VIỆN NGHIÊN CỨU SÀNH SỨ THỦY TINH CÔNG NGHIỆP
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT OXYT NHÔM
HOẠT TÍNH PHỤC VỤ CHO NGÀNH GỐM SỨ CNĐT: NGUYỄN TRUNG KIÊN
8327
PHẦN II: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
20
1.Nghiên cứu phương pháp tách nhôm oxyt trong bôxit, caolanh bằng dung
dịch kiềm.
20
2. Nghiên cứu phương pháp tách nhôm oxyt trong bôxit, caolanh bằng dung
dịch axit.
22
3. Sản xuất α Al
2
O
3
siêu mịn
31
4. Ứng dụng sản phẩm của đề tài
32
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
34
1. Kết luận 34
2. Kiến nghị 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO
35
Phụ lục tính toán kinh tế, phụ lục phân tích, xác nhận kỹ thuật 1
TỔNG QUAN
Trong công nghiệp silicat, để sản xuất các sản phẩm thủy tinh, gốm sứ, vật
liệu chịu lửa và một vài loại xi măng chịu nhiệt, người ta thường sử dụng nguyên
liệu giàu Al
2
O
3
cao, đó là ôxyt nhôm α - Al
2
O
3
kỹ thuật, sạch, đã chuyển hóa sau khi
nung và có cỡ hạt rất mịn.
Ngày nay, trên thế giới, người ta sản xuất hàng triệu tấn Al
2
O
3
kỹ thuật mỗi
năm, song hầu như đến 90% được dùng để luyện nhôm kim loại. Chỉ có 10% làm
nguyên liệu dùng để sản xuất các loại sản phẩm phi kim loại như gốm, thủy tinh,
ximăng alumin, phèn nhôm, bột mài, cao su. Vì vậy, vai trò của nguyên liệu Al
2
O
3
kỹ thuật trở nên rất quan trọng và cần được nghiên cứu phát triển, nhất là ở Việt
Nam khi mà nguồn nguyên liệu này rất khan hiếm và chưa có ngành công nghiệp
riêng để sản xuất chúng.
Với cách đặt vấn đề như trên Viện Nghiên cứu Sành sứ Thuỷ tinh Công
nghiệp đã đăng ký và được Bộ Công Thương đặt hàng nghiên cứu thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu công nghệ sản xuất ôxyt nhôm hoạt tính phục v
ụ cho ngành gốm
sứ”. Hợp đồng số: 213.10.RD/HĐ-KHCN ký ngày 19 tháng 03 năm 2010 ký giữa
Bộ Công Thương và Viện Nghiên Cứu Sành sứ Thủy tinh Công nghiệp.
tích hóa học được thực hiện tại các phòng thí nghiệm của Viện Nghiên cứu Sành sứ3
Thủy tinh Công nghiệp, Viện Vật liệu Xây dựng Bộ xây dựng, trung tâm phân tích
thí nghiệm địa chất cục địa chất và khoáng sản Việt Nam. các mẫu sản xuất thử
nghiệm được tiến hành tại công ty cổ phần Lửa Việt, công ty TNHH TOKO
2
O
3
cho đến khi hàm lượng chất kiềm đạt tới mức giới hạn, sau đó nếu chưa
đủ thì bổ sung bằng alumina ngậm nước.
5
Ôxyt nhôm là yếu tố khống chế độ chảy của men nung (vì ôxyt nhôm giúp
hình thành những mối liên kết chặt giữa ôxít trợ chảy và SiO
2
), giữ không cho men
chảy loãng và chảy khỏi bề mặt phủ men. Đây là lý do nó được gọi là "ôxyt trung
gian".
Tỉ số SiO
2
trên Al
2
O
3
là chỉ số chính cho biết độ bóng mặt men. Khi không
có bo, tỉ số SiO
2
trên Al
2
O
3
nhỏ hơn 5:1 thường cho mặt men khá mờ xỉn. Tỉ số lớn
hơn 8:1 thường cho mặt men bóng nếu không có sự hiện diện của ôxty titan,
ôxyt kẽm, ôxyt magiê hay ôxyt canxi. Al
2
3
sạch, song tập hợp hạt có khi lại khá thô do sự kết tụ hạt hình cầu xốp gây cản trở
cho công nghệ gia công phối liệu gốm sau này do bề mặt phản ứng pha rắn thấp và
lượng tạp chất kiềm còn lại khá cao. Nhôm oxit kỹ thuật truyền thống chủ yếu chứa
khoáng α - Al
2
O
3
. Đây là sản phẩm sau khi nung hydroxyt nhôm ở nhiệt độ trên
6
1200
o
C, các hạt cầu có xu hướng kết tụ lại thành các tập hợp hạt hình cầu với
đường kính trung bình từ 90 - 120 µm, trơn nhẵn (linh động) và xốp.
Tiêu chuẩn cũ của các nước Đông Âu, Nga .Thường được xác định thành
các loại G - 00, G - 0, G - 1, G - 2, G - 3, G - 4 theo thành phần hóa học và tạp chất
để định hướng khi sử dụng. Các loại này thường chứa tạp chất kiềm đến 0,35 -
0,70% Na tính qui đổi từ Na
2
O. Tạp chất Na
2
O không mong muốn cho sản xuất
gốm và vật liệu chịu lửa alumin. Ôxyt natri trong nhôm hyđroxit hay nhôm oxit kỹ
thuật α - Al
2
O
3
sản xuất theo phương pháp Bayer lại nằm ở mạng lưới bên trong
điện cao thế, vật liệu chịu lửa cao alumin chất lượng cao
Vì vậy, có thể nói ở thế kỷ 21, lĩnh vực ôxyt nhôm kỹ thuật nung đã hoàn
toàn từ bỏ các công nghệ truyền thống của thập kỷ 80 trước đây. Các loại ôxyt
nhôm kỹ thuật truyền thống như
G - 00, G - 1 - G - 4 hoặc nung sơ bộ dạng thô
theo công nghệ Bayer sẽ chỉ là các sản phẩm và công nghệ của quá khứ.
Bằng công nghệ mới, giá thành của các loại nhôm oxit nung siêu sạch, siêu
mịn này không đắt hơn nhiều so với ôxyt nhôm kỹ thuật α – Al
2
O
3
truyền thống, vì
vậy, ngày nay nó trở thành nguyên liệu phổ biến và cao cấp cho ngành công nghiệp
gốm kỹ thuật và vật liệu chịu lửa, bê tông gốm.
Cả nước ta hiện nay chỉ có một cơ sở duy nhất sản xuất nhôm hyđroxit kỹ
thuật ở dạng hàng hóa, đó là Nhà máy Hóa chất Tân Bình tại thành phố Hồ Chí
Minh. Nguyên liệu là bôxit Trại Mát - Lâm Đồng, có nguồn gốc bômit và hàm
lượng Al
2
O
3
khá cao (~47%). Tuy nhiên, hàm lượng Fe
2
O
3
và SiO
2
cũng khá lớn,
đặc biệt là Fe
2
từ bây giờ và càng nhanh càng tốt.
Nhôm hyđroxit được sản xuất công nghiệp theo phương pháp Bayer, dựa
trên sự phân hủy các nguyên liệu đầu tự nhiên như bôxit, điaspor bằng dung dịch
kiềm mạnh trong thiết bị autoclave để hình thành natri aluminat dễ tan, các tạp chất
khác như SiO
2
, Fe
2
O
3
… được giữ lại ở dạng cặn rắn không hòa tan. Dung dịch natri
aluminat được lọc sạch tạp chất- không tan và được bổ sung bằng NaHCO
3
để kết
tủa hyđroxyt nhôm tinh khiết. Chế phẩm dạng gel của nhôm hyđroxyt có thể tạo ra
các sản phẩm kỹ thuật chứa nhôm tiếp theo tùy thuộc phương pháp xử lý nhiệt sau
đó:
Sự tạo thành hydroxyt nhôm khi kết tủa là một quá trình phức tạp, cùng với
sự thuỷ phân trong dung dịch chứa nhôm lại có quá trình tách kết tủa hydroxyt
nhôm vô định hình kèm theo sự tạo thành mầm kết tinh, phát triển cấu trúc thứ
sinh.
Cấ
u trúc của ôxyt nhôm được xác định bởi điều kiện kết tủa hidroxyt nhôm
như pH của môi trường, nhiệt độ, nồng độ dung dịch, tốc độ nạp liệu v.v
Trong phạm vi pH 6-7,5 kết tủa hidroxyt nhôm tạo thành pha vô định hình, ở
dạng hợp thể với kích thước vài trăm Å từ những phần tử nhỏ hơn 20 Å . Do cấu
trúc phân tán mịn nên khó lọc rửa, độ ẩm cao, lượng mất khi nung ở 550
o
C tới 85-
90%.
từ 0,01 đến 0,5%.
Nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến quá trình kết tủa hydroxit nhôm. Khi kết tủa ở
nhiệt độ thường sẽ tạo thành pha vô định hình, còn ở nhiệt độ 100
o
C và trong phạm
vi pH của môi trường 8-10 sẽ thu được kết tủa dạng bemit có lẫn pha vô định hình.
Khi xử lý nhiệt hydroxit nhôm sẽ chuyển thành ôxyt nhôm , ở điều kiện nung
vừa phải kích thước tinh thể thay đổi không đáng kể, bề mặt có những khuyết tật
của vật thể rắn, khi tỷ lệ nguyên tử trên bề mặt so với thể tích càng lớn thì khả năng
phản ứng càng lớn và có tính chấ
t khác với đơn tinh thể lớn.
10Trong quá trình nung hydroxyt nhôm có 3 hiệu ứng nhiệt. Hiệu ứng thu nhiệt
đầu tiên đặc trưng bởi pic trong phạm vi nhiệt độ 108 - 125
o
C do tách nước hấp thụ
và nước vật lý. Trong khoảng nhiệt độ 250-280
o
C mẫu tiếp tục bị biến đổi do mất
nước ở lớp giữa, có hiệu ứng thu nhiệt nhẹ
Ở vùng nhiệt độ 380-430
o
3
.
2.Nguyên liệu sản xuất nhôm oxyt
Như chúng ta đã biết nguyên liệu để sản xuất ôxyt nhôm bao gồm chủ yếu
những nguyên liệu trong đó có chứa nhôm oxyt với hàm lượng cao. Vì vậy chủ yếu
là đi từ bôxit, cao lanh, đất sét
2.1 Tình hình thăm dò và khai thác caolanh, đất sét
Sau 50 năm (1995-2005) tìm kiếm, thăm dò trên lãnh thổ Việt Nam chưa tính
đến các mỏ sét làm nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất xi măng, gạch ngói, các
nhà địa chất đã nghiên cứu, phát hiện ra hơ
n 70 mỏ sét gốm sứ, sét chịu lửa và sét
hấp phụ lớn, nhỏ khác nhau với tổng trữ lượng ước tính là 285 triệu tấn, trong đó
trữ lượng cấp B, C1 (Cấp trữ lượng 121+122 mới) chiếm khoảng 40% phân bố ở 6
khu vực chủ yếu. Từng khu vực cụ thể có những đặc điểm khác nhau
Khu vực Sông Hồng : Khu vực phân bố chủ yếu các mỏ sét dọc theo sông
Hồ
ng từ Lào Cai về Sơn Tây, kéo dài khoảng 220 km. Các mỏ sét nằm trùng với
khu vực phân bố của các đá Pecmantit, migmatit, granit. Sét ở đây chủ yếu là sét
kaolinit có chất lượng cao, độ hạt < 0,02 mm chiếm 30÷60%, Al
2
O
3
25÷30%,
Fe
2
O
3
0,4÷1,2%, TiO
2
0,0÷0,35%.
Độ chịu
lửa (
o
C)
Quy mô
mỏ
Yên Bái 30,9 0,78 - 2,10 23,79 - 30,90 1690-1710 Nhỏ
Trúc Thôn -
Hải Dương
22,7 - 30,0 1,17 - 4,24 22,00 - 27,90 1850-1650 Lớn
Mạo Khê -
Quảng Ninh
17,06 - 35,49 1,00 - 5,00 18,89 - 29,95 1850-1710 Nhỏ
Xuân Mai -
Hoà Bình
31,40 - 33,45 2,39 - 2,79 17,00 - 20,00 1630 Nhỏ
Làng Chánh -
Thanh Hoá
31,10 - 36,15 2,75 - 3,99 22,00 1730 Nhỏ
Tân Thành -
Đồng Nai
20,09 - 21,02 0,98 - 2,87 18,00 - 23,50 1850 Lớn
Vĩnh Tân -
Đồng Nai
17,50 - 20,00 1,00 - 1,50 15,00 - 21,00 1850-1610 Lớn
(Theo báo cáo đề tài Nghiên cứu công nghệ chế biến đất sét của Viện Nghiên cứu Sành sứ Thủy
tinh Công nghiệp năm 2007)
13
Thành phần chủ yếu của bôxit là hydragilit (gipxit) Al(OH)
3
, bơmit và
điaspo AlOOH. Ngoài ra, còn chứa các khoáng vật sắt (hematit Fe
2
O
3
, piric,
hydrohematit, limonit, xiderit), silic ở dạng thạch anh, hydroxit (opan) và
15
alumosilicat keo ngậm nước (Caolinit, halozit ), titan oxyt ở dạng keo, anatazo
TiO
2
, rutin và trong thành phần của sfen, peropskit và inmenit. Trong một số bôxit
có cả canxi và magie cacbonate, cũng có cả các tạp chất crom, vanadi, photpho,
gali oxyt và các nguyên tốt khác.
Người ta chia bôxit thành các loại sau: hydragilit, hydragilit – bơmit, bơmit
diaspro và điaspro. Trong những mỏ bôxit điaspo là loại già nhất, còn trẻ nhất là
hydragilit, các loại bôxit còn lại nằm giữa bôxit điaspo sạch và hydragilit sạch, khi
phong hóa alumosilicat trong điều kiện thiên nhiên sẽ tạo thành tất cả các khoáng
vật ôxyt nhôm ngậm nước – keo nhôm - chứa lượng nước không xác định
Al
2
O
3
.xH
2
O. Sự mất nước của keo nhôm theo thời gian sẽ làm biến đổi thành phần
khoáng vật , với hydragilit x=3, điaspo và bơmit x=1.
Nhìn bề ngoài bôxit có thể khác nhau. Thông thường bôxit có màu đỏ, khá
cứng, đôi khi cũng gặp bôxit có màu trắng, vàng, xanh thẫm và các màu khác. Màu
đỏ chứng tỏ hàm lượng ôxyt sắt cao, khi hàm lượng ôxyt sắt thấp thì bôxit có màu
xám hoặc trắng.
Thành phần hoá học của bôxit dao động trong giới hạn rộng, kể cả hàm
lượng Al
2
O
3
cũng như hàm lượng các tạp chất và nước hydrat. Trong bôxit hàm
lượng Al
2
O
3
càng lớn và môdun silic càng cao thì chất lượng bôxit càng tốt.
Bôxit không những dùng trong công nghiệp nhôm mà còn dùng để sản xuất
corumdum nhân tạo, xi măng alumin, gạch chịu lửa, bôxit còn dùng để thay florin
16
làm trợ dung khi luyện thép. Cho thêm bôxit sẽ làm tăng độ chảy loãng của xỉ, tạo
điều kiện thuận lợi để khử photpho và lưu huỳnh trong thép, bôxit còn được dùng
sấy khí và dùng làm chất hấp thụ khí tinh lọc các sản phẩm dầu lửa khỏi các tạp
chất nhuộm màu và làm bẩn, khử lưu huỳnh trong dầu lửa rất tốt, sản xuất sơn
khoáng vật màu đỏ tử bôxit với hematit là thành phầ
n có ích.
Chất lượng quặng bôxit ở Việt Nam
Quặng bôxit ở Việt Nam có ở Miền Bắc và Miền Nam nhưng quặng bôxit ở
Miền Nam được đánh giá là tốt hơn so với các vùng khác.
Chất lượng quặng ở Miền Nam:
- Thành phần khoáng vật: Chủ yếu là gipsit, một ít bơmit và kaolinit. 17
Bảng 2: Đặc tính của một số mỏ bôxit của miền Nam Việt Nam
Hàm lượng (%)
TT Tên mỏ Chiều dày trung
bình thân quặng (m)
Al
2
O
3
SiO
2
M
si
Thu hồi
1 “1-5” 522 49,36 2,14 23,1 50
2 Quảng Sơn 5,0 50,00 2,52 19,8 45,4
3 Nhân Cơ 4,6 48,30 3,45 14,0 46,0
4 Gia Nghĩa 4,3 47,99 2,58 18,6 49,9
5 Bắc Gia Nghĩa - 46,10 2,23 20,8 47,1
6 Đắc Nông 4,5 48,74 2,20 22,2 50,6
7 Tuy Đức 5,0 48,74 2,20 22,2 45,2
3.Các phương pháp chế biến quặng để sản xuất alumina
Hiện nay trên thế giới có khoảng 90% alumina trên thế giới được sản xuất
bằng công nghệ Bayer. Để chuyển bôxit thành alumina người ta nghiền quặng và
trộn với đá vôi và xút, bơm hỗn hợp này vào bình áp lực cao, rồi nung lên. Ôxyt
3
bằng phương pháp hoả luyện
Trong số các phương pháp hỏa luyện thì phương pháp thiêu kết bôxít với
Na
2
CO
3
có sự tham gia của CaCO
3
(gọi là phương pháp soda-vôi) là phương pháp
kinh tế và được ứng dụng công nghiệp. Phương pháp thiêu kết dùng để xử lý quặng
bôxít có chất lượng trung bình hoặc kém (hàm lượng SiO
2
cao) mà nếu xử lý bằng
công nghệ Bayer (công nghệ thủy luyện) thì không có hiệu quả kinh tế.
Nguyên lý của phương pháp hỏa luyện là: Thiêu kết hỗn hợp bô xít +
Na
2
CO
3
+ CaCO
3
trong lò quay ở nhiệt độ 1200
o
C để thực hiện các phản ứng sau:
Al
2
O
3
+ Na
Hiện nay và trong tương lai, khoảng 90% Al
2
O
3
trên thế giới vẫn được sản
xuất bằng công nghệ Bayer. Để chuyển từ bôxít thành Al
2
O
3
, người ta nghiền
quặng và trộn với đá vôi và soda cốt tích, rồi bơm hỗn hợp này vào bình chứa áp
lực cao, rồi nung lên. Ôxyt nhôm bị phân giải bằng soda cốt tích, rồi kết tủa, rửa, và
nung để tách nước ra. Thành phẩm là bột màu trắng mịn hơn muối ăn mà ta gọi là
alumina.
Công nghệ Bayer được dựa trên cơ sở của phản ứng thuận nghịch sau:
Hòa tan
Al(OH)3 + NaOH Gipxit rắn
Kết t
ủa<100
o
C
Gipxit rắn Al
2
O
3
+ 2H2O
19
Công nghệ Bayer chủ yếu gồm các công đoạn sau:
- Bôxit được hoà tách với dung dịch kiềm NaOH. Lượng Al
Được áp dụng nếu Al
2
O
3
của bôxit ở dạng gippsite (trihydrate Al
2
O
3
. 3H
2
O),
có thể được hoà tách dễ dàng. Bôxít này thường được hòa tách ở nhiệt độ tối đa
140-145
0
C trong dung dịch hòa tách có nồng độ kiềm thấp (120-140g/l Na
2
O).
Công nghệ Bayer châu Âu
Được áp dụng nếu Al
2
O
3
của bôxít ở dạng boehmite và diaspore
(monohydrate Al
2
O
3
.H
2
O), phải hòa tách ở nhiệt độ cao hơn 200
silic và khả năng lắng tách bùn đỏ với hàm lượng chất rắn 1.000-1.050 g/l. nồng độ
kiềm hoạt tính là 160±3 g/l, lượng vôi thêm vào 2-2,2 % (quặng bôxít khô), nhiệt
độ 95-100
0
C, thời gian 5-6 phút.
- Hoà tách với bùn quặng sau khi tiền khử silic ở nhiệt độ 145
o
C, thời gian
60-75 phút, áp suất 12-14 ata.
Trong khi đó, một nghiên cứu khác đối với bôxít Tân Rai cho kết luận như
sau:
- Bùn quặng qua tiền khử silic trước khi hoà tách để cải thiện việc khử silic
và khả năng lắng tách bùn với hàm lượng chất rắn 900-1.100g/l, trong dung dịch đã
qua sử dụng, nhiệt độ 95-100
o
C , thời gian từ bay hơi cô đặc 6-10 giờ; hậu khử silic
ở nhiệt độ 100
o
C, thời gian tối ưu là 6 giờ.
- Hoà tách với bùn quặng sau khi tiền khử silic ở nhiệt độ 105
0
C đến 107
o
C,
trong dung dịch có nồng độ kiềm cốt tích 210 g/l (hoặc cao hơn) thời gian: 2,5 giờ,
áp suất khí quyển.
Phương pháp bayer phương pháp hiện đại tối ưu đối với quặng bôxit nhưng
đòi hỏi thiết bị hiện đại và kinh phí thực hiện lớn, nên nhóm đề tài thực hiện nghiên
cứu phương pháp hóa học với kinh phí và thiết bị nghiên cứu phù hợp với điều kiện
hiện có.
dịch kiềm.
1.1 Thí nghiệm phản ứng hòa tan bôxit
Thực hiện quá trình phân tích thành phần khoáng của quặng bôxit Lâm
Đồng, Phân tích nhiệt DTA (Tìm được Nhiệt độ biến đổi cấu trúc và mất khối
lượng lớn nhất của quặng bôxit Lâm Đồng từ đó xác định khả năng hòa tan của
Al
2
O
3
trong dung dịch kiềm).
Bảng 3: Thành phần khoáng của Quặng bôxit Lâm Đồng
TT Ký hiệu mẫu Thành Phần Khoáng vật Hàm lượng (%)
1 Q. Bôxit Lâm Đồng Hyđrôgơtit - Fe
2
O
3
.H
2
O
Gipxit - Al(OH)
3
Kaolinit - Al
2
[Si
2
O
5
](OH)
4
+ Na
2
SO
4
Tiến hành nung mẫu quặng bôxit tại nhiệt độ 330, 350, 400, 500, 600
o
C. Sau
đó thực hiện cân 50 g quặng bôxit sau nung tại các nhiệt độ trên trong 100ml dung
dịch kiềm 30% tại nhiệt độ môi trường, lọc kết cặn được dung dịch thực hiện phản
ứng với axit thu được hydroxyt nhôm. Hiệu quả của phản ứng thấp, hướng triển
khai tăng nhiệt của phản ứng hòa tan, mục đích tăng khả năng phản ứng hòa tan của
nhôm oxyt trong dung dịch kiềm.
Thực hi
ện quá trình phản ứng hòa tan quặng bôxit đã nung tại các nhiệt độ
trên trong dung dịch kiềm duy trì nhiệt độ phản ứng hòa tan 90 -100
o
C. Hiệu quả
của quá trình phản ứng hoà tan và phản ứng tạo kết tủa hydroxyt nhôm rất thấp.
Từ nghiên cứu thử nghiệm trên nhóm đề tài đưa ra kết luận:
Đối với quặng bôxit khi sử dụng phương pháp hòa tan nhôm oxyt trong dung
dịch kiềm phải được thực hiện trong thiết bị autocla áp suất cao và nhiệt độ hòa tan
90 – 100
o
C, khi thực hiện phản ứng hòa tan trong môi trường áp suất khí quyển thì
phản ứng hòa tan nhôm oxyt trong dung dịch kiềm không có hiệu quả.
1.2. Thí nghiệm phản ứng hòa tan nhôm oxyt trong caolanh bằng dung dịch
kiềm.
Thí nghiệm tiến hành nung cao lanh tại các nhiệt độ 580, 650, 750, 850
o
C
Al
2
(SO
4
)
3
.18 H
2
O + 6 NaOH 2.Al(OH)
3
+ 3Na
2
SO
4
+ 18 H
2
O
Tiến hành nung mẫu quặng bôxit tại nhiệt độ 330, 350, 400, 500, 600
o
C. Sau
đó thực hiện cân 50 g quặng bôxit sau nung tại các nhiệt độ trên trong 500ml dung
dịch axit sulphuric 10% tại nhiệt độ 65-100
o
C, lọc kết cặn được dung dịch thực
hiện phản ứng với NaOH thu được hydroxyt nhôm. Qúa trình phản ứng diễn ra hiệu
quả tốt, nhưng bản chất trong quặng bôxit Lâm Đồng hàm lượng Fe
2
O
3
cao