Nghiên cứu công nghệ sản xuất dầu tuốc bin (ISO VG 32, 46) ứng dụng cho các nhà máy điện tại tại việt nam - Pdf 13

BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN HÓA HỌC CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM Báo cáo tổng kết khoa học, kỹ thuật Đề tài:

NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT DẦU
TUỐC BIN ỨNG DỤNG CHO CÁC NHÀ MÁY ĐIỆN
TẠI VIỆT NAM

Chủ nhiệm đề tài: ThS. PHẠM THỊ THÚY NGA - 2 -

TÓM TẮT NHIỆM VỤ
Dầu tuốcbin là dầu bôi trơn cho các máy tuốcbin gồm tuốcbin khí,
tuốcbin hơi và tuốcbin hơi nước. Hiện nay, dầu tuốcbin sử dụng ở Việt Nam
phải nhập ngoại hoàn toàn như là Turbinol X32; X46 của BP, T32, T46 của
Shell,
Đề tài “ Nghiên cứu công nghệ sản xuất dầu tuốcbin ứng dụng cho
các nhà máy điện tại Việt Nam” đã tiến hành nghiên cứu xác lập đơn pha chế
và công nghệ pha chế dầ
u tuốc bin ISO VG 32 và ISO VG 46. Các dầu pha
chế trên cơ sở dầu gốc Hàn Quốc nhóm 2 là SN150 và SN500. Các loại phụ
gia được lựa chọn là phụ gia chống oxy hóa (2,6-di-tert-butyl phenol và N-


MỞ ĐẦU 5
PHẦN 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6
1.1.Đặc điểm dầu Tuốcbin 6
1.2.Đánh giá tính chất các loại dầu Tuốcbin ISOVG32;46 đang có mặt tại Việt Nam 7
1.3. Thành phần dầu Tuốcbin 10
1.3.1. Đặc điểm dầu gốc pha chế dầu Tuốcbin. 10
1.3.2. Các phụ gia chức năng cho dầu Tuốcbin ISO VG32;46 12
1.3.2.1.Phụ gia
ức chế oxy hóa 13
1.3.2.2.Phụ gia chống tạo bọt 14
1.3.2.3.Phụ gia chống gỉ 15
PHẦN 2. THỰC NGHIỆM 17
2.1. Nguyên liệu và hóa chất 17
2.2. Dụng cụ và thiết bị. 17
2.3. Khảo sát và lựa chọn dầu gốc làm nguyên liệu pha chế phần nền 17
2.3.1. Lựa chọn dầu gốc 18
2.3.2. Kh
ảo sát tỷ lệ thành phần dầu gốc 17
2.4. Khảo sát các phụ gia cho dầu Tuốcbin ISOVG 32, 46 18
2.4.1. Khảo sát ảnh hưởng của phụ gia ức chế oxy hóa 18
2.4.2. Khảo sát ảnh hưởng của phụ gia chống tạo bọt. 19
2.2.3. Khảo sát ảnh hưởng của phụ gia chống gỉ 20
2.5. Lập đơn pha chế và đánh giá tính chất dầu Tuốcbin ISOVG 32; 46 pha chế 20
2.5.1 Các bước ti
ến hành 20
2.5.2 Các phương pháp đánh giá tính chất dầu pha chế được 21
2.3.2.1. Độ nhớt động học 21
2.3.2.2. Phép thử đo độ ăn mòn tấm đồng 22
2.3.2.3. Xác định điểm đông đặc 23


- 5 -

MỞ ĐẦU
Dầu bôi trơn và kỹ thuật bôi trơn có vai trò rất quan trọng trong vận hành
của thiết bị máy móc. Hầu hết các thiết bị máy móc, phương tiện giao thông có
kích cỡ và điều kiện làm việc khác nhau nên không thể làm việc được nếu như
không có các loại dầu bôi trơn thích hợp. Việc bôi trơn và lựa chọn chất lượng
bôi trơn là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới tu
ổi thọ của thiết bị. Trong đó
phạm vi sử dụng dầu bôi trơn công nghiệp rất rộng lớn, tối thiểu cũng có vài
trăm sản phẩm khác nhau đóng vai trò cực kỳ quan trọng và cần thiết trong việc
duy trì hoạt động của thiết bị.
Đáp ứng nhu cầu về dầu bôi trơn cùng với chính sách đổi mới kinh tế của
nhà nước, đã có nhiều công ty nước ngoài cung cấ

- Dầu gốc là phần bao gồm một hoặc nhiều loại dầu gốc được kết hợp với
nhau để đảm bảo tính chất cơ bản của dầu Tuốcbin và phần này thường chiếm
khoảng 90% kl c
ủa dầu.
- Phần phụ gia chiếm một tỷ lệ nhỏ song vô cùng quan trọng để khắc phục
một số nhược điểm mà dầu gốc không có.
Tuốcbin hơi nước tồn tại hơn 90 năm. Thông thường tuốcbin hơi nước
được nối với máy lái, một vài trường hợp thông qua một hộp điều khiển (hộp
số). Những năm gần đ
ây, các loại dầu tuốcbin không chứa phụ gia không có khả
năng đáp ứng với các yêu cầu đòi hỏi ngày càng tăng. Đối với tuốcbin hơi nước
các loại dầu có chứa phụ gia đã được sử dụng khoảng 50 năm trở lại đây. Trong
thực tế phụ gia nổi bật nhất là chống oxy hóa và mài mòn theo một quy luật cơ
bản [10].
Tuốcbin khí hầu hết không có bộ phậ
n chuyển động nào liên quan đến quá
trình cháy nên loại dầu cho Tuốcbin này không đòi hỏi gì cao cho quá trình bôi
trơn. Tuy nhiên chúng lại thường xuyên tiếp xúc với không khí xung quanh trong
quá trình tuần hoàn do đó một phần dầu bị phá vỡ cấu trúc tạo thành những hạt
sương nhỏ. Do vậy trong quá trình sử dụng dầu phải có tính ổn định oxy hóa cao
để chống lại quá trình oxy hóa và tạo cặn nhựa, cặn nhựa tạo thành được bám
trên thành các ổ trục hoặc đường dẫ
n gây khó khăn cho quá trình bôi trơn của
dầu đến các ổ trục. Hơn nữa dầu còn thường xuyên tiếp xúc với hơi nước do vậy
chúng sẽ theo dầu vào các ổ trục gây ăn mòn thiết bị và làm giảm chất lượng của
dầu. Chính vì lẽ đó dầu phải có tính tách nước cao để nhanh chóng tách nước
khỏi dầu.
Tóm lại, yêu cầu đối với dầu tuốcbin được xác định bới chính loại tuố
cbin
và điều kiện hoạt động riêng của từng loại. Đối với loại dầu tuốcbin cho tuốcbin

ỉ số nhớt(VI),
độ tách nhũ, khả năng chống oxy hóa…. Riêng đối với loại dầu Tuốcbin ISOVG
32;46 như hiện nay thì theo tiêu chuẩn ISO thường được sử dụng trong các
Tuốcbin không có bộ truyền động do chúng có độ nhớt không cao dễ dàng tuần
hoàn dầu và đặc biệt chúng có khả năng làm mát tốt hơn. Đồng thời các loại dầu
trong nhà máy nhiệt điện thường phải tiếp xúc với hơi nước và không khí do vậ
y
khó tránh khỏi khả năng bị oxy hóa và lẫn nước vì vậy chỉ tiêu chống oxy hóa và
tách nhũ là vô cùng cần thiết đối với các loại tuốcbin hơi như thế này ở nước ta.
Và dưới đây là một vài chỉ tiêu hóa lý của các loại dầu trên đang có mặt trên thị
trường nước ta:
- 8 -
Bảng1.1: Tính chất hóa lý một số loại dầu Tuốcbin đang sử dụng tại Việt Nam
TT Chỉ Tiêu
TP-22
(Nga)
TP-30
(Nga)
X-32
(BP)
X-46
(BP)
T-32
(Shell)
T-46
(Shell)
1 Khối lượng riêng,
g/cm
3


30/0
20/0
10/0

20/0
20/0
10/0

10/0
10/0
0/0

10/0
10/0
0/0

30/0
20/0
10/0

30/0
20/0
10/0
9 Độ ổn định chống oxy
hóa, 150
0
C,16h,3lO
2
/h
- %Kết tủa KL, %KL

- Điểm chớp cháy cốc hở: Đây là phương pháp nhằm xác định được nhiệt
độ mà tại đó dầu bắt đầu bắt lửa. Có thể thấy điểm chớp cháy cốc hở cho ta một
nhiệt độ an toàn làm việc cho dầu để chống cháy nổ trong quá trình s
ử dụng .
Đồng thời với các động cơ Tuốcbin hơi trong nhà máy nhiệt điện nếu phải tiếp
xúc ở nhiệt độ cao thì cần phải loại dầu đảm bảo cho khả năng thất thoát dầu là
- 9 -
thấp nhất do quá trình bay hơi khi làm việc ở nhiệt độ cao. Như ta thấy hầu hết
các loại dầu VG-32;46 đang có mặt trên thị trường nước ta hiện nay đều đảm bảo
tốt các yêu cầu kỹ thuật đối với Tuốcbin hơi.
- Chỉ số nhớt : Hay còn gọi là VI để đánh giá sự thay đổi độ nhớt của dầu
theo nhiệt độ đồng thời nó cũng cho ta biết v
ề thành phần có trong dầu gốc của
dầu Tuốcbin mà ta đang sử dụng. Theo như bảng phân tích ở trên đối với loại
dầu có chỉ số VI cao như vậy thì thành phần chính có trong dầu chủ yếu là
parafin, vì chúng ít thay đổi độ nhớt theo nhiệt độ.
- Điểm đông đặc: Đây là chỉ số xác định tại một nhiệt độ xác định dầu bắt
đầu đông đặc. Nó cho ta biế
t được lượng sáp có trong dầu vì chính sáp này gây
ra hiện tượng cho dầu và cũng cho ta biết hàm lượng phụ gia có trong dầu. Nếu
dầu có nhiệt độ đông đặc quá cao chứng tỏ thành phần sáp có trong dầu là khá
lớn nó cũng gây cản trở cho quá trình lưu thông dầu trong lúc tuần hoàn bôi trơn.
Nói chung theo như kết quả thu được thì nhiệt độ đông đặc cũng như thành phần
sáp có trong các loại dầu Tuốcbin VG-32;46 là đảm bảo về yêu cầu kỹ
thuật ở
nước ta hiện nay.
- Chỉ số axit (TAN): Là lượng kiềm KOH (tính bằng mg) cần thiết để
trung hòa hết tất cả các hợp chất mang tính axit có trong 1g mẫu dầu. Đối với
hầu hết các dầu bôi trơn đều có trị số TAN ban đầu nhỏ và tăng dần trong quá
trình sử dụng. Khi TAN tăng lên sẽ đánh mất tính năng chống oxy hóa của dầu

đối với dầu Tuốcbin hơi nước. Hàm lượng nước cho phép trong sử dụng là nhỏ
hơn 0,1% kl.
1.3. Thành phần dầu Tu
ốcbin
1.3.1. Đặc điểm dầu gốc pha chế dầu Tuốcbin
Trong quá trình nghiên cứu thì thấy sự có mặt của các hợp chất n-parafin
với khối lượng phân tử lớn thì chúng làm giảm độ linh động của dầu nhờn hay
nói cách khác là chúng làm tăng độ nhớt của dầu nhờn song nếu quá ít thì chúng
cũng không tốt cho dầu không đảm bảo độ nhớt ổn định khi làm việc. Do vậy
trong quá trình sản xuất ngườ
i ta phải tính toán sao cho việc loại thành phần n-
parafin là thích hợp hay nói cách khác là việc khử sáp phải đảm bảo yêu cầu kỹ
thuật. Bên cạnh đó thành phần iso-parafin là khá tốt cho dầu bôi trơn vì có độ
nhớt thích hợp cùng với tính chất tải nhiệt và chịu nhiệt tốt [11]. Việc loại bỏ các
thành phần không mong muốn là rất cần thiết, các thành phần như Napthen và
Hydrocacbon thơm nhiều vòng hoặc lai hợp giữa Hydrocacbon thơm và Napthen
chúng có độ nhớt khá cao song l
ại có chỉ số VI rất thấp do vậy chúng không
được coi là nguyên liệu cho việc sản xuất dầu bôi trơn có chất lượng cao. Đồng
thời các hợp chất này có xu hướng tạo nhựa mạnh làm giảm tính năng sử dụng
của dầu [5,12]
.
Vậy chỉ có các hợp chất Hydrocacbon với cấu trúc gồm Napthen hay
Hydrocacbon thơm 1 vòng có nhánh là iso-parafin dài và các iso-parafin chính là
thành phần lý tưởng cho việc sản xuất dầu bôi trơn. Những nguyên nhân để iso-
- 11 -
parafin là thành phần lý tưởng là do chúng không chỉ có độ nhớt hợp lý mà
chúng còn có chỉ số VI khá cao để sản xuất dầu nhờn có chất lượng cao như dầu
Tuốcbin. Trong trường hợp chúng ta sản xuất dầu Tuốcbin chúng ta cần loại bỏ
các thành phần có hại như n-parafin, hợp chất thơm đa vòng, các hợp chất phi

gốc, dầu mà chứa càng nhiều nguyên tố dị nguyên tố thì nhanh bị oxy hóa. Đánh
giá các tính chất của dầu gốc để lựa chọn được thực hiện trong phần thực nghiệm
và kết quả tiếp theo.

- 12 -
1.3.2. Các phụ gia chức năng cho dầu Tuốcbin ISO VG-32;46
Phụ gia là những hợp chất hữu cơ, cơ kim và vô cơ, thậm chí là các
nguyên tố thêm vào chất bôi trơn. Thông thường phụ gia được dùng cho vào dầu
bôi trơn có thành phần chiếm từ 0,01 đến 5% kl. Tuy nhiên trong một số trường
hợp phụ gia có thể được cho vào với nồng độ cao hơn nhưng đấy chỉ là một số
trường hợp đặc biệt [15].
Hi
ện nay phần lớn các loại dầu nhờn bán trên thị trường đều có phụ gia để
thỏa mãn các yêu cầu tính năng kỹ thuật của dầu bôi trơn. Trong một số trường
hợp phụ gia đơn lẻ được pha thẳng vào dầu gốc, trong một số trường hợp khác
phụ gia lại được đóng gói (được gọi là phụ gia đóng gói- gồm nhiều phụ gia
khác nhau) sau đó sẽ được pha vào dầ
u gốc. Một số phụ gia nâng cao phẩm chất
có sẵn của dầu gốc một số khác lại tạo ra những tính chất mới cần thiết cho dầu.
Các loại phụ gia khác nhau có thể tương hỗ nhau hoặc đối kháng nhau. Những
tương tác này do hầu hết các phụ gia đều là các hóa chất hoạt động vì thế chúng
có tác dụng qua lại ngay trong phụ gia đóng gói hoặc trong dầu và tạo ra những
hợp chất mớ
i [16].
Như vậy việc tổ hợp phụ gia đòi hỏi sự khảo sát kỹ lưỡng các tác dụng
tương hỗ qua lại với nhau cũng như cơ chế hoạt động của chúng. Khảo sát để
khắc phục những hiệu ứng không mong muốn của phụ gia và việc tổ hợp các
phụ gia phải được điều chỉnh để đạt được tính năng tối
ưu của phụ gia trong dầu
bôi trơn.

chế oxy hóa; trong số này thì các polyankylphenol có rất nhiều ưu điểm. Một số
chất điển hình là [10]: Hiệu quả tác dụng của các chất chứa nhóm thế này đã thể hiện vai trò của
mật độ điện tử và sự án ngữ không gian ở nguyên tử oxy của nhóm OH: tăng số
nhóm thế ankyl và các nhóm cho điện tử ở vị trí octo và para làm tăng hiệu quả
tác dụng; sự xuất hiện nhóm nhận điện tử giảm hiệu quả ức chế. Các ankyl ở vị
trí octo có nhánh ở
vị trí α hay việc tăng số C của ankyl đến C
4
ở vị trí para có
tác dụng tốt. Thường dùng kết hợp các dẫn xuất của phenol với các chất ức chế
oxy hóa khác (như amin, disunfua, polydisunfua) vì hỗn hợp của các chất phân
2,6- di-tert-butyl phenol
2,6- di-tert-butyl-4-metylphenol
- 14 -
hủy peroxyt và các chất nhận gốc có tác dụng tương hỗ cho nhau do đó chỉ cần
dùng với nồng độ nhỏ [3,10].
Ngoài ra còn có phụ gia 2,6-ditertbutylparacresol (đi từ paracresol với
isobuten, xúc tác H
2
SO
4
) rất thích hợp cho dầu tuabin, máy biến thế và dầu thủy
lực và chất này chỉ dùng ở nhiệt độ thấp do nó bị bay hơi mạnh ở nhiệt độ trên
100
0
C. ở nhiệt độ trên 100
0

chất hoạt động bề mặt như phụ gia chống oxy hóa, phụ gia tẩy rửa có khuynh
hướng tạo bọt mạnh hơn so với dầu sạch [14].
Các phụ gia chống tạo bọt thường sử dụng là các silicon lỏng đặc biệt là
Polymethylsiloxanes có công thức [10]: Hiện nay phụ gia được nhập khẩu thường là các phụ gia đóng gói. Các
hãng dầu lớn trên thế giới đều có sản xuất phụ gia cho dầu bôi trơn, nhưng uy tín
nhất hiện nay vẫn là phụ gia của hãng Lubrizol của Mỹ. Lubrizol 888 (Lz 888) là
phụ gia đóng gói có khả năng chống tạo bọt cho dầu bôi trơn, theo khuyến cáo
của nhà sản xuất Lz 888 có hiệu lực khi bổ sung với hàm lượng từ 1 ÷ 10ppm.
1.3.2.3. Phụ gia chống g

Các chất chống gỉ điển hình được sử dụng cho dầu tuốcbin trong thực tế
như axit succinic và các dẫn xuất. Các chất này có độ ổn định trong các điều kiện
bình thường. Trong công nghiệp axit loại này và các dẫn xuất của chúng có một
số ứng dụng lớn như làm dung môi và chất bôi trơn phân hủy sinh học, trong kỹ
thuật chất dẻo, keo, sơn tĩnh điện, chất ch
ống ăn mòn, chổng gỉ, Trong dầu
tuốcbin người ta thường bổ sung khoảng 0 ÷ 0,1% các axit này như một chất ức
chế gỉ [10, [13].
Phụ gia chống gỉ được lựa chọn có tên thương mại là ADX 200 của hãng
Adibis đã được đăng ký theo tiêu chuẩn của BP Chemicals (Additives) Australia
Polymetylsiloxan
Xyclic Polydimetylsiloxan
- 16 -
Pty. Limited. Phụ gia này trên cơ sở succinmide là phụ gia không tro phù hợp để
sử dụng cho dầu tuốcbin. ADX 200 phân tán trong dầu mà không tạo cặn, sự pha
trộn với số lượng lớn ở nhiệt độ không vượt quá 65
0

- 2,6-di-tert-butyl phenol (DBP)
- 2,6-di-tert-butyl-4-metyl phenol (DBMP)
- N-phenyl-1-naphtylamin (PANA)
- Lubrizol 888 (Lz 888)
- ADX 200
- Các loại dung môi, thuốc thử, axit, kiềm
Đặc tính của các dẫn xuất kể trên như sau:
Bảng 2.1. Đặc tính các dẫn xuất của phenol
TT Đặc tính
2,6-di-tert-butyl
phenol
2,6 di-tert-butyl-4-
metyl phenol
1
Khối lượng riêng ở
20
0
C, g/cm
3
- 1,05
2 Nhiệt độ chớp cháy,
0
C 118 127
3
Khả năng tan trong
nước ở 20
0
C, g/l
Tan < 0,01
4 Nhiệt độ nóng chảy,


2.2. Dụng cụ và thiết bị
- Các loại thiết bị, dụng cụ đo độ nhớt, bọt, tách nhũ, ăn mòn đồng,
- Thùng Inox hai lớp pha chế sản phẩm
- 18 -
- Máy khuấy
- Bơm định lượng
2.3. Khảo sát và lựa chọn dầu gốc làm nguyên liệu pha chế phần nền
2.3.1. Lựa chọn dầu gốc
Hiện nay có rất nhiều loại dầu gốc được nhập khẩu vào nước ta, tuy nhiên
chất lượng phù hợp nhất, giá cả tương đối hợp lý để lựa chọn là dầu gốc của
Trung Đông, Đài Loan và Hàn Quốc. Nhằm lựa chọ
n dầu gốc đảm bảo chất
lượng, đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của dầu tuốcbin như đã nêu ở trên, thực nghiệm
tiến hành khảo sát phân tích đánh giá các loại dầu gốc SN150, SN500 của Trung
Đông, Đài Loan và Hàn Quốc. Yêu cầu quan trọng nhất của dầu gốc được đánh
giá là khả năng chống oxy hóa được tiến hành theo phương pháp GOST 981,
điều kiện thử nghiệm là 150
0
C, tốc độ thổi khí là 3lit O
2
/ phút trong thời gian thử
16h. Thu được kết quả tiếp tục tiến hành khảo sát thêm các tính chất khác của
nhóm dầu lựa chọn này và so sánh theo tiêu chuẩn kỹ thuật của dầu BP Turbinol
X32; 46, kết quả lựa chọn thể hiện trong phần tiếp theo: kết quả và thảo luận
2.3.2. Khảo sát tỷ lệ thành phần dầu gốc
Hai loại dầu cần pha chế có đặc tính kỹ thuật tương tự nhau chỉ khác nhau
về cấp độ nhớt. Từ kết quả lựa chọn hai loại dầu gốc và dựa vào bảng biểu đồ
xác định độ nhớt của hỗn hợp hai cấu tử (phụ lục 1), tiến hành pha chế thay đổi
phối liệu để tạo ra các phần nền có cấp độ nhớt phù hợp với yêu cầu của hai loại

C. Sau khoảng thời gian là
16h, kết thúc quá trình thử nghiệm. Xác định trị số axit của dầu và hàm lượng
cặn theo theo phương pháp thích hợp. Dựa vào kết quả đó lựa chọn ra loại phụ
gia ức chế oxy hóa phù hợp.
2.4.2. Khảo sát ảnh hưởng của phụ gia chống tạo bọt
Phụ gia chống tạo bọt được sử dụng là phụ gia đóng gói Lubrizol 888 có
đặc tính như sau :
+ Độ nhớt độ
ng học ở 40
0
C : 3,6 cSt
+ Tỷ trọng ở 15,6
0
C (60
0
F) : 0,32
Dầu được pha chế để khảo sát với thành phần như sau :
+ Dầu gốc SN150 (hoặc hỗn hợp SN150/SN500)
+ Phụ gia chống oxy hóa
PANA + dẫn xuất của phenol
+ Phụ gia chống tạo bọt: Lubrizol 888 khảo sát với hàm lượng 10÷100
ppm
Các mẫu dầu với tỷ lệ phụ gia tạo bọt khác nhau được tiến hành thử
nghiệm tính năng tạo bọt theo phương pháp ASTM D892. Lấy 200 ml dầu nhờ
n
- 20 -
vào ống thử sau đó sục khí với tốc độ 100 ml/s ở các nhiệt độ 24
0
C ; 93,5
0

đề
cập dưới đây. Kết quả được đánh giá trong phần 3 của đề tài.
2.5. Lập đơn pha chế-đánh giá tính chất dầu Tuốcbin ISO VG 32,46 pha chế
2.5.1. Các bước tiến hành
Sau khi đã lựa chọn được dầu gốc, đã tìm được phối đơn pha chế giữa các
loại dầu gốc vơi nhau, nhằm tìm ra một công thức pha chế dầu gốc tối ưu đạt
được các tính năng sử d
ụng quan trọng là chỉ số axit nhỏ nhất, khả năng tạo cặn
và độ thay đổi độ nhớt là thấp nhất. Từ hai loại dầu SN150, SN500 kết hợp với
các phụ gia tính năng đã khảo sát, tiến hành pha chế như sau :

- 21 - Hỗn hợp dầu gốc SN-150 và SN-500 được gia nhiệt trong thiết bị có máy
khuấy đến nhiệt độ 60÷65
0
C. Các loại phụ gia được thêm dần theo tỷ lệ vào

PHỤ GIA
KIỂM TRA
CHẤT L
Ư

NG
- 22 -
làm mát…. Do đó, độ nhớt của dầu nói riêng và chất lượng của dầu nói chung
có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của bộ truyền động, cụm bánh răng, các ổ
trục và mức độ tiêu hao năng lượng và hoạt động chung của tuabin.
Độ nhớt cao thì động cơ khó khởi động ở nhiệt độ thấp, khả năng bơm
dầu bôi trơn đến các chi tiết máy hạ
n chế đẫn đến gây ra ma sát lớn và sẽ làm
nóng máy, nóng dầu và gây ra mài mòn lớn dẫn đến chất lượng dầu nhanh bị lão
hóa. Độ nhớt quá thấp thì làm dầu linh động hơn nhưng khả năng bám dính của
dầu trên các chi tiết máy cần bôi trơn kém dẫn đến khả năng bôi trơn không
được tốt và cũng gây ra ảnh hưởng xấu như trên. Tiến hành đo độ nhớt động học
theo phương pháp tiêu chuẩn ASTM D445.
2.5.2.2. Phép thử
đo độ ăn mòn của tấm đồng (ASTM D130)
Ăn mòn tấm đồng thể hiện sự có mặt của lưu huỳnh hoạt động trong mẫu
thử nghiệm.
Kiểm tra thử nghiệm ăn mòn bằng cách cho tiếp xúc sản phẩm dầu mỏ với
tấm đồng. Cho phép xác định lượng tác động ăn mòn của sản phẩm lên tấm đồng
Quan sát tấm đồng, so sánh với các tấm đồng
ăn mòn chuẩn. Cho tấm
đồng vào ống nghiệm dẹt để có trạng thái quan sát giống như các tấm đồng ăn
mòn chuẩn được quan sát qua lớp keo trong suốt ở bảng chuẩn. Bảng chuẩn bao
gồm 13 tấm đồng có mức ăn mòn khác nhau:
• Tấm chuẩn đầu tiên là tấm vừa đánh bóng xong hay không bị ăn mòn.

2
’ và thể tích ban
đầu V
1
.
Thông thường người ta xác định đặc tính tạo bọt của dầu bôi trơn theo ba
giai đoạn: Giai đoạn 1 xác định độ tạo bọt ở 24
0
C, giai đoạn 2 xác định độ tạo
bọt ở 94
0
C, giai đoạn 3 xác định độ tạo bọt ở 24
0
C.
2.5.2.5. Phép thử đặc tính tách nhũ của dầu (ASTM D1401)
Phương pháp ASTM-D1401 đo khả năng tách nước của dầu bôi trơn hay
nói cách khác là cho dầu Tuốcbin hơi nhưng cũng có thể dùng cho các loại dầu
bôi trơn khác. Nếu lượng nước không nhiều và không hoàn toàn tách ra thì nhũ
sẽ được tạo thành và được giữ trong dầu ở dạng nhũ tương, phần nước này sẽ
tiếp xúc với các bộ phận bằng sắt của thi
ết bị bôi trơn và làm han gỉ chúng. Nhũ
cũng làm tăng quá trình oxy hóa và làm giảm khả năng bôi trơn của dầu.
Phép đo này được tiến hành như sau: Đưa vào ống đong hình trụ 40ml
mẫu dầu và 40ml nước cất, rồi khuấy mạnh trong 5 phút ở 54
0
C, mức độ tách
nhũ được ghi lại theo từng thời gian. Đối với hầu hết các loại dầu đòi hỏi sau 30
phút lớp nhũ chỉ được còn lại ít hơn 3cm
3
. Nếu sau 1h việc tách nhũ không hoàn

trên bề mặt thanh thép.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status