Tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ giai cấp - dân tộc và vận dụng tư tưởng đó vào sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay - Pdf 87

MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Quan hệ giữa giai cấp với dân tộc (gọi tắt là QHGC-DT)là một trong
những nội dung cơ bản của TTHCM. Việc nhận thức đúng đắn quan điểm này
và vận dụng quan điểm đó vào sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay là một
đòi hỏi cấp bách. Chính vì vậy tôi chọn đề tài: "Tư tưởng Hồ Chí Minh về
quan hệ giai cấp - dân tộc và vận dụng tư tưởng đó vào sự nghiệp đổi mới ở
Việt Nam hiện nay" làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ triết học của mình.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU:
Xung quanh vấn đề quan điểm CNMLN và TTHCM về QHGC-DT đã
có nhiều công trình nghiên cứu.Tuy nhiên đây lại là vấn đề cần phải tiếp tục
nghiên cứu làm sáng tỏ thêm. Đặc biệt là việc vận dụng TTHCM về QHGC-
DT trong điều kiện ở nước ta hiện nay đang là vấn đề chưa được nghiên cứu
một cách sâu sắc. Thực tiễn của sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay đòi hỏi
cần phải tiếp tục nghiên cứu sâu hơn những nội dung trên.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ:
Góp phần nhận thức TTHCM về QHGC-DT trong cách mạng Việt Nam.
Trên cơ sở ấy vận dụng tư tưởng này vào sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện
nay; Nghiên cứu cơ sở hình thành TTHCM về QHGC-DT ở Việt Nam;
Nghiên cứu nội dung cơ bản của TTHCM về QHGC-DT trong cách mạng
Việt Nam; Vận dụng TTHCM về QHGC-DT vào sự nghiệp đổi mới ở Việt
Nam hiện nay.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Tư tưởng của người về QHGC-DT được hình thành và phát triển trong
cuộc đời của Người hết sức phong phú. Nó được ghi nhận, phản ánh qua
nhiều nhân chứng, nhiều vật chứng khác nhau. Nhưng trong luận văn này,
chúng tôi chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu TTHCM về QHGC-DT trong các
bài viết, bài nói của Hồ Chí Minh mà thôi.
Trong phạm vi như thế, đối tượng nghiên cứu của luận văn này là:
1
Những luận điểm cơ bản, thể hiện bản chất của QHGC-DT trong TTHCM.

"Ở đâu CNTB cũng tàn ác vô nhân đạo, ở đâu giai cấp công nhân và nhân dân
lao động cũng bị áp bức, lóc lột rất dã man, các dân tộc thuộc địa đều có một
kẻ thù không đội trời chung là bọn đế quốc, thực dân" [4,tr.19]. Người nhận
rõ "giai cấp công nhân và nhân dân lao động các nước đều là bạn, chủ nghĩa đế
quốc ở đâu cũng là thù" [4,tr.19]. Đó là bản chất của QHGC-DT, quan hệ giữa
thống trị và bị trị trong thời đại đế quốc chủ nghĩa.
Ba mâu thuẫn cơ bản của thời đại:
Giai cấp tư sản mâu thuẫn với giai cấp công nhân
Chủ nghĩa đế quốc mâu thuẫn với các dân tộc
Chủ nghĩa đế quốc mâu thuẫn với chủ nghĩa đế quốc
được biểu hiện về mặt xã hội bằng hiện tượng là đấu tranh giai cấp, đấu tranh
dân tộc, chiến tranh đế quốc. Ba trào lưu đấu tranh ấy ngày càng xoắn xuýt
lấy nhau, làm tiền đề cho nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển. Đỉnh cao của
ba phong trào đấu tranh ấy vào đầu thế kỷ XX là sự bùng nổ và giành thắng
lợi của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917. Đó là thắng lợi của giai cấp
công nhân và nhân dân lao động Nga nói riêng và thế giới nói chung; là sự
3
khẳng định vai trò đầu tàu lịch sử của giai cấp công nhân trong thời đại mới.
Xét trên một ý nghĩa khái quát, Cách mạng Nga trở thành trung tâm
truyền tin (TTTT) những lý tưởng cách mạng đi khắp thế giới, trở thành con
đường cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động các nước bị
áp bức. Chính vì thế, Cách mạng tháng Mười Nga đã khơi nguồn và thúc đẩy
sự ra đời của 3 trào lưu cách mạng trong thế kỷ XX và còn có thể kéo dài đến
rất nhiều thế kỷ sau. Đó là phong trào giải phóng dân tộc, phong trào xây
dựng CNXH ở Liên Xô, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
Hồ Chí Minh trong quá trình tìm đường cứu nước, gặp gỡ với Cách mạng
tháng Mười Nga chứng kiến nhiều cuộc chiến tranh đế quốc và ba trào lưu
cách mạng này đã nhận diện được bản chất mới của thời đại mới do Cách
mạng tháng Mười Nga mở ra. Người viết: "Cách mạng tháng Mười Nga mở
ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu một thời

Nam mất phương hướng vận động. Đó chính là sự khủng hoảng trầm trọng
của một kết cấu xã hội giai cấp trong thời kỳ chưa xuất hiện vai trò đầu tàu
của giai cấp tiên phong, khủng hoảng trầm trọng của QHGC - DT. Thực chất
là sự khủng hoảng trầm trọng về vai trò lãnh đạo của một giai cấp đối với xã
hội. Biểu hiện về mặt hiện tượng xã hội của sự khủng hoảng ấy là kết cục thất
bại liên tiếp của các phong trào dân tộc, dân chủ theo ý thức hệ phong kiến và
ý thức hệ tư sản.
Nhu cầu được đặt ra từ sự khủng hoảng và thất bại nêu trên là cần phải có
một giai cấp mới với một thiết chế QHGC-DT mới, nhằm cứu lấy Việt Nam
thoát khỏi sự khủng hoảng này. Từ nhu cầu khách quan trên đây, lãnh tụ của
dân tộc và giai cấp đã ra khỏi Việt Nam để tìm kiếm một kiểu QHGC-DT
mới. Tiếp xúc ánh sáng cách mạng thời đại, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã nhìn thấy
kết cấu xã hội – giai cấp, QHGC-DT ở Việt Nam (xem mục 2.1.3). Do đó
TTHCM về QHGC-DT được hình thành. Nội dung của tư tưởng này như thế
nào, hãy xem chương 2.
1.2. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam truyền thống và chủ nghĩa mác - lenin về quan
5
hệ giai cấp - dân tộc.
1.2.1. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam truyền thống
Lịch sử Việt Nam từ thuở các vua Hùng dựng nước cho đến cuối thế kỷ
XIX khi bị thực dân Pháp xâm lược, về cơ bản là lịch sử chống ngoại xâm.
Trong chiều dài lịch sử ấy, chưa bao giờ dân tộc Việt Nam sống nổi trong độc
lập, hòa bình quá 300 năm. Thế nhưng dân tộc Việt Nam vẫn trường tồn!
Cái gì đã làm cho dân tộc Việt Nam có một sức sống trường tồn và mãnh
liệt như vậy? Trong khi đó đã có nhiều dân tộc bị đồng hóa, bị sáp nhập vào
các nước đế quốc?
Trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, dân tộc Việt Nam đất
không rộng, người không đông, điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, để chống
lại các thế lực phương Bắc mạnh hơn gấp nhiều lần thì không có vũ khí nào
khác hơn ngoài đoàn kết. Có đoàn kết mới làm nên sức mạnh, đoàn kết trở

2.1.2.
1.2.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về quan hệ giai cấp- dân tộc:
Giai cấp và dân tộc là hai vấn đề liên quan chặt chẽ với nhau.
Quan hệ giai cấp với tư cách là sản phẩm của một phương thức sản xuất
nhất định là nhân tố đóng vai trò quyết định đối với sự hình thành dân tộc,
tính chất dân tộc, xu hướng phát triển của dân tộc. Trong kết cấu giai cấp của
xã hội, giai cấp nào mạnh nhất (xét một cách toàn diện) thì sẽ giữ vai trò
thống trị đối với dân tộc. Tính chất giai cấp của giai cấp thống trị quy định
tính chất của phương thức sản xuất và quy định tính chất của dân tộc. áp bức
giai cấp sẽ sinh ra áp bức dân tộc: "hãy xóa bỏ nạn người bóc lột người thì
nạn dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ. Khi mà sự đối kháng
giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các
dân tộc cũng mất" [29,tr.565].
Trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, đấu tranh giải phóng dân tộc ở thuộc
địa và đấu tranh giai cấp ở chính quốc có quan hệ, tác động lẫn nhau hết sức
mật thiết. Đấu tranh dân tộc chứa đựng những nội dung giai cấp sâu sắc. Nó
7
không chỉ là kết quả mà còn là nguyên nhân làm cho đấu tranh giai cấp phát
triển cả bề rộng, bề sâu và có bước nhảy vọt về chất.Trong "sơ thảo lần thứ
nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa", gồm 12 điểm, Lênin
đã chỉ ra con đường giải quyết vấn đề dân tộc.
Những vấn đề dân tộc trong LCLN là vấn đề dân tộc thuộc địa. Nội dung
vấn đề dân tộc thuộc địa là:
- Thủ tiêu sự thống trị của nước ngoài, các nước đế quốc.
- Giành độc lập cho dân tộc.
- Thành lập Nhà nước dân tộc độc lập, thực hiện quyền dân tộc tự quyết.
Còn vấn đề giai cấp ở trong LCLN là: Việc giải quyết vấn đề dân tộc
thuộc địa sẽ do giai cấp nào đảm nhiệm.
Chính vì thế nội dung của QHGC-DT trong LCLN là quan hệ giữa giai
cấp tiên phong, giai cấp lãnh đạo của dân tộc với toàn thể dân tộc đó.

lại cho Người những cảm giác mạnh mẽ, vượt hẳn người thường.
Hầu như tất cả những hiện tượng gì mới lạ đều đưa lại cho Hồ Chí Minh
cảm giác mạnh mẽ.
Óc thông minh, tim nhân hậu, lòng dạ sắt son, tinh thần dũng cảm đã tạo
ra ở Hồ Chí Minh một phẩm chất thiên bẩm đặc biệt. Đó là mầm mống thiên
tài của bậc đại nhân, đại trí, đại dũng. Nhờ phẩm chất này, khách thể nhận
thức của Hồ Chí Minh (QHGC -DT ở Việt Nam và trên thế giới cuối thế kỷ
XIX đầu thế kỷ XX; chủ nghĩa yêu nước Việt Nam truyền thống; quan điểm
của CNMLN về QHGC- DT) đã liên tục được chủ thể hóa và ngược lại.
Qua quá trình hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, khách thể
nhận thức của Hồ Chí Minh đã đem lại cho Hồ Chí Minh trong cảm giác,
được cảm giác của Hồ Chí Minh chụp lại, chép lại, phản ánh và hình thành
nên TTHCM về QHGC- DT.
9
Chương 2
NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ QUAN HỆ GIAI CẤP - DÂN TỘC
2.1. CÁCH MẠNG LÀ SỰ NGHIỆP CỦA TOÀN DÂN DO GIAI CẤP CÔNG
NHÂN LÃNH ĐẠO.
2.1.1. Hồ chí Minh vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mac- Lênin về
quan hệ giai cấp - dân tộc:
Pari tháng 7 năm 1920, Hồ Chí Minh đọc LCLN.
Sau khi nắm vững phần chính của luận cương này Hồ Chí Minh cất tiếng
nói to một mình (NTMM) như sau:
"Hỡi đồng bào ! bị đoạ đày đau khổ! đây là cái cần thiết cho chúng ta,
đây là con đường giải phóng chúng ta!" [39,tr.217].
Như vậy LCLN đã thắp sáng lên trong tâm hồn Hồ Chí Minh về con
đường cách mạng Việt Nam nên mới làm cho Hồ Chí Minh NTMM như vậy.
Đó là gì? Đó là Hồ Chí Minh đã thấy được sức mạnh của Việt Nam qua chủ
nghĩa dân tộc truyền thống của nó, thấy được phương hướng vận động ở phía

hiện thực hoá của các học thuyết này trong đời sống xã hội. Người đã so sánh
các học thuyết ấy với nhau và với những truyền thống lịch sử văn hoá, tư
tưởng, con người Việt Nam, in dấu trong tâm hồn của Người. Từ đó Người
thấy rằng CNMLN là đỉnh cao của trí tuệ loài người. Đồng thời chủ nghĩa này
cũng phù hợp với Việt Nam nhất, và Người đã quyết định lựa chọn nó.
Từ những luận chứng trên đây ta có thể kết luận rằng: Kể từ khi cất tiếng
11
EurêkaII cho đến năm 1927, CNMLN về những vấn đề phù hợp, cần thiết với
Việt Nam lúc đó đã được Hồ Chí Minh nắm vững. Những vấn đề phù hợp,
cần thiết này xét về phía CNMLN chính là các điểm 2, 4, 6, 11, 12 của
LCLN; Chính là vấn đề liên minh công - nông và Đảng cộng sản trong cách
mạng; chính là liên minh các lực lượng tiến bộ trên toàn thế giới. Những vấn
đề này đã góp phần làm nên TTHCM về QHGC-DT : Cách mạng là sự
nghiệp của toàn dân do giai cấp công nhân lãnh đạo.
2.1.2. chủ nghĩa yêu nước - động lực của Hồ Chí Minh :
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam truyền thống luôn luôn là động lực của Hồ
Chí Minh. Nó bao phủ và in dấu đậm nét lên tâm hồn của Người, luôn luôn
bừng tỉnh và bám chắc trong cả cuộc đời hoạt động cách mạng của Người.
Điều đó thật rõ ràng.
Hồ Chí Minh đã so sánh mâu thuẫn trong lòng xã hội Việt Nam với mâu
thuẫn trong lòng xã hội Châu Âu. Có thể là Hồ Chí Minh đã nhận thấy sự
quyết liệt trong đấu tranh giai cấp ở Châu Âu và đã không nhận thấy điều đó
ở Việt Nam. Người cũng nhận thấy rằng cấu trúc của xã hội Việt Nam xét
theo quan hệ giữa người lao động với nhau, giữa nội bộ giai cấp thống trị với
nhau là rất lỏng lẻo. Còn sự phân chia xã hội thành các giai cấp và nhóm có
lợi ích đối lập nhau thì rất mờ nhạt. Trình độ nhận thức của giai cấp thống trị
và giai cấp bị trị để thực hiện mục tiêu giai cấp của họ rất thấp kém. Nếu lấy
Châu Âu làm hệ quy chiếu thì đấu tranh giai cấp không phải là đặc trưng của
xã hội Việt Nam.
Đối với Hồ Chí Minh chủ nghĩa dân tộc có giá trị cực kỳ quan trọng.

rằng lực lượng cách mạng phải đủ mạnh thì mới thắng nổi đế quốc và phong
kiến. Muốn cho đủ mạnh thì những lực lượng ấy phải tập trung, phải liên
minh chặt chẽ với nhau. muốn tập trung phải có Đảng cách mệnh… Nhưng
khi có Đảng rồi thì Đảng cần phải dựa vào đâu để đoàn kết nhân dân ?
Với tư cách là lãnh tụ tối cao của dân tộc, Hồ Chí Minh muốn chuyển
chủ nghĩa dân tộc từ mình đến các cá nhân trong xã hội Việt Nam và đánh
13
thức cho nó luôn luôn bừng tỉnh trong tâm hồn của họ, từng bước nhen nhóm
phong trào dân tộc. Có lẽ là xuất phát từ suy nghĩ như thế mà năm 1941, Hồ
Chí Minh đã viết cuốn sách "Lịch sử nước ta" để tuyên truyền và giáo dục về
kiến thức lịch sử dân tộc cho toàn dân Việt Nam. Thông qua đó, những suy
nghĩ trên của Hồ Chí Minh sẽ được thực hiện trong thực tiễn của xã hội. Cuốn
sách mở dầu bằng việc đề ra mục đích là giáo dục tường tận kiến thức lịch sử
nước nhà cho dân chúng và kết thúc bằng việc kêu gọi họ đoàn kết:
"Dân ta phải biết sử ta
cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam
........
Dân ta xin nhớ chữ đồng
Đồng tình đồng sức đồng lòng đồng minh" [32,tr.221-229]
Cuốn sách đã phản ánh một cách khá đầy đủ những trang sử oanh liệt,
dũng cảm của nhân dân Việt Nam trong đấu tranh chống ngoại xâm. Đặc biệt
sách không hề có lấyk một chữ nói về xung đột giai cấp, dân tộc hay tôn giáo
trong lòng xã hội Việt Nam. Khi Hồ Chí Minh viết cuốn sách này vào năm
1941 ở Cao Bằng chắc là chỉ dựa vào trí nhớ thôi. Bởi vì thời điểm này ở Cao
Bằng chắc không có tài liệu lịch sử dân tộc Việt Nam, Đảng Cộng Sản Việt
Nam và Hồ Chí Minh thì phải hoạt động bí mật, không có điều kiện để tiếp
cận sách báo đại chúng. Điều đó chứng tỏ rằng chủ nghĩa yêu nước và những
trang sử quá khứ Việt Nam luôn bừng tỉnh trong Hồ Chí Minh, trở thành
động lực thúc đẩy mọi hoạt động cách mạng của Người. Như thế, Cách mạng
là sự nghiệp của toàn dân do giai cấp công nhân lãnh đạo trong TTHCM được

Hồ Chí Minh thì trong giai đoạn đầu của cách mạng, mặt cách mạng của tiểu
tư sản được xem là "bầu bạn của cách mạng". Nhưng trải qua thời kỳ dài, tiểu
tư sản được Hồ Chí Minh xem là "Động lực cách mạng" [35,tr.460].
Song đặc điểm của tiểu tư sản là "Tự tư tự lợi, rời rạc, kém kiên quyết…"
do đó họ không thể lãnh đạo được cách mạng.
15
Thứ tư là giai cấp tư sản dân tộc.
Theo Hồ Chí Minh giai cấp tư sản dân tộc có địa vị kinh tế xã hội yếu
kém, bị đế quốc và phong kiến chèn ép.
Đó là mặt bị áp bức, mặt thứ nhất của giai cấp này. Đồng thời Hồ Chí
Minh cũng thấy được mặt thứ hai của họ là mặt thỏa hiệp:
Tính chất hai mặt ấy của giai cấp tư sản dân tộc làm cho họ "vừa muốn
cách mạng vừa muốn thỏa hiệp" [36,tr.215]. Đồng thời nó cũng làm cho giai
cấp này không tạo ra được cho mình hệ tư tưởng riêng. Do đó họ cũng không
thể lãnh đạo được cách mạng Việt Nam.Tuy nhiên mặt bị áp bức của họ làm
cho họ trở thành lực lượng cách mạng khá quan trọng.
Thứ năm là giai cấp công nhân Việt Nam.
Công nhân Việt Nam theo Hồ Chí Minh là những người không có tư liệu
sản xuất phải bán sức lao động mà sống. Bất kỳ họ lao động trong công nghệ
hay trong nông nghiệp, bất kỳ họ làm nghề gì cũng đều thuộc về giai cấp công
nhân.Chủ chốt của giai cấp này là những công nhân ở xí nghiệp, những công
nhân thủ công nghệ, những người làm thuê ở các cửa hàng những cố nông….
Đời sống của công nhân Việt Nam luôn luôn chịu sự áp bức bóc lột từ
nhiều phía khác nhau. Theo Hồ Chí Minh so với các giai cấp tầng lớp khác thì
"công nhân bị áp bức nặng hơn" [31,tr.266] .
Như vậy trong kết cấu xã hội - giai cấp của Việt Nam và các mâu thuẫn
vốn có của nó ,Hồ Chí Minh đã nhận ra rằng, Thứ nhất: các giai cấp công
nhân, nông dân, Tiểu tư sản, tư sản dân tộc đều có kẻ thù chung là đế quốc và
phong kiến. Thứ hai: Cả 4 giai cấp tầng lớp này đều là lực lượng cách mạng ở
một mức độ nhất định. Do đó theo Hồ Chí Minh, cách mạng phải là sự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status