Các chủ trương chung của Đảng và Nhà nước về phát triển công nghệ thông tin tại Việt Nam - Pdf 13

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CÙ KIM LONG CÁC CHỦ TRƯƠNG CHUNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI VIỆT NAM

TIỂU LUẬN THẠC SĨ

Ngành: Công nghệ thông tin
Chuyên ngành: Quản lý Hệ thống thông tin
Mã số:
TIỂU LUẬN THẠC SĨ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Nguyễn Ái Việt
TS. Lê Quang Minh Hà Nội - 2011
i
3.3. Các nhiệm vụ cần giải quyết 12
3.4. Các giải pháp chính sách chiến lược 12
3.5. Kết luận Chương 3 13
KẾT LUẬN 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
1 BẢNG ĐỊNH NGHĨA CHỮ VIẾT TẮT

CNTT
Công nghệ thông tin
CNTT-TT
Công nghệ thông tin và Truyền thông
Bộ TT&TT
Bộ Thông tin và Truyền thông
CQNN
Cơ quan nhà nước
NSNN
Ngân sách nhà nước
DVCTT
Dịch vụ công trực tuyến
GDĐT
Giao dịch điện tử
2 MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Trong vài thập kỷ vừa qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản nhằm

tiêu, quan điểm chỉ đạo, các nhiệm vụ và các giải pháp chính sách về phát triển CNTT
tại Việt Nam giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020.
3 + Hệ thống lại các văn bản hướng dẫn thi hành các Luật GDĐT và Luật CNTT
làm căn cứ pháp lý quan trọng trong việc xây dựng các đề án, dự án CNTT.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn
giúp các nhà lãnh đạo có được cách nhìn tổng quan về chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước về phát triển CNTT tại Việt Nam. Hơn nữa, kết quả nghiên cứu
cũng cung cấp cho các nhà quản lý có những căn cứ để hoạch định chính sách chiến
lược và xây dựng các kế hoạch, đề án, dự án phát triển CNTT cho đơn vị mình phù
hợp với các chủ trương phát triển CNTT của Đảng và Nhà nước đã đưa ra. Ngoài ra,
kết quả nghiên cứu của đề tài cũng giúp cho cộng đồng CNTT tại Việt Nam có được
những hiểu biết nhất định về tình hình và xu thế phát triển CNTT tại Việt Nam.
4. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của đề tài, phạm vi nội dung chính sẽ tập trung nghiên cứu
các chủ chương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển, ứng dụng CNTT
thông qua một số văn bản tiêu biểu của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Thủ tướng
Chính phủ đã ban hành nhằm thúc đẩy ứng dụng và phát triển CNTT tại Việt Nam.
Phạm vi thời gian sẽ tập trung nghiên cứu các chủ chương, chính sách của Đảng
và Nhà nước về phát triển, ứng dụng CNTT thông qua các giai đoạn từ năm 2011 trở
về trước, giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu lý luận thông qua việc nghiên cứu tài liệu,
đánh giá, phân tích, tổng hợp các chủ trương chung Đảng và Nhà nước về phát triển
CNTT tại Việt Nam.
6. Cấu trúc của Tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của Tiểu

4 tại Singapore, Chính phủ đã ký kết Hiệp định khung E-ASEAN, trong đó, Việt Nam
cam kết thực hiện mục tiêu xây dựng Chính phủ điện tử.
Bên cạnh đó, chủ trương phát triển CNTT, đặc biệt công nghiệp phần mềm luôn
được ưu tiên phát triển. Để cụ thể hóa chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển
công nghiệp phần mềm, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 07/2000/NQ-CP ngày
05/06/2000 về xây dựng và phát triển công nghiệp phần mềm giai đoạn 2000-2005.
1.3. Giai đoạn từ năm 2001-2005
Trong giai đoạn này, nhận thức của toàn xã hội về CNTT đã được nâng lên, hạ
tầng kỹ thuật và truyền thông đã được trang bị và phát triển theo hướng hiện đại, nguồn
nhân lực về CNTT cũng tăng lên. Tuy nhiên, CNTT của Việt Nam tại thời điểm này vẫn
đang ở tình trạng lạc hậu, phát triển chậm, có nguy cơ tụt hậu xa hơn so với nhiều nước
trên thế giới và khu vực. Trước tình hình đó, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương
khóa VIII đã ra Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 về việc đẩy mạnh ứng dụng và
phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
5 Để cụ thể hóa nhiệm vụ này và đồng bộ hóa với Chương trình cải cách hành
chính nhà nước giai đoạn 2001-2010, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số
112/2001/QĐ-TTg ngày 25/07/2001 Phê duyệt Đề án tin học hóa quản lý hành chính
nhà nước giai đoạn 2001-2005.
Cũng trong giai đoạn này, một đạo luật quan trọng đã được Quốc hội khóa XI
thông qua đó chính là Luật GDĐT số 51/2005/QH11 ngày 29/11/2005, quy định về
GDĐT trong hoạt động CQNN; trong lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại và các
lĩnh vực khác.
1.4. Giai đoạn từ năm 2006-2010
Chủ trương, chính sách của Nhà nước về ứng dụng và phát triển CNTT tại Việt
Nam tiếp tục được nhấn mạnh và cụ thể hóa bằng một văn bản quan trọng nhất trong
lĩnh vực CNTT đó chính là Luật CNTT của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam số 67/2006/QH11 ngày 29/06/2006.

hóa, hiện đại hóa, cải cách hành chính, thông qua hàng loạt các chương trình, kế
hoạch, đề án, dự án ứng dụng và phát triển CNTT. Đến năm 2010, nhận thức về tầm
quan trọng của CNTT được nâng cao trong xã hội. Hệ thống tổ chức quản lý nhà nước
về CNTT đã từng bước được kiện toàn. Môi trương pháp lý tương đối hoàn thiện, tạo
điều kiện thuận lợi cho ứng dụng và phát triển CNTT. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và truyền
thông đã đạt trình độ hiện đại về công nghệ, đáp ứng tốt nhu cầu cơ bản của xã hội.
Ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều
hành cũng như trong công tác chuyên môn đã từng bước đổi mới. Ứng dụng CNTT
trong xã hội, người dân và doanh nghiệp đã có những chuyển biến tích cực. Hệ thống
đào tạo nguồn nhân lực CNTT phát triển nhanh cả về quy mô và hình thức đào tạo.
Công nghiệp CNTT-TT đã thực sự trở thành một trong những ngành kinh tế chủ lực
của nền kinh tế quốc dân.
Mặc dù đã đạt nhiều thành tựu quan trọng song kết quả đạt được vẫn chưa đáp
ứng được một số mục tiêu và chỉ tiêu cơ bản đề ra trong Chỉ thị 58-CT/TW đó là
CNTT vẫn chưa trở thành một trong những động lực quan trọng nhất của sự phát triển
kinh tế - xã hội ở nước ta. CNTT của Việt Nam vẫn còn tụt hậu khá xa so với các nước
tiên tiến trong khu vực, chưa đạt mục tiêu “CNTT Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong
khu vực”. Việc ứng dụng CNTT chưa có tác dụng đổi mới hẳn lề lối làm việc, chưa
tạo được thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp và người dân. Thị trường công nghiệp
CNTT còn nhỏ. Năng lực quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện chưa theo kịp tình
hình phát triển. Đầu tư cho ứng dụng CNTT còn ít, chia các khoản đầu tư nhỏ. Các hệ
thống còn bị cô lập, thiếu tính tương hợp, không thành hệ thống thống nhất, trao đổi
thông tin còn rất kém, không có chìa khóa nào để chuẩn hóa,
Tóm lại, trong các giai đoạn đã trình bày ở trên, chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước luôn luôn xác định CNTT phải trở thành động lực quan trọng góp
phần thực hiện thắng lợi mục tiêu Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn
2001-2010. Việc nhìn nhận, tổng kết, đánh giá lại việc thực hiện Chỉ thị số 58-CT/TW
là rất quan trọng để định hướng ngành CNTT-TT tiếp tục phát triển trong giai đoạn
tới, góp phần tích cực vào việc thực hiện thành công chiến lược đưa đất nước cơ bản
trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.

trên 127.500 người, công nghiệp phần mềm khoảng trên 70.000 người; công
nghiệp nội dung số khoảng 50.900 người).
Doanh thu ngành công nghiệp CNTT cũng đã có những bước tăng trưởng
nhanh và ổn định, tổng doanh thu công nghiệp CNTT tính đến tháng 12/2010 là 7.629
triệu USD, trong đó:
8 + Công nghiệp phần cứng: 5.631 triệu USD (tăng gấp 5 lần so với năm
2005);
+ Công nghiệp phần mềm: 1.064 triệu USD (tăng gấp 4 lần so với năm
2005);
+ Công nghiệp nội dung số: 934 triệu USD (tăng gấp gần 9 lần so với
năm 2005).
Tăng trưởng doanh thu bình quân toàn ngành công nghiệp CNTT-TT trong cả
giai đoạn từ 2001-2010 đạt 20-25%/năm. Đến cuối năm 2010, tổng doanh thu toàn
ngành CNTT-TT đạt gần 17 tỷ USD, gấp 19 lần so với năm 2000, trong đó:
+ Doanh thu công nghiệp phần mềm và công nghiệp nội dung số đã đạt
gần 2 tỷ USD;
+ Doanh thu công nghiệp phần cứng - điện tử đạt trên 5,6 tỷ USD;
+ Doanh thu dịch vụ viễn thông đạt trên 9,4 tỷ USD.
2.5. Đánh giá của thế giới về CNTT-TT Việt Nam trong thời gian qua
Theo Báo cáo CNTT toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới năm 2011, xếp
hạng về hạ tầng CNTT-TT qua chỉ số sẵn sàng kết nối (NRI) được tính từ ba yếu tố:
môi trường điều phối kinh tế vĩ mô cho CNTT-TT, sự sẵn sàng của người dân, doanh
nghiệp và chính phủ cho việc sử dụng và thụ hưởng CNTT-TT, và mức độ ứng dụng
CNTT-TT, Việt Nam xếp hạng 55/133 quốc gia (tăng 20 bậc so với năm 2001 là
75/134 quốc gia). Xếp vị trí thứ 4 trong khu vực Đông Nam Á, sau các nước
Singapore, Malaysia và Indonesia.
Theo xếp hạng Chính phủ điện tử năm 2010 của Liên Hiệp Quốc, Việt Nam xếp

TRIỂN CNTT GIAI ĐOẠN 2011-2015 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020
Các chủ trương, chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước về CNTT trong 10
năm tới được thể hiện khá rõ nét trong các văn bản mới được ban hành gần đây, tiêu
biểu là Quyết định số 1605/QĐ-TTg ngày 27/08/2010 phê duyệt Chương trình quốc
gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN giai đoạn 2011-2015 và Quyết
định số 1755/QĐ-TTg ngày 22/09/2010 phê duyệt Đề án “Đưa Việt Nam trở thành
nước mạnh về CNTT và truyền thông” (sau đây gọi tắt là Đề án nước mạnh). Các văn
bản đã nêu rất rõ mục tiêu và quan điểm chỉ đạo, các nhiệm vụ và các giải pháp phát
triển CNTT tại Việt Nam trong giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020.
3.1. Mục tiêu
3.1.1. Mục tiêu chung
Phát triển nguồn nhân lực CNTT đạt tiêu chuẩn quốc tế; xây dựng công nghiệp
CNTT, đặc biệt là công nghiệp phần mềm, nội dung số và dịch vụ trở thành ngành
kinh tế mũi nhọn, góp phần quan trọng vào tăng trưởng GDP và xuất khẩu; thiết lập hạ
tầng viễn thông băng rộng trên phạm vi cả nước; ứng dụng hiệu quả CNTT trong mọi
lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh.
CNTT-TT là động lực quan trọng góp phần bảo đảm sự tăng trưởng và phát
triển bền vững của đất nước, nâng cao tính minh bạch trong các hoạt động của CQNN,
tiết kiệm thời gian, kinh phí cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Tốc độ tăng trưởng doanh thu hàng năm đạt từ 2 - 3 lần tốc độ tăng trưởng GDP
trở lên. Đến năm 2020, tỷ trọng CNTT-TT đóng góp vào GDP đạt từ 8 - 10%.
3.1.2. Mục tiêu cụ thể
a) Về nguồn nhân lực CNTT
Đến năm 2015: 30% số lượng sinh viên CNTT, điện tử, viễn thông sau khi tốt
nghiệp ở các trường đại học có đủ khả năng chuyên môn và ngoại ngữ để có thể tham
gia thị trường lao động quốc tế.
Đến năm 2020: 80% sinh viên CNTT-TT tốt nghiệp ở các trường đại học đủ
khả năng chuyên môn và ngoại ngữ để tham gia thị trường lao động quốc tế. Tổng số
nhân lực tham gia hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp CNTT đạt 1 triệu người, trong
đó bao gồm nhân lực hoạt động trong nước và nhân lực tham gia xuất khẩu.

Đến năm 2015: cung cấp hầu hết các dịch vụ công cơ bản trực tuyến tới người
dân và doanh nghiệp mức độ 2 và 3 (nhận mẫu hồ sơ trên mạng và trao đổi thông tin,
gửi, nhận hồ sơ qua mạng).
Đến năm 2020: Chính phủ điện tử Việt Nam thuộc loại khá trên thế giới. Việt
Nam nằm trong nhóm 1/3 nước dẫn đầu trong bảng xếp hạng của Liên hiệp quốc về
mức độ sẵn sàng Chính phủ điện tử. Hầu hết các dịch vụ công cơ bản được cung cấp
trên mạng cho người dân và doanh nghiệp ở mức độ 4 (thanh toán phí dịch vụ, nhận
kết quả dịch vụ qua mạng).
e) Về xây dựng doanh nghiệp và phát triển thị trường CNTT-TT
Đến năm 2015: phát triển các doanh nghiệp và tập đoàn CNTT đạt trình độ, quy
mô khu vực ASEAN, có các hoạt động kinh doanh trên thị trường quốc tế, trong đó
một số doanh nghiệp có tổng doanh thu đạt trên 10 tỷ USD.
12 Đến năm 2020: nhiều doanh nghiệp và tập đoàn CNTT của Việt Nam hoạt động
sản xuất kinh doanh hiệu quả, đạt trình độ, quy mô thế giới, trong đó một số doanh
nghiệp có tổng doanh thu đạt trên 15 tỷ USD.
3.2. Quan điểm chỉ đạo
Quan điểm chỉ đạo về ứng dụng và phát triển CNTT-TT trong gia đoạn tới, Đề
án nước mạnh cũng nêu rõ: Tăng tốc phát triển CNTT-TT Việt Nam trên cơ sở bảo
đảm tính kế thừa, tận dụng những thành tựu, kết quả đã có, phù hợp với các chiến
lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển trong lĩnh vực CNTT-TT, song cần có những đột
phá trong phát triển với những mục tiêu cao hơn, tốc độ nhanh hơn; Phát triển hợp lý
cả chiều rộng và chiều sâu, số lượng và chất lượng trên cơ sở phát huy nội lực, tận
dụng tri thức và các nguồn lực quốc tế; Sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư từ NSNN,
đồng thời thu hút các doanh nghiệp trong, ngoài nước và toàn xã hội tham gia đầu tư
phát triển; Áp dụng mức ưu tiên, ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật dành cho
công nghệ cao, công tác nghiên cứu, đào tạo về khoa học và công nghệ cho các khu
CNTT tập trung, các cơ sở nghiên cứu, đào tạo, các doanh nghiệp, cá nhân cung cấp

14 KẾT LUẬN
Trên đây là toàn bộ nội dung nghiên cứu của Đề tài. Đề tài đã được hoàn thành
được các mục tiêu đề ra bằng tất cả tinh thần khoa học, nghiên cứu một cách nghiêm
túc, bằng nhiều công sức tìm đọc, nghiên cứu tài liệu, đánh giá, phân tích, tổng hợp
các văn bản quy phạm pháp luật và kinh nghiệm thực tiễn của tác giả, một lần nữa xin
khẳng định tính chất thiết thực của Đề tài.
Tác động của các chủ trương, chính sách đối với phát triển CNTT
Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước có tác động rất lớn đối với
ứng dụng và phát triển CNTT tại Việt Nam. Thực tế cho thấy, việc ban hành Nghị
quyết số 49/CP ngày 04/08/1993 đã góp phần xây dựng những nền móng bước đầu
vững chắc về cho một kết cấu hạ tầng về thông tin trong xã hội, đồng thời có ảnh
hưởng tích cực xây dựng công nghiệp CNTT trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn
của đất nước như hiện nay.
Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã tiếp tục được khẳng định
và nhấn mạnh tại Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 đã ảnh hưởng sâu rộng trong
cộng đồng CNTT tại Việt Nam. Các chủ trương, chính sách đó có tác động đặc biệt to
lớn đối với nhận thức của toàn xã hội về vai trò và tầm quan trọng của CNTT trong sự
nghiệp phát triển đất nước, cụ thể là “ ứng dụng và phát triển CNTT là một nhiệm vụ
ưu tiên trong phát triển kinh tế - xã hội, là phương tiện chủ lực để đi tắt đón đầu, rút
ngắn khoảng cách phát triển so với các nước đi trước.”.
Có thể nói rằng, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển
công nghiệp CNTT, đặc biệt là công nghiệp phần mềm đã nêu tại các văn bản như
Nghị quyết số 07/2000/NQ-CP và Chỉ thị số 58-CT/TW đã ăn sâu vào tiềm thức của
cộng đồng CNTT, đặc biệt là những người làm phần mềm tại Việt Nam. Cũng nhờ sức
lan tỏa của Chỉ thị 58-CT/TW, ứng dụng CNTT trong xã hội, người dân và doanh
nghiệp có những chuyển biến rất tích cực.
Lợi ích của CNTT mang lại

hệ thống hơn; triển khai các hệ thống thành một hệ thống tập trung ở mức quốc gia, có
tính tương hợp, trao đổi thông tin tốt nhất; nâng cao hiệu quả sử dụng và đảm bảo chất
lượng đầu tư; tiết kiệm tiền bạc, thời gian và đỡ tốn công sức; và là công cụ để quản lý
và điều hành CNTT ở tầm cỡ quốc gia.
+ Ưu tiên phát triển nguồn nhân lực CNTT chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ
kiến trúc sư trưởng doanh nghiệp, các nhà tư vấn và quản lý dự án, coi đây là mấu
chốt để đưa sự nghiệp phát triển CNTT tại Việt Nam đi đến bến thành công.
+ Phát huy tối đa lợi thế của một nước đi sau, thừa hưởng những tinh hoa của
thế giới về phát triển CNTT và tăng cường hợp tác quốc tế để học hỏi những bài học
kinh nghiệm đắt giá về xây dựng Chính phủ điện tử từ các nước đã triển khai rất thành
công như Hàn Quốc, Singapore, Malaysia,
+ Cuối cùng không kém phần quan trọng đó là tích cực tuyên truyền mạnh mẽ
nhằm nâng cao nhận thức của xã hội về các lợi ích và vai trò của CNTT một cách toàn
diện.

16 TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Ban Chỉ đạo Quốc gia về CNTT, Bộ TT&TT (2011), Sách trắng CNTT-TT Việt
Nam 2011, Nhà Xuất bản TT&TT, Hà Nội.
2.
Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (2000), Chỉ thị số 58-
CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển
công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
3.
Bộ Thông tin và Truyền thông (2011), Báo cáo Ứng dụng CNTT 2010, Hà Nội.
4.
Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1993), Nghị quyết số


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status