Câu 1 : Làm rõ những sáng tạo của HCM trong tư tưởng về Cách mạng giải
phóng dân tộc
Bài Làm
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một tài sản tinh thần qúi báu của Đảng và dân tộc. Tư
tưởng đó là sự kế thừa có chọn lọc những tinh hoa văn hóa của dân tộc và nhân loại,
là sự tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của
nước ta. Trong toàn bộ nội dung tư tưởng của Người thì cách mạng giải phóng dân
tộc là một trong những vấn đề cớ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh. Ở điều này đã thể
hiện sự sáng tạo của Hồ Chí Minh mà dưới đây chúng ta sẽ cùng tìm hiểu.
Sinh ra và lớn lên ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến, Người đã mắt thấy tai
nghe những nỗi khổ cực nhọc nhằn của một dân tộc mất nước, cảm nhận được sự tàn
ác dã man của bọn thực dân đế quốc : “Lịch sử việc người Âu xâm chiếm Châu Phi
cũng như bất cứ lịch sử xâm chiếm thuộc điạ nào thì từ đầu đến cuối đều được viết
bằng máu những người bản xứ “. Yêu nước thương dân, sau bao năm : “Lênh đênh
bốn bể một con tàu” Người đã tìm ra con đường cưu nước cứu dân : “ Muốn cưú
nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô
sản”. Chỉ có con đường này mới giải quyết được hai mâu thuẫn cơ bản của xã hội
Việt Nam lúc bấy giờ là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với Đế Quốc Tay Sai và
mâu thuẫn nhân dân với điạ chủ phong kiến mới giải quyết được hài hòa vấn đề giai
cấp và vấn đề dân tộc. Theo Người: “ Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải
phóng được dân tộc. Cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của CNCS và
cách mạng thế giới. Trong quan niệm của HCM cơ sở hàng đầu để đánh giá tính triệt
để của một cuộc cách mạng là qui mô giải phóng quần chúng lao động bị áp bức, vì
thế Người đã chọn con đường cách mạnh vô sản, theo gương cách mạng tháng 10
Nga là một cuộc cách mạng nằm trong dòng chảy liên tục của quá trình giải phóng
con người.
1
Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện nước ta, Người đã xác
định cách mạng Việt Nam phải trãi qua hai giai đoạn mà đã được thể hiện trong chính
cương vắn tắt VT là : “Chủ trương làm TS dân quyền cách mạng và thổ địa CN để đi
tới XHCS”. Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã
người dân thuộc địa. Người đã thấy được tinh thần cách mạng đang ầm ỉ và ngày
càng mãnh liệt của nhân dân Đông Dương. Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người
Đông Dương giấu một cái gì đang sục sôi, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê
gớm khi thời cơ đến. Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đat rồi. Chủ nghĩa
xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi.
Hồ Chí Minh đã vì chủ nghĩa đế quốc như con đĩa hai vòi, một vòi hút máu nhân dân
lao động chính quốc, một vòi hút máu nhân dân thuộc địa. Khi cách mạng bùng nồ
thì hàng trăm triệu nhân dân thuộc địa sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ thủ tiêu
một trong những ĐK tồn tại của chủ nghĩa tư bản, cắt bớt một vòi của chủ nghĩa đế
quốc và như thế họ có thể giúp đỡ người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ
giải phóng hoàn toàn, cắt đứt cái vòi còn lại của chủ nghĩa đế quốc ở chính quốc.
Theo Hồ Chí Minh : “An Nam dân tộc cách mạng thành công thì tư bản PHáp yếu, tư
bản Pháp yếu thì công nông Pháp làm giai cấp cách mạng cũng dễ dàng”. Như vậy,
Hồ Chí Minh chẳng những hiểu rõ về sức mạnh to lớn của phong trào giải phóng dân
tộc mà còn thấy được tính chủ động, tích cực của cách mạng giải phòng dân tộc.
Theo Người, cách mạng thuộc địa và cách mạng chính quốc quan hệ mật thiếc với
nhau như hai cánh của một con chim trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ
nghĩa đế quốc.Trong cuộc đấu tranh đó, khi có chủ nghĩa Mác – Lênin soi đường và
được Đảng Cộng Sản lãnh đạo thì nhân dân các dân tộc thuộc địa có thể chủ động tự
đứng lên : “đem sức ta mà tự giải phòng cho ta”. Mặc dù, ở các nước thuộc địa CN,
thương nghiệp chưa phát triển, giai cấp công nhân còn nhỏ bé, trình dộ thấp kém. Hồ
3
Chí Minh sớm ý thức được về sức mạnh tự giải phóng của nhân dân các dân tộc bị áp
bức. Theo Người cách mạng giải phóng dân tộc là sự nghiệp của bản thân các dân tộc
bị áp bức. “Hỡi anh em ở các nước thuộc điạ ! Anh em phải làm thế
nào để được giải phóng ? vận dụng công thức của Các Mác, chúng tôi xin nói
với anh em rằng : công cuộc giải phóng, anh em chỉ có thể thực hiện được bằng nổ
lực của bản thân anh em …”. Luận điểm dân tộc tự đứng lên giải phóng được Hồ Chí
Minh quán triệt trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Nói như vậy,
không có nghĩa là không cần sự giúp đỡ của bè bạn năm châu, ngược lại sự giúp đỡ
Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta và đã trở thành một tài sản tinh thấn quí báu
của Đảng và của dân tộc. Trong toàn bộ tư tưởng của Người thì tư tưởng Hồ Chí
Minh về Đảng CS là một bộ phận quan trọng, là sự kế thừa, bổ sung và phát triển,
sáng tạo tư tưởng của Mác – Ănghen và nhứt là những nguyên tắc về Đảng kiểu mới
của Lênin trong điều kiện Việt Nam. Hồ Chí Minh đã khẳng định cách mạng : “trước
hết phải có Đảng cách mạng, để trong thời vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì
liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp ở mọi nơi. Đảng có vững, cách mạng
mới thành công, cũng như người cầm lái có vững, thuyền mới chạy”. Đảng CSVN ra
đời là kết quả của sự kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và
phong trào yêu nước. Đảng đã đảm nhận sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đáp
5
ứng được yêu cầu KQ của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ đang khủng hoảng đường lối
cứu nước. Cách mạng tháng 8 thành công mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc, đưa
Đảng ta lên đảng cầm quyền, đưa nhân dân lao động lên địa vị làm chủ xã hội. Trên
cương vị mới Đảng tiếp tục lãnh đạo cách mạng Việt Nam hoàn thành cuộc cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước tiến lên CNXH. Sau đây, chúng ta
cùng tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng cầm quyền trong sạch vững
mạnh.
Đảng ta là Đảng của giai cấp côngnhân và ndân lđộng : “Là Đảng cm, là Đảng
lãnh đạo. Ngoài lợi ích của nhân dân và của giai cấp công nhân, Đảng ta không có lợi
ích nào khác”. Là một Đảng cầm quyền, Đảng có chức năng lãnh đạo chính quyền
nhà nước và lãnh đạo các tổ chức chính trị, xã hội. Sự lãnh đạo đó được thể hiện bằng
đường lối chủ trương, bằng quy hoạch bố trí đội ngũ cán bộ và bằng việc kiểm tra
đôn đốc giám sát, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố đảm bảo cho mọi thắng lợi của
cách mạng Việt Nam theo ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH.
Muốn thực hiện được vai trò chức năng của một Đảng cầm quyền, hoàn thành
được sứ mệnh mà giai cấp và dân tộc đã ủy thác, Đảng ta phải được trang bị lý luận
tiên tiến, cách mạng và khoa học. Hồ Chí Minh cho rằng : “Đảng muốn vững mạnh
phải lấy công nhân làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo CN ấy.
Đảng mà không có CN cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ
cấp trên, tất cả Đảng viên phải chấp hành vô điều kiện nghị quyết của Đảng. Người
nhấn mạnh : “Đảng tuy đông người nhưng ít khi tiến hành chỉ như một người”. Bên
cạnh đó, Người cũng nhấn mạnh dân chủ (trong Đảng) “Dân chủ là của quí báu nhứt
của nhân dân”, phải chú ý thực hành rộng rãi dân chủ trong Đảng “Phải thực sự mở
rộng dân chủ để tất cả các Đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình, phải gom góp ý kiến
7
của Đảng viên để giúp đỡ trung ương chuẩn bị đại hội Đảng cho thật tốt”. Ở Hồ Chí
Minh về nguyên tắc này trong dân chủ và sinh hoạt Đảng là sự thống nhất biện chứng
giữa dân chủ và tập trung, tập trung trên nền tảng dân chủ và dân chủ dướisự chỉ đạo
tập trung. Nguyên tắc này là tiêu chí quan trọng để xem xét một Đảng còn là Đảng
mác – xít chân chính nữa hay không ?
Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách là nguyên tắc lãnh đạo của Đảng ta. Hồ Chí
Minh cho rằng : “tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn luôn đi đôi với
nhau. Nếu lãnh đạo không tập thể thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan.
Kết quả là hỏng việc”. Còn nếu không có cá nhân phụ trách thì sẽ sinh ra cái tệ người
này uỷ cho người kia, người kia uỷ cho người nọ, kết quả là không ai thi hành như
tục ngữ có câu : “Nhiều sải không ai đóng cửa chùa”.
Phê bình và tự phê bình được coi là “quy luật” phát triển của Đảng “Tự phê bình
và phê bình là thứ vũ khí sắc bén nhứt, nó giúp cho Đảng ta mạnh và ngày càng thêm
mạnh. Nhờ đó mà chúng ta sửa chữa khuyết điểm, ưu điểm, tiến bộ không ngừng”.
Hồ Chí Minh cho rằng con người ai cũng có khuyết điểm chỉ khác nhau ở mức
độ và trạng thái biểu hiện mà thôi. “Người đời không phải thánh thần, không ai tránh
khỏi khuyết điểm”.
Theo HCM “Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ.
Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn, cốt đoàn kết và thống nhất nội
bộ”. Mỗi cán bộ Đảng viên phải kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa hàng ngày
giống như mỗi ngày phải rửa mặt, và vấn đề này Hồ Chí Minh rất gương mẫu thực
hiện.
Xdựng Đảng trong sạch vững mạnh, còn phải thường xuyên chỉnh đốn Đảng,
xdựng đội ngũ cán bộ Đảng viên của Đảng. Chỉnh đốn Đảng để lúc khó khăn không
Do vậy cán bộ Đảng viên phải lắng nghe ý kiến của nhân dân, phải : “Học dân
chúng”, phải “nâng cao dân chúng, nâng tầm trí tuệ và sức mạnh của nhân dân. Cả
cuộc đời của Hồ chí Minh là một tấm gương về gần dân, hiểu dân, và vì dân. Người
đã lo vun đắp cho cái “gốc” nhân dân bền vững để cây đời cách mạng trổ hoa kết trái
thắng lợi.
Gốc có vững cây mới bền
Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân
Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng CSVN nói chung và về xây dựng
Đảng cầm quyền trong sạch vững mạnh la rất phong phú,là bước phát triển học
thuyết Mác – Lênin về Đảng CS vào Việt Nam. Những quan điểm của Hồ Chí Minh
vẫn còn nguyên giá trị trong điều kiện hiện nay và mãi mãi là nền tảng tư tưởng, là
kim chỉ nam cho hành động của chúng ta. Việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào
công cuộc đổi mới và chỉnh đốn Đảng hiện nay có ý nghĩa then chốt. Đại hội VII của
Đảng đã xác định : “Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phải
thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn”. Đảng ta phải thực hiện tốt những nguyên tắc
tổ chức xây dựng Đảng, phải xây dựng các tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững
mạnh, đội ngũ cán bộ Đảng viên phải đảm bảo nâng cao chất lượng, số lượng trong
sạch về đạođức, lối sống. Giương cao ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh trong công
cuộc đổi mới hiện nay, chúng ta phải kiên trì mục tiêu chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa
cộng sản, nâng cao vaitrò lãnh đạo của Đảng, bảo vệ và phát triển học thuyết và tư
tưởng Hồ Chí Minh, đấu tranh chống diễn biến hoà bình, chống đa nguyên đa đảng
đối lập, phủ nhận quyền lãnh đạo tuyệt đối của Đảng CSVN.
Câu 3: Phân tích những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập
dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
BÀI LÀM:
10
Như chúng ta nhận thức được rằng tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân
tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đó là tư tưởng trung tâm, xuyên suốt trong toàn
bộ hệ thống tư tưởng của Người đã được thể hiện rất rõ ràng ngay từ khi thành
lập Đảng. Và về sau này, đúc kết qua quá trình hoạt động, khảo sát thực tiễn đất
ra sự lựa chọn mới đối với những người cách mạng Việt Nam: Độc lập dân tộc cho một
số ít người, hay cho đại đa số người? Độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa tư bản, hay
độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội?.
Tháng 7/1920, Hồ Chí Minh đọc bản sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về
vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin. Luận cương đã giải đáp trúng những vấn đề mà
Hồ Chí Minh đang trăn trở tìm hiểu, giúp Người thấy rõ con đường thắng lợi của cách
mạng giải phóng dân tộc. Luận cương của Lênin đã có ảnh hưởng quyết định đến lập
trường cứu nước của Hồ Chí Minh: Người đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, tán thành
Quốc tế thứ ba, đặt cách mạng giải phóng dân tộc trong quỹ đạo cách mạng vô sản, trở
thành một trong những nhà sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và là người cộng sản đầu tiên
của VN.
Năm 1921, trong tuyên ngôn của Hội liên hiệp thuộc địa, Hồ Chí Minh đã
viết: "Hỡi anh em ở các thuộc địa!… Anh em phải làm thế nào để được giải
phóng? Vận dụng công thức của Các Mác, chúng tôi xin nói với anh em rằng,
công cuộc giải phóng anh em thì có thể thực hiện được bằng nỗ lực của bản thân
anh em". Cách mạng giải phóng dân tộc là sự nghiệp của bản thân của các dân
tộc bị áp bức. Luận điểm các dân tộc đứng lên tự giải phóng, được Hồ Chí Minh
quán triệt trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh luôn
coi việc vận động nhân dân, xây dựng lực lượng cách mạng trong nước là yếu tố
12
Trang 2
quyết định thắng lợi của cách mạng. Mặt khác Người vẫn hết sức tranh thủ sự
đồng tình, giúp đỡ của các lực lượng cách mạng, lực lượng tiến bộ trên thế giới.
Lênin cho rằng cách mạng thuộc địa phụ thuộc vào cách mạng chính quốc, là "hậu
bị quân" của cách mạng chính quốc và chỉ có thể nổ ra và thắng lợi khi cách mạng vô
sản ở chính quốc thành công. Theo Hồ Chí Minh, cách mạng thuộc địa và cách mạng
chính quốc có quan hệ mật thiết với nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là
chủ nghĩa đế quốc. Trong cuộc cách mạng đó, nhân dân các dân tộc thuộc địa có thể chủ
động đứng lên giải phóng khi được ánh sáng chủ nghĩa Mác-Lênin soi đường, được
Đảng Cộng sản lãnh đạo, mặc dù ở nước họ công nghiệp, thương nghiệp chưa phát triển,
nghĩa tư bản cũng sẽ xác lập các tiền đề khách quan để tự phủ định chính nó. Theo Hồ
Chí Minh, logíc phát triển xã hội cho thấy đã đến lúc chủ nghĩa tư bản phải nhường chỗ
cho sự ra đời một chế độ xã hội mới - chế độ xã hội chủ nghĩa. Tiến lên chủ nghĩa xã hội
là quy luật vận động khách quan của lịch sử trên phạm vi toàn thế giới. Kết luận mà của
Hồ Chí Minh hoàn toàn tuân thủ các nguyên lý phổ biến của học thuyết Mác-Lênin về
hình thái kinh tế - xã hội.
Trong quan niệm của HCM cơ sở hàng đầu để đánh giá tính triệt để của một cuộc
cách mạng không phải là những lý tưởng, những khẩu hiệu được nêu ra, mà là quy mô
giải phóng quần chúng lao động bị áp bức. Cách mạng dân chủ tư sản, do bản chất của
nó chỉ là sự thay thế một hình thức áp bức, bóc lột này bằng một hình thức áp bức, bóc
lột khác, đại bộ phận người lao động vẫn sống cực khổ. Do những nhu cầu nội tại khách
quan, cách mạng VN không và sẽ không thể lặp lại những vết xe lăn của cm Mỹ 1776 và
cách mạng Pháp 1789.
14
Trong bài báo Đông Dương đăng trong Tạp chí Cộng sản (Pháp) số 14 năm 1921,
sau khi đã chỉ ra những hình thức bóc lột, đàn áp, dã man, tàn bạo của bọn thực dân đối
với người bản xứ, khẳng định tinh thần cách mạng âm ỉ, mãnh liệt, quật cường của nhân
dân các nước Đông Dương, Hồ Chí Minh đã đi đến kết luận: "Sự tàn bạo của chủ nghĩa
tư bản đã chuẩn bị đất rồi: chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc làm gieo hạt giống
của công cuộc giải phóng nữa thôi". Đây là một luận điểm hết sức quan trọng, nó gợi mở
cho chúng ta nhiều vấn đề để khẳng định tính hợp lý, hợp quy luật của con đường xã hội
chủ nghĩa ở VN. Trong luận điểm trên, Hồ Chí Minh không phải trên cơ sở phân tích sự
chín muồi của cơ sở kinh tế làm xuất hiện chủ nghĩa xã hội như là một phương thức cần
thiết để giải quyết những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản, mà Người chú ý đến một
phương diện khác không kém phần quan trọng: chủ nghĩa xã hội ra đời chính từ sự tàn
bạo của chủ nghĩa tư bản. Tại các nước thuộc địa, những hình thức bóc lột, nô dịch của
bọn thực dân, làm bộc lộ những khuyết tật phi nhân tính bẩm sinh không thể khắc phục
được của chủ nghĩa tư bản. Đó là cơ sở để người lao động ý thức, giác ngộ sứ mệnh lịch
sử của mình trước vận mệnh quốc gia dân tộc, chờ thời cơ để vùng dậy,thủ tiêu xiềng
xích thực dân, thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc và giải phóng chính họ thoát khỏi
xã hội trong điều kiện vừa có hòa bình, vừa có chiến tranh; đồng thời thực hiện hai
nhiệm vụ chiến lược: tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và tiếp tục hoàn
thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam. Hai cuộc cách mạng này quan hệ chặt
chẽ với nhau. Theo đánh giá của nhiều nhà lý luận nước ngoài, cách làm vừa kháng
chiến vừa kiến quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh còn có chiến tranh là
một sáng tạo độc đáo của Hồ Chí Minh, phản ánh đúng thực chất và quy luật phát triển
của cách mạng Việt Nam: độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.
16
Về phương diện quốc tế, theo Hồ Chí Minh, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
nước ta diễn ra trong bối cảnh quốc tế thuận lợi. Chủ nghĩa xã hội đã thành công ở một
loạt nước, chúng ta nhận được sự hỗ trợ, hợp tác mạnh mẽ từ bên ngoài, theo tinh thần
quốc tế chân chính, nhưng mặt khác lại luôn luôn bị chủ nghĩa đế quốc tìm cách phá
hoại công cuộc hòa bình xây dựng chủ nghĩa xã hội> Điều đó buộc chúng ta phải có ý
thức độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, tranh thủ các điều kiện quốc tế thuận lợi, hạn chế
những khó khăn để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Những đặc điểm này quy định bản chất và tính chất của thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước ta.
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một sự nghiệp cách mạng mang
tính toàn diện theo nguyên tắc: xây dựng chủ nghĩa xã hội gắn liền với bảo vệ chủ nghĩa
xã hội. Hồ Chí Minh đã xác định rõ nhiệm vụ cụ thể cho từng lĩnh vực.
Trong lĩnh vực chính trị, nội dung quan trọng nhất là phải giữ vững và phát huy vai
trò lãnh đạo của Đảng. Đảng phải được chỉnh đốn, nâng cao sức chiến đấu, có hình thức
tổ chức phù hợp để đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ mới. Mặt khác phải củng cố, tăng
cường vai trò của Nhà nước. Theo Hồ Chí Minh, tất cả các cơ quan Nhà nước phải là
những thể chế dân chủ, dựa vào dân, liên hệ chặt chẽ với dân, lắng nghe ý kiến và chịu
sự kiểm soát của nhân dân. Phải xây dựng bộ máy Nhà nước vững mạnh, trong sạch,
thực sự là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; đủ năng lực, đủ uy tín để
lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Một nội dung chính
trị quan trọng trong thời kỳ quá độ là củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất;
xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, trên cơ sở liên minh công nhân, nông dân và trí
18
định vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội. Từ đó, người khẳng định, văn hóa là một
trong những mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng con người mới, xã hội mới.
Về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, Đại hội lần thứ IX của
Đảng đã khẳng định: "Khẳng định lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm
nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động là bước phát triển quan trọng trong nhận
thức và tư duy lý luận của Đảng ta.
Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua
chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất
và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà
nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học công nghệ, để
phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại.
Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo ra sự biến đổi về
chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải
trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh
tế, xã hội có tính chất quá độ. Trong các lĩnh vực của đời sống xã hội diễn ra sự đan xen
và đấu tranh giữa cái mới và cái cũ…".
"Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên
minh giữa công nhân, nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích
cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh
tế, của toàn xã hội.
Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát
triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản
lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đó chính là nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN.
Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực
lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã
19
Trang 5
hội, nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây
Tư tưởng đại đoàn kết HCM xuất phát từ truyền thống đòan kết nhân ái của dân
tộc, từ tinh hoa VH nhân loại đặc biệt HCM đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo những
nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về đòan kết, về tập hợp lực lượng…
Tư tưởng đại đoàn kết HCM cũng xuất phát từ tình hình XH VN cuối TK 19 đầu
TK 20 cũng như là thực tiễn tình hình thế giới. Đồng thời xuất phát từ chính tấm
21
lòng khoan dung độ lượng, nhân ái, bao la của Người, từ cái nhìn lạc quan về bản
chất tốt đẹp của Người và sức cảm hoá của CM.
Người viết:”cách mệnh là việc chung của cả dân chúng cjhứ không phải việc
một hai người “ Người yêu cầu Đảng “phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân
chúng”. Vì vậy trên cơ sở khối liên minh công nông vững chắc, “Đảng phải hết sức
liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, công nông…để kéo họ đi về phe vô sản giai cấp. Còn
đối với bọn phú nông , trung-tiểu địa chủ và TB VN chưa rõ mặt phản CM thì phải
lợi dụng, ít nữa thì làm cho trung lập”
Tư tưởng đại đoàn kết của HCM là tư tưởng mang tính CM, nhân bản, vị tha để
tập hợp mọi lực lượng cần tập họp cho CM nước ta. Người đã nói :”Tôi khuyên đồng
bào đoàn kết chặc chẽ và rộng rãi, năm ngón tai cũng có ngón vắn ngón dài, nhưng
vắn dài đều hợp nhau lại bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế
khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan
hồng đại hộ. Ta phải nhận rằng đã là con lạc cháu hồng thì ai cũng có ít hay nhiều
lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình nhân ái mà
cảm hoá họ. Có như thế mới thành đại đoàn kết dân tộc, có đại đoàn kết thì tương lai
chắc chắn sẽ vẽ vang.
HCM coi nhiêm vụ đánh đuổi giặc ngoại xâm, đánh đổ phong kiến giành độc
lập, tự do cho dân tộc, giải phóng giai cấp, xây dựng đất nước giàu đẹp là nhiệm vụ
của toàn dân. Người viết:” hởi đồng bào yêu quý! Việc cứu quốc là việc chung. Ai là
người VN đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm:người có tiến góp tiền,
người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài năng góp tài năng. Riêng
phần Tôi, sinh đam hết tâm lực đi cúng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập
dù phải hy sinh tính mệnh thì cũng không hề.”
Đảng về đường lối chủ trương, chính sách, về tổ chức thực hiện. Người viết:” Đảng
tà là một Đảng lãnh đạo. Tất cả các cán bộ Đảng viên dù ở cương vị khác nhau đều
phải đoàn kết nhất trí để làm tròn nhiệm vụ của Đảng giao cho”’ HCM hết sức coi
trọng sự đòan kết nhất trí trong Đảng bởi dsự đòan kết này là hạt nhân để giữ gìn phát
huy truyền thống và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân. Người chỉ rõ”đòan kết
là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và nhân dân ta” và đòi hỏi:”các đ/c từ
TW đến chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi
của mắt mình”. Đảng mà không có sự đòan kết nhất trí” trống đánh xuôi, kèn thổi
ngược’ thì không thể lãnh đạo được CM. Sức mạnh của Đảng ta là ở sự đòan kết nhất
trí, Bác Hồ đã chỉ rõ: để giữ gìn sự đòan kết nhất trí trong Đảng, Đảng phải thực hành
dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình, đó là cách
tốt nhất để cũng cố sự đòan kết thống nhất của Đảng; phải có tình đ/c thương yêu lẫn
nhau mỗi Đảng viên và cán bộ phải thấm nhuần đao đức CM, thật sự cần kiệm liêm
chính, chi công vô tư, phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người
lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.
Từ những nội dung nêu trên ta thấy nguyên tắc xây dựng khối đại đoàn kết trong
tư tưởng HCM là: khối đại đoàn kết phải được xây dựng trên cơ sở bảo đảm lợi ích
tối cao của dân tộc và những quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động tức là vừa đòan
kết vừa đấu tranh , lấy lợi ích tối cao của dân tộc và quyền lợi cơ bản của nhân dân
LĐ làm nền tảng trên cơ sở đó bảo đảm sự kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân và tập
thể, bộ phận và toàn cục, giai cấp và dân tộc, quốc gia và quốc tế , đòan kết phải tin
dân, dựa vào dân. Đảng và nhà nước phải dựa vào dân, lấy dân, coi dân là mục tiêu là
động lực của mọi đường lối, chủ trương chính sách. Đồng thời khối đại đoàn kết toàn
dân phải được xây dựng trên cơ sở lấy liên minh công nông-trí thức làm nền tảng
dưới sự lãnh đạo của Đảng.
24
Về phương pháp xây dựng khối đại đoàn kết theo tư tưởng HCM là tuyên
truyền, vận động giáo dục thuyết phục, nêu gương; lấy thẳng thắng chân thành để đối
xử lấy thành thật tinh yêu để cảm hóa;trân trọng phát huy nhân tố tích cực,hạn chế
đẩy lùi nhân tố tiêu cực;tạo điều kiện thuận lợi cho mọi tổ chức cá nhân đều tiến bộ