Tiểu luận môn tư tưởng Hồ Chí Minh
Đề tài:
Vấn đề con đường cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc.
Lời nói đầu
Lịch sử cách mạng của nước ta hơn 80 năm qua gắn liền với tên tuổi sự nghiệp, tư tưởng và đạo đức
Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, người anh hùng dân tộc vĩ đại, nhà tư tưởng lỗi lạc của cách mạng
Việt Nam. Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã sản sinh ra biết bao tên tuổi vĩ đại
nhưng không ai có sự nghiệp lừng lẫy như Chủ tịch Hồ Chí Minh, không ai có được tầm vóc thời đại,
được thế giới ca ngợi và thừa nhận như Hồ Chí Minh.
Địa vị có một không hai trong lịch sử dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được xác lập và củng cố
vững chắc nhờ công lao to lớn và sự nghiệp vĩ đại mà Người đã cống hiến cho cách mạng Việt Nam.
Công lao to lớn, sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa Người lên địa vị người anh hùng
giải phóng dân tộc vĩ đại, nhà tư tưởng, nhà lí luận sáng tạo của chủ nghĩa Mác-LêNin được các dân
tộc đang đấu tranh giải phóng và nhân loại tiến bộ hết lòng ca ngợi và khâm phục.
Thực tế lịch sử gần 80 năm qua đã chứng tỏ: thắng lợi của cách mạng Việt Nam là thắng lợi của chủ
nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Một thực tế khác cũng cho thấy: khi nào chúng ta xa rời
hoặc quán triệt không đầy đủ tư tưởng Hồ Chí Minh thì sẽ không tránh khỏi vấp váp và sai lầm. Cùng
với chủ nghĩa Mác-LêNin, tư tưởng Hồ Chí Minh quyết định sự thành bại của cách mạng Việt Nam.
Tư tưởng của Người không chỉ có ý nghĩa dân tộc mà còn có ý nghĩa với toàn nhân loại.
Nhiều nhà nghiên cứu và chính khách trên thế giới đã đánh giá tầm vĩ đại của tư tưởng Hồ Chí Minh,
nhãn quan sáng suốt nhìn xa thấy rộng của Người bắt nguồn từ nhận thức sâu sắc về những lực lượng
thúc đẩy sự biến đổi có tính chất bùng nổ nhất của lịch sử ở những bước ngoặt có tính chất cách
mạng nhất. Ðồng chí Gớt Hôn - Tổng Bí thư Ðảng Cộng sản Mỹ viết: "Hồ Chí Minh là con người
cần thiết xuất hiện đúng lúc, đúng yêu cầu của lịch sử, với những tư tưởng và ý kiến đúng. Chính vậy
mà đồng chí đã làm ra lịch sử".
Phần 1: Chủ tịch Hồ Chí Minh và tư tưởng của Người
Chủ tịch Hồ Chí Minh (tên lúc nhỏ là Nguyễn Sinh Cung, tên khi đi học là Nguyễn Tất Thành, trong
nhiều năm hoạt động cách mạng trước đây lấy tên là Nguyễn ái Quốc), sinh ngày 19-5-1890 ở làng
Kim Liên, xã Nam Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An và mất ngày 2-9-1969 tại Hà Nội.
Người sinh ra trong một gia đình: Bố là một nhà nho yêu nước, nguồn gốc nông dân; mẹ là nông dân;
chị và anh đều tham gia chống Pháp và bị tù đày.
thống Việt Nam, bồi dưỡng nhân tố đảm bảo cho thắng lợi của cách mạng Viêt Nam.
Người đã xây dựng nhiều tiền đề tư tưởng chính trị và tổ chức cho sự ra đời của chính đảng của giai
cấp công nhân ở Việt Nam và đã thống nhất các tổ chức cộng sản đầu tiên ở trong nước để sáng lập
nên Đảng cộng sản Việt Nam.
Chủ nghĩa Mác- Lê nin được Người vận dụng thành công cho cáh mạng Việt Nam. Người khẳng
định: Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là chủ nghĩa chân chính nhất, khoa học nhất, cách mạng nhất, "muốn
cách mạng thành công, phải đi theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và chủ nghĩa Lê-nin". Đối với Người, chủ
nghĩa Mác - Lê-nin là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận khoa học để giải quyết những vấn đề do
thực tiễn đặt ra. Người không bao giờ xa rời chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đồng thời kiên quyết chống chủ
nghĩa giáo điều và chủ nghĩa xét lại.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là "kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào
điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp
thu tinh hoa văn hóa nhân loại" (2)
Tư tưởng Hồ Chí Minh bắt nguồn từ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm nền
tảng, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là sự kế thừa, phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của
dân tộc, nổi bật là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân
loại, cả phương Đông và phương Tây. Đó là lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc, và tiến lên chủ
nghĩa xã hội ở các nước thuộc địa; là tư tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con
người, mà hạt nhân trung tâm là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh đã từng
tỏ rõ thái độ của mình đối với việc học tập, tiếp thu những học thuyết của các lãnh tụ chính trị, xã hội,
tôn giáo trong lịch sử. Người nói: "Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân.
Tôn giáo Giê-su có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả.Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm
việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện
nước ta. Khổng Tử, Giê-su, C. Mác, Tôn Dật Tiên chẳng phải đã có những điểm chung đó sao? Họ
đều muốn "mưu hạnh phúc cho loài người, mưu hạnh phúc cho xã hội...". Tôi cố
gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy"(3). Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh
nằm trong hệ tư tưởng Mác - Lê-nin, bắt nguồn chủ yếu từ chủ nghĩa Mác - Lê-
nin, nhưng không hoàn toàn đồng nhất với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, mà là sự tổng
hòa, sự kết hợp giữa tinh hoa văn hóa truyền thống Việt Nam, tinh hoa văn hóa
nhân loại với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin.
quốc có mối liên hệ mật thiết với nhau trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc.
“Chủ nghĩa tư bản là con đỉa hai vòi…” phải thực hiện liên minh chiến đấu giữa cách mạng vô sản
chính quốc với cách mạng thuộc địa.
Hồ Chí Minh đã nêu: “cách mạng thuộc địa không những không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở
chính quốc mà có thể giành thắng lợi trước…”.
Đây là một cống hiến rất quan trọng vào kho tàng lý luận Mác - Lênin, đã được thắng lợi của cách
mạng Việt Nam chứng minh là hoàn toàn đúng đắn.
Năm là, cách mạng giải phóng dân tộc phải được thực hiện bằng con đường bạo lực, kết hợp lực
lượng chính trị của quần chúng với lực lượng vũ trang của nhân dân. Bạo lực cách mạng: Bạo lực
cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền. Hình
thức của bạo lực cách mạng bao gồm cả đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang.
Giải quyết xung đột bằng biện pháp hoà bình, thương lượng, nhượng bộ có nguyên tắc. Tư tưởng bạo
lực cách mạng thống nhất với tư tưởng nhân đạo hoà bình.
Phương châm chiến lược đánh lâu dài trong cách mạng giải phóng dân tộc:
“…trường kỳ kháng chiến, địch nhất định thua, ta nhất định thắng… Thắng lợi với trường kỳ phải đi
đôi với nhau”.
Tự lực cánh sinh là phương châm chiến lược quan trọng của bạo lực cách mạng.
Ngay từ năm 1924, trong Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ, Nguyễn Ái Quốc đã nói đến khả
năng khởi nghĩa vũ trang ở Đông Dương. Theo Người, "Để có cơ thắng lợi, một cuộc khởi nghĩa vũ
trang ở Đông Dương... phải có tính chất một cuộc khởi nghĩa quần chúng...".
Đến tháng 5-1941, Hội nghị Trung ương 8 do Người chủ trì đã đưa ra nhận định: "Cuộc cách mạng
Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa võ trang".
Tóm lại, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo và phát triển học thuyết của Lênin về cách mạng thuộc
địa thành một hệ thống luận điểm mới mẻ, sáng tạo, bao gồm cả đường lối chiến lược, sách lược và
phương pháp tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa.
Phần 3: Con đường cách mạng Việt Nam dưới sự soi sáng của chủ nghĩa Mac-Lenin và tư
tưởng Hồ Chí Minh.
a) Trong giai đoạn tiền khởi nghĩa và Cách mạng tháng Tám: Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản
Việt Nam (2- 1930) đã thông qua Chánh cương vắn tắt của Đảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn
cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đầu tranh đấu bằng võ lực của các dân tộc ở một nước Đông
Dương.
Các nghị quyết HNTƯ (11-1939), (11-1940) và (5-1941) đã phát triển hoàn chỉnh đường lối cách
mạng GPDT. Đó là một hệ thống các quan điểm, chủ trương của Đảng trên mấy vấn đề chủ yếu sau
đây: Nêu cao nhiệm vụ GPDT, giành độc lập hoàn toàn cho đất nước. Chống đế quốc là nhiệm vụ
hàng đầu vì đế quốc Pháp, Nhật là kẻ thù chủ yếu. Nhiệm vụ chống phong kiến đặt ra thực hiện từng
bước và phải đặt dưới nhiệm vụ GPDT. Điều đó phù hợp với nguyện vọng chung của toàn thể dân
tộc. Tạm thời chưa giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân, song nông dân vẫn không giảm bớt sự
hăng hái tranh đấu mà vẫn nỗ lực tranh đấu mạnh hơn vì trong cuộc tranh đấu GPDT họ cũng được
hưởng nhiều quyền lợi to tát.
Để đoàn kết và huy động được sức mạnh của toàn dân thực hiện mục tiêu GPDT, Đảng chủ trương
xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi và vững chắc. Đó là Mặt trận thống nhất dân tộc phản
đế Đông Dương (11- 1939) thay cho Mặt trận dân chủ trước đó. Tháng 5-1941, HNTƯ quyết định
thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh). Đó là tổ chức mặt trận có chương trình rõ ràng
và hệ thống tổ chức chặt chẽ với các đoàn thể cứu quốc là thành viên và lấy làng, đường phố, nhà
máy làm tổ chức cơ sở. Sự liên hiệp các đoàn thể cứu quốc trong Việt Minh là sự thống nhất lực
lượng để tranh đấu thực hiện vấn đề độc lập cho đất nước. Việt Minh lấy ngọn cờ đỏ có ngôi sao
vàng năm cánh làm huy hiệu. Đó cũng là tổ chức Mặt trận giải quyết vấn đề dân tộc trong nội bộ dân
tộc Việt Nam giành quyền độc lập cho xứ sở. Song Việt Nam độc lập đồng minh lại còn hết sức giúp
đỡ Ai Lao độc lập đồng minh và Cao Miên độc lập đồng minh. Đảng và Mặt trận Việt Minh đã kết
hợp chặt chẽ nhiệm vụ dân tộc và nhiệm vụ đoàn kết quốc tế.
Đảng chủ trương xây dựng và phát triển căn cứ địa cách mạng, cùng với lực lượng chính trị phải coi
trọng xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang để chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang giành chính
quyền, giành độc lập. Sau khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, Trung ương Đảng đã ra lời hiệu triệu hưởng
ứng các cuộc khởi nghĩa đó và đặt vấn đề phải đi tới vũ trang khởi nghĩa. HNTƯ 8, từ kinh nghiệm
của các cuộc khởi nghĩa, của hoạt động của Cứu quốc quân, chiến tranh du kích ở Bắc Sơn - Vũ
Nhai, đã khẳng định vấn đề khởi nghĩa vũ trang: Cuộc cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng
một cuộc khởi nghĩa võ trang. Điều kiện để khởi nghĩa bằng vũ trang là: Mặt trận cứu quốc đã thống
nhất được toàn quốc; Nhân dân không thể sống được nữa dưới ách thống trị của Pháp - Nhật, mà đã
sẵn sàng hy sinh bước vào con đường khởi nghĩa; Những điều kiện khách quan thuận lợi xuất hiện
Đó là quy luật vận động, phát triển của cách mạng nước ta và khẳng đính sự đúng đắn, tính triệt để
của cách mạng GPDT do ĐCS lãnh đạo.
Những nội dung đường lối cách mạng GPDT mà các NQTƯ (11-1939), (11-1940) và NQTƯ
(5-1941) xác định là một hệ thống toàn diện, đồng bộ những vấn đề chiến lược, sách lược và phương
pháp cách mạng, chủ động về nắm bắt tình thế và thời cơ cách mạng. Điều cần đặc biệt nhấn mạnh là
Đảng và Hồ Chí Minh đã làm rõ sự thống nhất trong mục tiêu giành độc lập cho dân tộc và giành
chính quyền về tay nhân dân để đi đến sự lựa chọn hình thức chính quyền nhà nước thích hợp. Lênin
từng chỉ ra rằng, chính quyền nhà nước là vấn đề cơ bản và chủ yếu nhất của mọi cuộc cách mạng.