Thu thập và đánh giá đa dạng di truyền của các mẫu giống ngô nếp và ngô tẻ địa phương - Pdf 13

1
1. MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo dự đoán của Viện Nghiên cứu Chương trình Lương thực Thế giới
nhu cầu ngô toàn cầu vào năm 2020 sẽ vượt 50% so với năm 1995, tức sẽ
tăng từ 558 triệu tấn (1995) lên tới 837 triệu tấn vào năm 2020. Đây thực sự là
thách thức lớn đối với sản xuất ngô, đặc biệt đối với các nước đang phát triển,
nơi có tỷ lệ nông dân nghèo cao.
Ở nước ta, trong các cây ngũ cốc thì cây ngô có vị trí quan trọng thứ
hai sau cây lúa và là cây màu quan trọng hàng đầu trong sản xuất nông nghiệp.
Hạt ngô có hàm lượng dinh dưỡng tương đối cao: hàm lượng tinh bột trong
hạt ngô chiếm 68,2/100g, chất lượng protein (% casein) đạt 32,1%, đặc biệt là
trong hạt ngô có nhiều loại amino axit không thay thế quan trọng như leucin,
isoleucin, threonin, tyrosin…
Cây ngô thích ứng rộng với điều kiện thời tiết, đất đai nên cây ngô
được trồng ở khắp các vùng trong cả nước từ vùng núi cao đến vùng trung du
và đồng bằng. Đối với một số vùng miền núi dân tộc người H'mông, Thái,
Tày, Lào, Khơ Mú lương thực chính của người dân là hạt ngô nên cây ngô
lại càng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp.
Tuy nhiên, người dân tộc vùng núi cao này trồng ngô trên đất dốc (đất
đồi núi, đất nương rẫy) trong điều kiện canh tác nghèo nàn không bón phân,
nước tưới hoàn toàn phụ thuộc vào nước trời nên một năm chỉ trồng được một
vụ vào mùa mưa và năng suất không cao. Đây là một trong những nguyên
nhân dẫn đến một số giống ngô địa phương đã và đang bị thoái hóa và mất đi
do người dân bắt đầu có xu hướng trồng thay thế bằng các giống mới có năng
suất cao hơn.
Để công tác thu thập và bảo tồn nguồn gen quý hiếm của nước ta đặc
2
biệt là các vùng trung du miền núi không bị xói mòn nguồn gen, các công tác
chọn tạo xây dựng vật liệu khởi đầu là rất cần thiết, nó bao gồm công tác điều
tra, thu thập, bảo tồn, phân loại Để góp phần vào công tác bảo tồn và chọn

địa phương khác nhau ở miền Bắc Việt Nam. Các mẫu giống đã được mã hóa
và được đưa vào đánh giá sơ bộ trong vụ xuân 2009.
- Đã thu thập và đánh giá tập đoàn gồm 59 mẫu giống ngô trong trong
đó có 27 giống ngô tẻ, 32 giống ngô nếp đánh giá các đặc điểm thực vật học
và nông sinh học, giúp các nhà chọn giống có định hướng khi sử dụng chúng
làm vật liệu, rút ngắn được quá trình nghiên cứu tạo giống.
- Phân nhóm được 27 mẫu giống ngô tẻ, 32 mẫu giống ngô nếp dựa
trên hệ số đa hình, mức độ đa dạng các mẫu ngô nếp địa phương thu thập,
đánh giá được ở vụ xuân 2009 này là khá đa dạng về di truyền và phong phú
chủng loại có ý nghĩa thực tiễn giúp việc ghép cặp cho ưu thế lai cao.
4
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1.1 Cơ sở khoa học trong chọn giống cây trồng
Để tạo ra một giống mới cần sử dụng nguồn gen thực vật: các dạng rất khác
nhau của cây trồng và cả cây dại, thông qua các phương pháp chọn giống xác định.
Các dạng cây trồng có thể là giống địa phương, giống được tập hợp từ nhiều vùng
sinh thái khác nhau, các dạng cây dại cùng chi với cây trồng được thu thập từ
nhiều nơi trên thế giới .
Nguồn gen cây trồng càng đa dạng phong phú và càng đầy đủ thì càng tạo
điều kiện thuận lợi cho quá trình sáng tạo của nhà chọn giống. Để việc thu thập,
nghiên cứu và sử dụng nguồn gen thực vật được thuận lợi, dễ dàng và chính xác
thì công tác quĩ gen phải được xây dựng trên cơ sở lý luận khoa học vững chắc.
Theo N. I. Vavilov, tác giả học thuyết về dãy biến dị tương đồng của thực
vật thì các loại hình thực vật gần nhau như cùng họ, cùng chi, cùng loài có hàng
loạt biến dị di truyền giống nhau. Người ta có thể nghiên cứu kỹ một số dạng
chính của loài trong cùng một chi ở tất cả các loài. Mô hình toán học của định luật
về dãy biến dị tương đồng của thực vật như sau:
A1 (a + b + c ); A2 (a + b + c ); A3 (a + b + c )
Trong đó: A1, A2, A3 là các chi hoặc loài gần nhau;

trường sống tốt hơn và chỉ có thể bằng con đường đa dạng sinh học nông
nghiệp trên trang trại nông dân và bảo vệ rừng (IPGRI, 2004).
Cây ngô (Zea mays) là cây lương thực quan trọng và nguyên liệu chính
làm thức ăn gia súc, cho công nghiệp sản xuất cồn, tinh bột, bánh kẹo…Trên
thế giới và Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về cây ngô và chọn tạo giống
ngô đạt được những thành tựu to lớn, tạo ra những giống ngô ưu thế lai,
chuyển gen có năng suất cao, có ưu thế vùng canh tác thuận lợi. Tuy nhiên,
6
với những nơi có điều kiện khó khăn như đất đai không màu mỡ, thiếu nước,
đất dốc, nông dân nghèo, các nghiên cứu chọn tạo, đặc biệt giống ưu thế lai
phù hợp cho điều kiện này còn hạn chế (Banzinger et al, 2000; Ngô Hữu Tình,
1997). Tại một số vùng và địa phương có ngô là lương thực chính thì những
giống ngô ưu thế lai năng suất cao phải có chất lượng phù hợp với tập quán ăn
uống của người dân mới được nông dân chấp nhận áp dụng trong sản xuất.
Trong đó, các giống ngô địa phương đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu trên
như thích nghi với điều kiện khó khăn, đầu tư thấp.
Vì vậy cơ sở khoa học của việc thu thập và nghiên cứu các giống ngô
địa phương là cải thiện năng suất, các giống ngô địa phương thụ phấn tự do và
tạo vật liệu phát triển giống ngô ưu thế lai trên nền di truyền của giống địa
phương nhằm tạo giống ngô năng suất cao, thích nghi và chất lượng phù hợp
cho người dân vùng núi canh tác nhờ nước trời ở miền núi Việt Nam.
Thu thập, đánh giá và bảo tồn giống ngô nếp địa phương các tỉnh miền
núi Tây Bắc đã được các nhà khoa học Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
thực hiện từ năm 2000 đến T1/2009. Kết quả điều tra thu thập các giống ngô
ở một số tỉnh miền núi phía Bắc của Vũ Văn Liết và cộng sự từ 2000 –
T1/2009 đạt được 276 giống ngô trong đó có 166 mẫu giống ngô là ngô nếp.
Các giống thu về một phần bảo tồn, một phần làm thuần và hiện nay có
khoảng 2500 mẫu giống tự phối từ S
1
– S

nhiệt được tách từ một loại vi khuẩn suối nước nóng có tên là Thermus
aquaticus hoạt động tốt nhất ở nhiệt độ 70-80
o
C, người ta đã kết hợp được
những tính chất cơ bản của ADN là có khả năng duỗi xoắn ở một nhiệt độ
thích hợp, có khả năng kết cặp với những đoạn ADN có trình tự nucleotit bổ
xung với đoạn ADN khuôn mẫu và có khả năng nhân đôi dưới xúc tác của
enzym đặc hiệu để nhân bội những đoạn ADN khuôn mẫu. Sau đó phát minh
ra máy PCR để có thể dễ dàng thực hiện những phản ứng nhân bội ADN.
Phản ứng PCR dựa trên nguyên tắc tổng hợp ADN nhờ enzym ADN
Polymerase chịu nhiệt (Taq, Pfu ) với sự có mặt của đoạn ADN khuôn mẫu,
8
ADN mồi, các nucleotit (dNTP) gồm dATP, dCTP, dGTP, dTTP và ion Mg
2+
hoạt động như một xúc tác . Tùy theo bản chất của những đoạn mồi sử dụng
có những hệ thống chỉ thị đặc trưng gồm chỉ thị RAPD, SSR, AFLP
2.1.3.2 Chỉ thị RAPD
Loại chỉ thị này được sinh ra bởi phản ứng PCR, do sự nhân bội những
đoạn ADN hệ gen, sử dụng những đoạn mồi đơn lẻ, ngẫu nhiên (random
primer) dài khoảng 10 nucletit dưới nhiệt độ kết cặp thấp (khoảng 37
o
C)
(Williiams và cs., 1990). Sản phẩm của phản ứng được phân tách bằng điện di
trên gel agarose, nhuộm trong ethidium bromide và quan sát dưới đèn tím.
RAPD sinh ra những chỉ thị trội bởi sự có mặt hay vắng mặt những băng
ADN đặc trưng. Vì vậy không phân biệt được thể dị hợp tử. Đó là hạn chế của
loại chỉ thị này so với chỉ thị đồng trội RFLP. Mặc dù vậy, chỉ thị này vẫn là
một công cụ hữu hiệu trong việc lập bản đồ những mẫu giống nhị bội, những
mẫu giống cận phối hay các quần thể lai trở lại. Lợi thế của loại chỉ thị này là
không cần biết những thông tin về trình tự (William và cs., 1993). Chỉ thị

Ngô vỏ - Zea mays L. var. tunicata Larraxnaga ex A. St. Hil
2.2.2 Sự phân bố của cây ngô trên thế giới
2.2.2.1 Nguồn gốc địa lý
Ngô là cây trồng lấy hạt quan trọng trong nền nông nghiệp thế giới.
Hiện nay ngô được trồng rộng khắp các châu lục. Về nguồn gốc đã có nhiều
bằng chứng cho rằng ngô có nguồn gốc từ Trung Mỹ. Những nghiên cứu về
nguồn gốc cây trồng của Vavilov (1926) đã cho rằng Mexico và Peru là
những trung tâm phát sinh và đa dạng di truyền của ngô. Đặc biệt,
Harshberger năm 1893 (theo Wilkes, 1988) đã kết luận ngô bắt nguồn từ
Mexico. Hiện nay, nhiều nhà khoa học đã tìm thấy nhiều loại cây họ hàng
hoang dại của ngô và đã xác định được bằng khảo cổ học.
Cho đến ngày nay các nhà khoa học trên thế giới hầu như đã công nhận
và thống nhất Mexico là trung tâm phát sinh cây ngô, thậm chí người ta còn
cho rằng cái nôi đầu tiên là thung lũng Tehuacan - nằm ở bang Puebla đông
10
nam Mexico. Bằng chứng thuyết phục cho nhận định này là các di tích về ngô
được tìm thấy ở đây là cổ nhất và biểu hiện chuỗi tiến hoá rõ rệt nhất [2].
2.2.2.2. Nguồn gốc di truyền
Nguồn gốc di truyền cây ngô là một đề tài được tranh luận sôi nổi trong
suốt nửa cuối thế kỷ 20, có nhiều giả thuyết về nguồn gốc di truyền cây ngô
và được tóm lược như sau:
1. Là con lai giữa Teosinte và thành viên không rõ thuộc chi
Andropogoneae.
2. Là con lai nhị bội tự nhiên giữa các loại Á châu thuộc chi Maydeae
và Andropogoneae.
3. Là con lai giữa ngô bọc, Teosinte và Tripsacum.
4. Là con lai của ngô bọc Mỹ và Tripsacum Trung Mỹ tới Teosinte.
5. Ngô, Teosinte và Tripsacum bắt nguồn riêng rẽ từ một dạng tổ tiên chung.
6. Teosinte là nguồn gốc của ngô sau một hoặc nhiều đột biến.
Ngày nay, từ những luận cứ khoa học nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ giả thuyết

nhất là ngô, nó cũng được sử dụng thành công và đạt được mục tiêu của ngân
hàng gen. Các hoạt động liên quan đến nguồn tài nguyên di truyền có đặc
điểm chi phí cao và dài hạn, giới thiệu, trao đổi, thu thập, đặc điểm hóa, đánh
giá, tài liệu hóa và bảo tồn nguồn gen là những bước rất cần thiết. Đồng thời
thực hiện các hoạt động phù hợp khi đó yêu cầu ngân hàng gen duy trì các
biến dị di truyền và đảm bảo sử dụng nguồn gen hiệu quả. Nguồn tài nguyên
di truyền quan trọng là phạm vi rộng. Các hoạt động trong ngân hàng gen đảm
bảo chất lượng theo nhu cầu của các nhà nghiên cứu trong một số lĩnh vực.
Bên cạnh bảo tồn biến dị di truyền cho tương lai, còn sử dụng các mẫu nguồn
gen hiện có cho những mục tiêu thực sự quan trọng khác. Mặc dù vậy sử dụng
nguồn tài nguyên di truyền ở mức thấp hiện nay là một hạn chế ở Brazil và
12
các nước đang phát triển. Các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng nguồn tài
nguyên di truyền ở mức thấp là thiếu tài liệu hóa và mô tả mẫu nguồn gen
không đầy đủ, thiếu những thông tin mong muốn của nhà tạo giống, mẫu
nguồn gen thích ứng ở mức hạn chế và không đủ cho chọn tạo giống cây
trồng ở các nước đang phát triển và thiếu đánh giá nguồn gen. Số hạt nguồn
gen không đủ cho chương trình nhân hạt là cản trở cho các nhà chọn giống sử
dụng (Dowswell và cs,1996). Nhìn chung các nhà chọn giống hình như thỏa
mãn với nguồn biến dị di truyền hiện có trong các vật liệu nông học tiến bộ
(Duvick, 1984; Paterniani, 1987; Peeters & Galwey, 1988; Nass và cs, 1993).
Ghi nhận của Troyer (1990) các mẫu giống thuần ưu tú được coi là tài nguyên
di truyền tốt nhất, bởi vì mỗi mẫu giống chứa tổ hợp các tính trạng di truyền
thỏa mãn thương trường. Mặc dù đa dạng ở ngô rất lớn, các nhà tạo giống tập
trung vào một số biến chủng (Brown, 1975). Sáu mẫu giống thuần và những
mẫu giống có liên quan đại diện cho 70% các giống ngô ưu thế lai ở Mỹ
những mẫu giống này là C103, Mo17, Oh43 và các mẫu giống dạng Lancaster
(vùng Tây Bắc nước Anh) và A632, B37 và B73 (kiểu mẫu giống vùng Reid).
Sự tìm kiếm kiểu gen ưu tú về khả năng cho năng suất, kháng sâu bệnh,
chống chịu bất thuận, chất lượng dinh dưỡng tốt, cứng, cạnh tranh và giá cao.

khoảng cách di truyền của chúng.
- Tương quan giữa khoảng cách di truyền và ưu thế lai.
Nghiên cứu đa dạng di truyền ở mức độ phân tử cho thấy: 17 mẫu
giống ngô trắng nhiệt đới thuần có mặt trong lai diallel các mẫu giống và con
lai đã được đánh giá ở 12 môi trường bất thuận và không bất thuận. Biểu hiện
ưu thế lai ở môi trường hạn lớn hơn và nhỏ hơn ở điều kiện đạm thấp. Bộ
marker ADN nhận biết 81 locus sử dụng làm chỉ thị 17 mẫu giống ngô. Mức
độ đa dạng di truyền cao với 4,65 allel/locus và giá trị thông tin đa hình ở
phạm vi 0,11 đến 0,82. Vùng genome với các locus tính trạng số lượng (QTL)
cho chịu hạn biểu hiện mức độ đa dạng di truyền thấp hơn. Khoảng cách di
truyền trên cơ sở số liệu marker RFLP sắp xếp các mẫu giống thuần phù hợp
với thế hệ phả hệ của chúng. Tương quan được tìm thấy giữa khoảng các di
truyền và khả năng kết hợp riêng, ưu thế lai trung bình (MPH) và ưu thế lai
thực (HPH) khả năng phối hợp riêng tương quan chặt với khoảng cách di
truyền và tương quan chặt hơn khi điều kiện bất thuận.
14
Nghiên cứu khả năng kết hợp về ngô theo Max A. Glover, David B.
Willmot, Larry L. Darrah,* Bruce E. Hibbard, and Xiaoyang Zhu, 2005,[26]
Phân tích Diallel các tính trạng nông học sử dụng nguồn gen ngô của Mỹ và
Trung Quốc cho kết quả đa dạng di truyền hiệu ứng cộng giữa các ngô
thương mại (Zea mays L.) có thể cho ưu thế lai năng suất cao hơn và giảm
bớt sự tổn thương di truyền. Nhập nguồn gen nước ngoài vào chương trình
tạo giống sẽ tăng nền tảng di truyền từ các mẫu giống thuần thương mại ưu tú,
10 quần thể ngô do Trung Quốc chọn tạo và các mẫu giống thuần của Mỹ đã
được đánh giá bằng phân tích diallel của Griffing về KNKH của năng suất
hạt, chống đổ, chiều cao bắp, thời gian ra hoa và chống sâu đục thân ngô
Châu Âu (ECB; Ostrinia nubilalis Hu¨bner) để ước lượng ưu thế lai của
chúng khi các nguồn gen nhập nội từ Mỹ vào chương trình tạo giống.
KNKH chung năng suất hạt lớn nhất là quần thể Mo17 Syn.(H14) C5, một
quần thể cải tiến bằng chọn lọc chu kỳ half-sib sử dụng US13 làm tester.

mẫu
Tên ngân hàng
quỹ gen
Số lượng mẫu
CIMMYT(Mêhicô)
12.500
ICTA (Guatemala)
800
INIAP(Mêhicô)
9.000
UR (Uruguay)
400
ICA(Columbia)
6.000
VIR (Nga)
15.000
NSSL(Mỹ)
5.000
NIAR (Nhật Bản)
2.650
NCPRIS(Mỹ)
4.225
PGRC (Canada)
1.700
PCIM(Peru)
3.444
IARI (Ấn Độ)
1.750
INTA(Acgentina)
3.000

nhận từ CIMMYT, Thái Lan, Cuba, Nhật Bản…Nguồn vật liệu địa phương là
150, còn lại là các quần thể tự tạo theo chương trình chọn giống.
2.3.3 Nghiên cứu chọn tạo các giống ngô
Do nhu cầu giống ngô nếp cần nhiều, hiện nay tại các viện nghiên cứu,
trường đại học nhiều nhà nghiên cứu đã tập trung vào việc tạo mẫu giống, lai
tạo thử nghiệm các giống ngô nếp lai.
- Nhóm nghiên cứu truờng đại học Nông nghiệp trong giai đoạn 2003-
2005, được sự hỗ trợ của đề tài chọn tạo các giống ngô đường, ngô nếp phục
vụ sản xuất (Đề tài cấp bộ, mã số B- 2004 - 32 - 89). Nhóm nghiên cứu đã lai
thử khả năng kết hợp của 50 tổ hợp lai, từ kết quả lai tạo đã chọn được các tổ
hợp ngô nếp lai ưu tú : N8 x N11, N4 x N8, N11 x N14 và N2 x N12. Các tổ
hợp lai có các đặc điểm tốt nhất: Thời gian sinh trưởng ngắn, trồng thử lấy
bắp luộc khoảng 75 - 80 ngày, thu lấy hạt từ 95 - 105 ngày. Các tổ hợp ngô
nếp lai có màu hạt trắng, dẻo, ăn ngon, năng suất hạt đạt 40 - 45 tạ/ha cao hơn
giống ngô nếp tổng hợp VN2 một cách chắc chắn.
17
- Tại viện Nghiên cứu ngô các nhà chọn tạo giống đã chọn đuợc một
số tổ hợp ngô nếp lai ưu tú làm nguyên liệu chọn tạo giống ngô nếp lai
trong thời gian tới.
2.3.4 Sử dụng nguồn gen cây ngô
Nguồn gen cây ngô địa phương Việt Nam được sử dụng ít trong công
tác chọn tạo giống, ngoài một số giống tốt, đặc biệt là một số giống ngô nếp,
ở một số địa phương vẫn được nông dân gieo trồng. Một số giống thụ phấn tự
do sử dụng một vài vật liệu địa phương, đặc biệt lợi dụng tính ngắn ngày. Một
số nhà chọn tạo giống có sử dụng vật liệu địa phương trong việc phát triển các
vốn gen (gene pools) để làm vật liệu rút mẫu giống.
Công tác tạo mẫu giống thuần từ các giống ngô địa phương trong
chương trình ngô lai còn rất hạn chế do phần lớn các giống địa phương có
năng suất thấp, suy giảm do tự phối rất mạnh, khả năng kết hợp thấp.
Mặt khác nhu cầu sử dụng về ngô nếp ngoài sản xuất còn rất lớn. Theo

- Áp lực tăng dân số, và nghèo đói;
- Tàn phá hệ sinh thái bao gồm nạn phá rừng và khai thác rừng không
hợp lý dẫn đến thoái hoá đất, mất hệ thống canh tác truyền thống dẫn đến mất
dần cây trồng bản địa;
- Sử dụng giống mới năng suất cao làm thay đổi cơ cấu giống cây trồng,
du nhập các loài ngoại lai.
- Thiên tai, sâu bệnh và các điều kiện ngoại cảnh bất lợi;
- Môi trường thay đổi dưới áp lực của công nghiệp hoá, đô thị hoá, tăng
mạnh sử dụng phân hoá học và thuốc trừ sâu;
- Kinh tế thị trường;
- Nhận thức về bảo tồn của các bên liên quan yếu, quản lý lỏng lẻo,
không chặt chẽ
19
Tất cả những vấn đề nêu trên cho thấy biện pháp tổ chức và quản lý
hợp lý nhiệm vụ bảo tồn để phục vụ cho khai thác, sử dụng có hiệu quả tài
nguyên cây nông nghiệp là nhiệm vụ khoa học cấp bách của nước ta hiện nay.
Theo TS. K Riley và TS. V.R.Rao, giám đốc khu vực và là nghiên cứu
viên của Viện tài nguyên di truyền thực vật quốc tế, 1996 cho rằng: để nâng
cao năng suất nông nghiệp là nhiệm vụ quan trọng của nhiều quốc gia, các
chương trình chọn tạo giống quốc gia thường thắng lợi trong cải tiến sản xuất
thông qua việc lựa chọn và đưa ra nhiều giống nhập nội năng suất cao (HYV)
và thích nghi rộng với các vùng thâm canh trong nước. Tuy nhiên, ngân hàng
gen hoặc chương trình quỹ gen quốc gia trong mỗi nước vẫn chưa quan tâm,
đẩy mạnh công tác thu thập và bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật trong
nước [17].
Theo GS.PTS. Nguyễn Đăng Khôi, Viện khoa học kỹ thuật nông
nghiệp Việt Nam, 1996 các tiến bộ trong nền nông nghiệp hiện đại thâm canh
tăng năng suất. Sự đa dạng di truyền trong các loài, được thể hiện ở vô số các
giống cây trồng từ bao đời nay, đã và đang bị mai một một cách hết sức quan
trọng. Hàng loạt các giống cổ truyền thích nghi với điều kiện khí hậu và đất

Sản lượng
(1000ha)
1961
104.8
2,0
204,2
2004/2005
145,0
4,9
714,8
2005/2006
145,6
4,8
696,3
2006/2007
148,6
4,7
704,2
2007/2008
157,0
4,9
766,2
(Nguồn: FAOSTAT, USDA)
Theo dự báo của Viện Nghiên cứu Chương trình Lương thực thế giới
vào năm 2020 tổng nhu cầu ngô thế giới là 852 triệu tấn trong đó 15% dùng
làm lương thực, 69% dùng làm thức ăn chăn nuôi, 16% dùng làm nguyên liệu
cho công nghiệp. Ở các nước phát triển dùng 5% làm lương thực, các nước
đang phát triển 22% làm lương thực (IFPRI, 2003).
- Sản lượng ngô của Braxin năm 2008/09 dự báo đạt 49,50 triệu tấn,
21

trong một thời gian ngắn các nhà nghiên cứu ngô Việt Nam đã tạo ra hàng loạt các
giống tốt cho năng suất cao từ 7-10 tấn/ha như: LVN10. LVN4, LVN17, LVN25,
LVN99…Các giống này không thua kém các giống của công ty giống nước ngoài
về cả năng suất và chất lượng.
Bảng 2.3. Tình hình sản xuất ngô Việt Nam giai đoạn 1961 – 2008
Năm
1961
1975
1990
1994
2000
2005
2007
2008
Diện tích
(1000 ha)
229,20
267,0
432,0
534,6
730,2
1052,6
1072,8
1139,8
Sản lượng
(1000 tấn)
260,10
280,60
671,0
1143,9

năng suất và sản lượng. Năm 1980, bằng 34% so với trung bình thế giới
(11/32 tạ/ha); năm 1990 bằng 42% (15,5/37 tạ/ha); năm 2000 bằng 60%
(25/42 tạ/ha); năm 2005 bằng 73% (36/49 tạ/ha) và năm 2007 đã đạt
81,0% (39,6/49 tạ/ha). Năm 2008 diện tích ngô cả nước là 1139,8 nghìn ha
tăng 4,5 lần so với năm 1961, sản lượng ngô đạt 4530,9 nghìn tấn và năng
suất đạt trung bình 39,8 tạ/ha tăng 3,5 lần so với năm 1961. Hiện nay thị phần
giống ngô lai của Việt Nam chiếm khoảng 60%, chủ yếu là giống ngô lai đơn, áp
dụng vào sản xuất ở tất cả các vùng sinh thái trong cả nước. Các giống dài ngày
như: LVN10, HQ2000, LVN98,…Các giống trung ngày: LVN4, LVN12, LVN17,
VN8960,…Các giống ngắn ngày: LVN9, LVN20, LVN24, LVN25, LVN99, VN98-
1, LVN145, LVN885, LVN23 (ngô rau)…(Nguyễn ThịNhài, 2005)[3].
24
3. ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.1.1 Vật liệu nghiên cứu
Nguồn vật liệu nghiên cứu trong các thí nghiệm là 59 mẫu giống ngô,
trong đó có 27 mẫu giống ngô tẻ và 32 mẫu giống ngô nếp có nguồn gốc địa
phương từ các tỉnh miền núi phía Bắc.
Vật liệu được sử dụng trong thí nghiệm là nguồn gen được thu thập từ
một số tỉnh miền núi phía Bắc: Bắc Kạn, Hà Giang, Điện Biên, Cao Bằng,
Tuyên Quang và Hòa Bình.
Các mẫu giống thu thập được là các bắp ngô được bảo quản và đánh số
thứ tự theo ký hiệu giống và được bảo quản tại Trường Đại học Nông nghiệp
Hà Nội.
Các mẫu giống tham gia thí nghiệm đánh giá sự đa dạng di truyền của
một số mẫu giống ngô điển hình bằng phân tích ADN qua nhân bản ngẫu
nhiên PCR - RAPD bao gồm 20 mẫu giống ngô tẻ và 32 mẫu giống ngô nếp
được chọn từ tập đoàn nghiên cứu.
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu

được bồi hàng năm , diện tích ô thí nghiệm 10m
2
- Thu thập theo địa danh, dân tộc và địa hình
Các loại dữ liệu trong quá trình thu thập mẫu nguồn gen của cây trồng
địa phương theo Moss và Guarino, 1995
3.3.2 Phương pháp đánh giá mức độ đa dạng di truyền của tập đoàn
- Phân tích mức độ đa dạng di truyền dựa trên khoảng cách ơ clit giữa
hai cá thể i và j, có giá trị quan sát trên các đặc điểm hình thái (p) biểu thị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status