trang trí
Sơn tàu biển và bảo vệ
Sơn công nghiệp
Hình 2.1: Tỉ lệ đóng góp về sản lượng của các loại sơn
Xu hướng phát triển ngành:
Lượng sơn tiêu thụ ở Việt Nam còn thấp, mới chỉ đạt từ 2,8kg/người/năm (năm
2007). Trong đó tại các nước phát triển như Úc và Nhật Bản bình quân tiêu thụ là 9-
12kg/người/năm và các nước trong khu vực cũng đạt 4-5kg/người/năm. Như vậy nhu cầu
sơn của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng theo đà phát triển kinh tế của đất nước. Thị trường
ngành sơn năm 2007 đạt được 459 triệu USD về giá trị và 247.000 tấn về sản lượng. Xu
hướng tăng trưởng của ngành sơn Việt Nam đã được khẳng định. Theo dự báo ngành sơn
sẽ tiếp tục tăng trưởng trong những năm tới.
Với trên 80 triệu dân, trong đó 90% dân số sống ở nông thôn, Việt Nam có thị trường

chợ và loại hình thương mại truyền thống tiếp tục được quan tâm phát triển.
Với sự chủ động, nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp và sự đồng thuận của toàn dân,
thị trường hàng hoá trong nước có nhiều chuyển biến tích cực, cân đối cung cầu các mặt
hàng trọng yếu được bảo đảm, đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân,
không để xảy ra tình trạng sốt hàng, sốt giá.
x
Phần 3
Đánh giá chung tình hình tiêu thụ trên thị trường nội địa
1. Thành tựu và những thế mạnh:
Thanh Đang hiện tại là công ty Việt Nam có năng lực sản xuất, mua bán sơn cho xe
máy và ô tô thuộc loại khá trong các doanh nghiệp cùng ngành. Cung cấp đầy đủ và đa
dạng về chủng loại, màu sắc các dòng màu xe từ những thập niên 50 cho đến những dòng
xe mới nhất hiện nay.
Công ty hiện nhập khẩu thế hệ máy nghiền tốt nhất có đủ điều kiện cạnh tranh với các
doanh nghiệp nước ngoài khác. Nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt nhất phục vụ cho
nhu cầu của khách hàng.
Công ty có các đại lý nằm rải rác từ miền trung trở vào miền tây, thị trường chủ yếu
vẫn tập trung tại TPHCM.
Việc kiểm soát chi phí sản xuất, thu mua nguyên liệu của công ty được thực hiện khá
tốt nên giá bán các sản phẩm của công ty có khả năng cạnh tranh cao so với các doanh
nghiệp sản xuất sản phẩm cùng loại trong nước và nước ngoài
Mặc dù vậy thị trường của công ty còn thu hẹp chỉ trong phạm vi nội địa, do chưa có
đủ năng lực đáp ứng được hết tất cả các đơn đặt hàng của các đối tác.
Các chương trình quản lý chất lượng, kiểm soát an toàn vệ sức khỏe và an toàn phòng
cháy của công ty gồm có: các yêu cầu về thiết kế nhà xưởng,đường đi,môi trường, thiết bị
phòng cháy;vệ sinh nhà xưởng, kho tàng v.v Công ty cũng xây dựng một hệ thống kiểm
soát bao gồm các quá trình, thủ tục kiểm soát, hệ thống văn bản hỗ trợ, quản lý chặt chẽ
Công ty có xây dựng hệ thống hút bụi để đảm bảo môi trường cho phân xưởng sản xuất
sơn.
Ngoài ra để bảo đảm chất lượng của cả quá trình từ thu mua nguyên liệu, sản xuất chế

Hình 4.1: Tình hình doanh thu chung của công ty qua 3 năm:
1. Nhận xét:
Tổng doanh thu từ năm 2009 tới năm 2010 liên tục tăng, năm 2010 DT tăng 323.479.581
VNĐ với mức tăng là 6,93 %. Năm 2011 so với năm 2010 tăng 285.429.944 VND với mức
tăng là 5,72%. trong đó bao gồm:
• Doanh thu từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ:
Doanh thu từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ là nguồn doanh thu chính
mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp chiếm tỉ trọng gần như 100% tổng doanh thu
mà doanh nghiệp có được qua các năm.
Doanh thu từ hoạt động bán hàng tăng và là nhân tố chính làm cho tổng doanh thu
tăng thêm. Doanh thu từ HDBHDV năm 2010 tăng nhiều nhất, so với năm 2009
tăng 333.265.781 VNĐ với mức tăng 7,17%, sang năm 2011 tăng 289.601.498
VNĐ so với năm 2010, tăng 5,18%
xiii
TÌNH HÌNH DOANH THU CHUNG CỦA CÔNG TY
QUA 3 NĂM
4665220425
4988700006
5274129950
4200000000
4400000000
4600000000
4800000000
5000000000
5200000000
5400000000
2009 2010 2011
Tổng doanh thu
Bảng 4.1: Tình hình doanh thu chung của công ty qua 3 năm
Chỉ tiêu 2009 Tỉ trọng (%) 2010 Tỉ trọng (%) 2011 Tỉ trọng (%)

• Doanh thu từ hoạt động bán hàng qua các năm đều tăng
o Khách quan:
 Là một nền kinh tế xã hội ổn định và đang phát triển mạnh trong khu vực,
thị trường Việt Nam vẫn là thị trường tiềm năng với mức tiêu thụ lớn. Như
vậy nhu cầu sơn của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng theo đà phát triển kinh tế của
đất nước. Đây là điểm thuận lợi để doanh nghiệp tăng doanh số bán hàng.
 Việt Nam có thị trường nội địa rộng lớn, phần lớn dân số tập trung ở
nông thôn và hiện nay trước những khó khăn trong nền kinh tế thì người tiêu
dùng có xu hướng thắt chặt chi tiêu, cộng với mức sống tại khu vực nông
thôn không cao nên nhu cầu sản phẩm sơn ở phân khúc thị trường cấp thấp
tăng mạnh, tạo ra nhiều lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp nội địa đối
với các doanh nghiệp ngoài nước trong các dòng sản phẩm có giá thấp.
 Mặt hàng chủ lực trong các sản phẩm kinh doanh của doanh nghiệp là
mặt hàng sơn trên kim loại bao gồm sơn công trình, sơn xe máy và ô tô, sơn
tàu …. Hiện tại thị trường xe máy và ôtô ở Việt Nam có sự phát triển lớn
mạnh. Theo thông tin từ Công ty Honda Việt Nam (HVN) cho thấy, thị
trường xe máy của Việt Nam đang tăng trưởng mạnh, năm 2009 đạt 2,26
triệu xe, và sẽ tiếp tục tăng mạnh trong các năm 2010 và 2011. Đặc biệt với
các loại dòng xe tay ga đang dần thay thế và chiếm lĩnh thị trường. Bên cạnh
đó, sự phát triển của các cơ sở sản xuất lắp ráp ôtô trong nước cũng tăng
mạnh. Điều này là nhân tố chính thúc đẩy sản lượng sơn bán trên thị trường
của doanh nghiệp tăng lên, góp phần tăng doanh số bán hàng của doanh
nghiệp.
 Ngoài mặt hàng sơn kim loại thì doanh nghiệp cũng kinh doanh những
mặt hàng sơn mài gỗ. Mà ngành xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam vẫn chiếm tỉ
trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu. Năm 2010 ngành chế biến gỗ và xuất
khẩu sàn gỗđạt chỉ tiêu đề ra sẽ là tiền đề đi đến mục tiêu là 6 tỷ USD. Với
sự phát triển của ngành sản xuất gỗ lớn mạnh như vậy thì các sản phẩm sơn
mài phục vụ cho việc sản xuất cũng gia tăng theo. Tạo cho các doanh nghiệp
có một lối đi khác, đó là thị trường ngách. Sơn gỗ chiếm 10-15% giá thành

cho khách hàng của mình phần nào cũng đã tạo dựng được uy tín của doanh
nghiệp trên thị trường, góp phần tăng sản lượng sơn trên thị trường trong
thời gian tới.
• Doanh thu từ hoạt động tài chính
Doanh thu từ hoạt động tài chính của doanh nghiệp có được do nguồn vốn chủ sở hữu
được đem gửi ngân hàng đã phát sinh lợi nhuận cho doanh nghiệp. Không tồn tại các hoạt
động kinh doanh tài chính khác của doanh nghiệp nên các nguyên nhân tác động tới giảm
doanh thu từ hoạt động tài chính chủ yếu là do doanh nghiệp rút vốn gửi ngân hàng để đầu
tư cho các công nghệ sản xuất mới, công tác đào tạo nhân viên, Các mặt hàng sơn là
mặt hàng rất dễ gây cháy nổ nên việc đầu tư trang thiết bị để đề phòng hỏa hoạn là không
thể thiếu.
• Doanh thu khác
o Khách quan: Đứng trước tình hình kinh tế khó khăn, các kênh phân phối ở
các đại lý cấp 1 và cấp 2 giảm mạnh do không đạt được doanh số bán ra, các
doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm cũng đang dần tìm hướng đi vững chắc hơn nên
không tích trữ nhiều hàng hóa như trước đây nữa, những hợp đồng và đơn đặt
hàng được quản lý chặc chẽ hơn. Chính những nguyên nhân này đã làm giảm tỉ
lệ thay đổi trên hợp đồng hay hủy các hợp đồng. Điều này tuy ảnh hưởng đến
doanh thu khác làm cho doanh thu khác giảm dần qua các năm nhưng điều này
là tốt đối cho việc ổn định sản lượng bán hàng của công ty.
o Chủ quan: Doanh thu khác chủ yếu thu được do các khoản chênh lệch thanh
khoản khi trong giao dịch thanh toán, các khoản lãi thu được từ khoản nợ của
khách hàng đối với công ty. Do kinh tế khó khăn và doanh nghiệp cần vốn để
tiếp tục đầu tư cho kinh doanh nên không cho phép khách hàng nợ như trước
đây nữa, chủ yếu là thu tiền ngay, các khoản lãi thu được cũng giảm theo làm
cho doanh thu khác giảm.
3. Giải pháp để tăng doanh thu bán hàng trên thị trường:
• Tiếp tục phát huy chất lượng sản phẩm, nghiên cứu và tạo ra các bảng màu phong
phú để người tiêu dùng có nhiều lựa chọn hơn, nâng cao tính cạnh tranh của sản
phẩm trên thị trường.

- Đại lý cấp 2: là khách hàng từ 3-10 năm, doanh số 150- 300 triệu VNĐ,giá chính
được chiết khấu 12%.
- Đại lý cấp 3: là khách hàng mới, không tính doanh số, chiết khấu 10% trên giá bán
cho từng mặt hàng.
Bảng 5.2: So sánh tình hình phân phối
Đơn vị
So sánh năm 2010 & 2009 So sánh năm 2011 & 2010
Tuyệt đối Tương đối Tuyệt đối Tương đối
Đại lý cấp 1 7041820 0.47 -123910051 -8.29
Đại lý cấp 2 86649096 7.17 -188191736 -14.53
Đại lý cấp 3 -36282727 -4.11 365418005 43.16
Công ty 49989863 7.17 -114652651 -15.35
Bán lẻ 225867700 60.76 350937931 58.72
Tổng 333265752 7.17 289601498 5.82
Hình 5.1: Đồ thị phân phối và cung cấp dịch vụ
1. Nhận xét:
Đại lý cấp 1, 2, 3 đóng vai trò chủ lực trong hệ thống phân phối của doanh nghiệp, tỉ trọng
doanh thu thu được từ đại lý chiếm tỉ trọng lớn trong tổng doanh thu. Từ năm 2009 đến
năm 2011 thì sức tiêu thụ của đại lý cấp 1 và 2 giảm dần, tỉ trọng doanh thu thu được giảm,
nhưng hệ thống phân phối bán lẻ và đại lý cấp 3 phát triển mạnh.
• Đối với Kênh phân phối cấp 1, cấp 2, công ty:
o Năm 2010 doanh thu thu được từ việc phân phối sản phẩm ở đại lý cấp 1 và
cấp 2 và ở công ty năm 2010 so với năm 2009 tăng, trong đó đại lý cấp 2
tăng nhiều nhất. cụ thể là doanh thu phân phối ở đại lý cấp 1 tăng 7041820
VNĐ tăng 4.47%, đại lý cấp 2 tăng 86649096 VNĐ, tăng 7.17%, công ty
tăng 49989863 với mức tăng tương đối là 7.17% VNĐ .
o Năm 2011 thì doanh thu thu được từ 2 kênh phân phối này lại giảm mạnh so
với năm 2010, giảm mạnh nhất là kênh phân phối công ty, đại lý cấp 1 giảm
123910051 VNĐ với mức giảm tương đối là 8.29%, đại lý cấp 2 giảm
188191736 giảm 14.53%, công ty giảm 114652651 VNĐ, giảm 15.35%

xe máy, ô tô, tàu thuyền và gỗ kéo theo sự phát triển về các kênh phân phối công
ty cũng như các đại lý
o Sự ra đời của các công ty mới trong cùng ngành nhưng năng lực sản xuất còn
yếu cũng như năng lực tài chính không cho phép để sản xuất hết các nguyên liệu
sản phẩm vì thế đã nhờ tới doanh nghiệp gia công một số các sản phẩm cơ bản
nhằm tiết kiệm tài chính cũng như có nhiều thời gian để cũng cố năng lực sản
xuất của mình. Điều này làm cho mức tiêu thụ ơ kênh phân phối công ty cũng
tăng lên.
• Chủ quan
o Chất lượng sản phẩm tốt do được đầu công nghệ và dịch vụ, cộng với mức
chiết khấu hấp dẫn cho các đại lý bán hàng cao tạo ra sức hấp dẫn của mặt hàng
và có sự cạnh tranh về giá cả.
o Năng lực của công ty hiện tại chưa đủ lớn, trình độ am hiểu thị trường chưa
đủ rộng để đứng ra trực tiếp phân phối tới các kênh bán lẻ mà vẫn còn dựa chủ
yếu thông qua các kênh trung gian tới người tiêu dùng.
Nguyên nhân giảm sức tiêu thụ trên các kênh đại lý cấp 1, cấp 2 và công ty, cũng như
nguyên nhân tăng sức tiêu thụ ở thị trường bán lẻ:
• Khách quan
o Tình hình kinh tế khó khăn, các đại lý không đạt được doanh số bán ra trên
thị trường nên chủ động giảm sản lượng tiêu thụ cũng như không còn dự trữ
nhiều hàng hóa như trước nữa, làm cho sản lượng tiêu thụ tại kênh phân phối
này giảm theo.
o nguồn lực tài chính của kênh đại lý cấp 1, 2 dần bị giảm sút dẫn đến các đại
lý không có sức tiêu thụ cũng như dự trữ nhiều hàng hóa như trước nữa.
o Thị trường Sơn là một thị trường hấp dẫn và ngày càng có nhiều doanh
nghiệp mới tham gia vào thị trường bao gồm cả trong và ngoài nước. Đặc biệt là
chính sách thu hút sự đầu tư của các doanh nghiệp có vốn nước ngoài làm cho
ngày càng có nhiều sản phẩm sơn cạnh tranh trên thị trường, Các đại lý được
nhiều cơ hội để lựa chọn những sản phẩm cạnh tranh để đầu tư hơn, làm cho sức
tiêu thụ sản phẩm trên các kênh cũng ảnh hưởng theo. Những công ty thuê gia

Bảng 6.1: xuất nhập tồn các mặt hàng trong 3 năm
2009 Sơn màu Sơn lót Phụ liệu Dung môi
TĐK 8.061,00 1.569,00 3.553,50 7.344,50
Nhập 46.252,00 12.220,00 33.092,00 19.061,00
Xuất 44.127,00 12.045,00 32.276,00 24.819,50
Tồn 10.186,00 1.744,00 4.369,50 1.586,00
Dbq 33.167,50 8.640,50 23.109,83 16.115,25
2010 Sơn màu Sơn lót Phụ liệu Dung môi
TĐK 10.186,00 1.744,00 4.370,00 1.586,00
Nhập 45.602,00 10.575,00 31.623,00 24.866,00
Xuất 48.034,00 11.203,00 29.613,00 23.210,00
Tồn 7.754,00 1.116,00 6.380,00 3.242,00
Dbq 34.202,00 7.736,00 22.203,67 16.830,00
2011 Sơn màu Sơn lót Phụ liệu Dung môi
TĐK 7.754,00 1.116,00 6.380,00 3.242,00
Nhập 43.472,00 10.241,00 22.342,00 29.582,00
Xuất 41.771,00 9.251,50 23.834,00 30.426,00
Tồn 9.455,00 2.105,50 4.888,00 2.398,00
Dbq= 31.282,50 7.034,42 17.270,00 20.942,67
Bảng 6.2: Tốc độ luân chuyển hàng hóa
2009
Mặt hàng Giá vốn Dbq t V
Sơn màu 2.269.348.542,00 33.167,50 0,005 68.420,85
Sơn lót 1.305.785.822,00 8.640,50 0,002 151.123,87
Phụ liệu 185.302.542,00 23.109,83 0,045 8.018,34
Dung môi 4.243.495.574,00 16.115,25 0,001 263.321,73
2010
Mặt hàng Giá vốn Dbq t V
Sơn màu 2.501.757.045,00 34.202,00 0,005 73.146,51
Sơn lót 1.346.251.766,00 7.736,00 0,002 174.024,27

là dung môi, kế tiếp là sơn lót rồi đến sơn màu, cuối cùng đến phụ liệu.
Mặt hàng dung môi năm 2009 được xét là mặt hàng có hiệu quả kinh doanh nhất so với các
mặt hàng còn lại, có thời gian thực hiện thấp nhất và có số vòng luân chuyển hàng hóa lớn
nhất đạt 263321,73, kế tiếp là sơn lót có số vòng luân chuyển 151123,87, rồi đến sơn màu
đạt 68420,85.
Nhưng đến năm 2010 lại có sự chuyển biến rõ rệt, mặt hàng dung môi không còn
chiếm ưu thế thay vào đó là mặt hàng sơn lót được xem là mặt hàng có hiệu quả kinh
doanh cao nhất, có số vòng luân chuyển là 174024,27 kế tiếp là mặt hàng sơn màu có số
vòng luân chuyển đạt 73146,51, rồi mới đến dung môi, cuối cùng mới đến phụ liệu.
Năm 2010 so với 2009 thì mặt hàng sơn lót được đánh giá là mặt hàng kinh doanh
hiệu quả nhất có số vòng luân chuyển đạt 22900,40 tăng 15,15%, Kế tiếp là mặt hàng sơn
màu có số vòng luân chuyển đạt 4725,66 tăng 6,91%, hai mặt hàng kinh doanh kém hiệu
quả là phụ liệu và dung môi, trong đó mặt hàng dung môi giảm 88,07% so với thời điểm
2009 được xem là mặt hàng kinh doanh hiệu quả.

Trích đoạn Hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty Thanh Đang
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status