Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội trong quá
trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay
MỞ ĐẦU
Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều nhận thấy rằng: đường
lối phát triển kinh tế là yếu tố đầu tiên quyết định sự thành bại trong quá trình
phát triển kinh tế của một đất nước.
Trong vài thập kỉ gần đây, vấn đề tăng trưởng kinh tế gắn với sự công
bằng xã hội được đặt ra mang tính chất toàn cầu bởi vấn đề không chỉ cần
thiết đối với những nước nghèo mà còn đối với tất cả những nước phát triển.
Đây là giải pháp cần thiết, tất yếu trong sự nghiệp cải cách, đổi mới nhằm
khắc phục tình trạng suy thoái kinh tế, sức ỳ, sự trì trệ xã hội do những hạn
chế của cơ chế quản lý tập trung quan liêu. Thực tiễn ở các nước cũng cho
thấy, muốn phát triển bền vững phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần để
thực hiện công bằng xã hội, ngược lại giải quyết tốt các vấn đề xã hội sẽ tạo
động lực để thúc đẩy kinh tế, bởi không có ổn định kinh tế thì sẽ không có
phát triển kinh tế.
Đối với Việt Nam, các chuyên gia kinh tế đều có nhận xét chung là:
chúng ta đã có bước khởi đầu tốt đẹp trong giai đoạn phát triển mới. Tuy
nhiên, để đạt được tốc độ tăng trưởng cao và liên tục trong thời gian tới còn
nhiều khó khăn. Vấn đề đặt ra là cần có sự lựa chọn thích hợp cho đường lối
phát triển, nhằm đạt được những mục tiêu đề ra. Để hoạch định hướng đường
lối phát triển đúng đắn là cần phải biết kết hợp những nguyên lý cơ bản của
sự phát triển kinh tế với những vấn đề đặt ra trong thực tiễn phát triển của đất
nước. Một trong những vấn đề đó là “việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế với công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay như thế nào?”
1
Thực tiễn hơn 20 năm đổi mới ở nước ta cho thấy, tăng trưởng kinh tế
với công bằng xã hội là vấn đề mấu chốt của lý luận đổi mới, cũng là nội
dung rất căn bản của lý luận phát triển ở nước ta. Giải quyết hợp lý và đúng
đắn mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội là đòi hỏi tất
gia tăng quy mô sản lượng kinh tế nhanh hay chậm so với thời điểm gốc. Quy
mô và tốc độ tăng trưởng là"cặp đôi" trong nội dung khái niệm tăng trưởng
kinh tế. Hiện nay, trên thế giới người ta thường tính mức gia tăng về tổng giá
trị của cải của xã hội bằng các đại lượng tổng sản phẩm quốc dân (GNP) hoặc
tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là tổng giá trị tính bằng tiền của
những hàng hoá và dịch vụ mà một nước sản xuất ra từ các yếu tố sản xuất
của mình (dù là sản xuất ở trong nước hay ở nước ngoài) trong một thời kỳ
nhất định (thường là một năm). Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng giá trị
tính bằng tiền của toàn bộ hàng hoá và dịch vụ mà một nước sản xuất ra trên
3
lãnh thổ của nước đó (dù nó thuộc về người trong nước hay người nước
ngoài) trong một thời gian nhất định (thường là một năm). So sánh tổng sản
phẩm quốc dân (GNP) và tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ta thấy:
GNP = GDP + thu nhập ròng từ tài sản ở nước ngoài.
Thu nhập ròng từ tài sản ở nước ngoài = thu nhập chuyển về nước của
công dân nước đó làm việc ở nước ngoài trừ đi thu nhập chuyển ra khỏi nước
của người nước ngoài làm việc tại nước đó.Theo đó, tăng trưởng kinh tế là
mức gia tăng GDP hay GNP năm sau so với năm trước.
GNP và GDP là hai thước đo tiện lợi nhất để tính mức tăng trưởng kinh
tế của một nước biểu hiện bằng giá cả. Vì vậy, để tính đến yếu tố lạm phát
người ta phân định GNP, GDP danh nghĩa và GNP, GDP thực tế. GNP, GDP
danh nghĩa là GNP và GDP tính theo giá hiện hành của năm tính; còn GNP và
GDP thực tế là GNP và GDP được tính theo giá cố định của một năm được
chọn làm gốc. Với tư cách này, GNP, GDP thực tế loại trừ được ảnh hưởng
của sự biến động của giá cả (lạm phát). Do đó, có mức tăng trưởng danh
nghĩa và mức tăng trưởng thực tế.
Vai trò của tăng trưởng kinh tế
Thành tựu kinh tế vĩ mô của một quốc gia thường được đánh giá theo
những dấu hiệu chủ yếu như: ổn định, tăng trưởng, công bằng xã hội. Trong
kinh tế "quá nóng", gây ra lạm phát, hoặc tăng trưởng kinh tế cao làm cho dân
cư giàu lên, nhưng đồng thời cũng có thể làm cho sự phân hoá giàu nghèo
trong xã hội tăng lên. Vì vậy, đòi hỏi mỗi quốc gia trong từng thời kỳ phải tìm
ra những biện pháp tích cực để đạt được sự tăng trưởng hợp lý, bền vững.
Tăng trưởng kinh tế bền vững là tăng trưởng kinh tế đạt mức tương đối cao,
5
ổn định trong thời gian tương đối dài (ít nhất từ 20 - 30 năm) và giải quyết tốt
vấn đề tiến bộ xã hội gắn với bảo vệ môi trường sinh thái.
* Công bằng xã hội
Hiện nay, công bằng xã hội thường được hiểu là một phạm trù chính trị
- xã hội - văn hóa với ý nghĩa chủ yếu là nói lên mối quan hệ giữa cá nhân và
xã hội, mối quan hệ giữa các thành viên trong xã hội dựa trên nguyên tắc của
sự hài hòa giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa quyền lợi và nghĩa vụ. Như vậy,
nói tới công bằng xã hội là người ta nói tới sự ngang bằng nhau ở một mức độ
nào đó của con người trong xã hội theo phương diện lao động và thu nhập với
một nguyên tắc: lao động ngang nhau thì sự hưởng thụ phải ngang nhau.
Thực ra, quan niệm về công bằng xã hội như trên là không đầy đủ và
chưa toàn diện, mặc dù quan niệm đó có cơ sở chắc chắn là dựa vào các tiêu
chuẩn lao động và thu nhập. Khái niệm công bằng xã hội phải được hiểu theo
một nghĩa rộng rãi hơn, đầy đủ hơn để khi vận dụng trong thực tiễn người ta
có thể tránh được những cực đoan, máy móc.
Công bằng xã hội là một khái niệm luôn mang tính lịch sử, bị quy định
chặt chẽ bởi các hoàn cảnh cụ thể, và thực tế thì chưa bao giờ và không ở đâu
có sự công bằng tuyệt đối. Trong xã hội có giai cấp thì các giai cấp thống trị
đưa ra những tiêu chuẩn cho sự công bằng, mà phần lớn các tiêu chuẩn đó đều
đem lại lợi ích và bảo vệ lợi ích cho giai cấp thống trị. Theo đó, công bằng xã
hội bị các lợi ích giai cấp làm biến dạng và xuyên tạc đi. Công bằng xã hội
nhìn qua lăng kính của giai cấp bóc lột đồng nghĩa với quyền lợi của giai cấp
thống trị và nghĩa vụ của người lao động, cho nên nó tạo ra những mâu thuẫn
không bao giờ có thể điều hòa được. Chính những mâu thuẫn đó đã biến công
cầu lợi ích của mình, vừa tạo nên sức mạnh chung của cộng đồng (dân giàu,
nước mạnh), đưa đất nước từng bước tiến tới trình độ hiện đại (văn minh).
7
Quan niệm công bằng xã hội theo chủ nghĩa bình quân hoặc cho mọi
thứ bất công hoành hành, có hại cho lợi ích của đại đa số nhân dân càng
không thể chấp nhận được. Có người đặt vấn đề, để đạt được sự tăng trưởng
kinh tế thì tất yếu phải hy sinh công bằng xã hội, cần chấp nhận đạt tăng
trưởng kinh tế trước rồi dần dần giải quyết những vấn đề xã hội sau? Mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh không cho phép
làm như vậy. Vả lại, nếu làm như thế thì đồng thời cũng triệt tiêu luôn sự tăng
trưởng kinh tế.
Cũng có người cho rằng: đã là kinh tế thị trường thì phải chấp nhận
mọi thứ bất công? Kinh nghiệm một số nước cho thấy, một nền kinh tế thị
trường kiểu đó không giúp cho sự phát triển của đất nước, ngay cả trong lĩnh
vực kinh tế, và sớm muộn sẽ dẫn đất nước tới hỗn loạn, nghèo khổ và lạc hậu.
Nền kinh tế thị trường mà chúng ta muốn có là một nền kinh tế phục vụ cho
lợi ích chung của sự phát triển đất nước và bảo đảm cho mọi người dân sống
ngày càng ổn định và khá lên, theo nguyên tắc xã hội chủ nghĩa.
* Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
Có thể khẳng định rằng, tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau, là điều kiện, tiền đề của nhau. Trong đó, tăng
trưởng kinh tế là điều kiện không thể thiếu được để thực hiện, phát triển và
đảm bảo công bằng xã hội.
Thực tế cho thấy, kinh tế có tăng trưởng thì mới có thể xóa bỏ được
những biểu hiện bất bình đẳng và bất công xã hội đã từng tồn tại hàng ngàn
năm trong lịch sử các dân tộc (chẳng hạn vấn đề bóc lột giai cấp, bất bình
đẳng nam nữ, bất bình đẳng dân tộc, sự chênh lệch về mức sống giữa các
vùng dân cư…) và phát triển công bằng xã hội lên một trình độ mới cao hơn.
Tất nhiên, trong điều kiện kinh tế thiếu thốn vẫn có thể và phải thực hiện công
bằng xã hội ở một mức độ nhất định, nhưng công bằng trong điều kiện như
9
Việt Nam. Người khẳng định mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội là để
không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân. Mục tiêu hàng đầu của phát
triển kinh tế là nâng cao đời sống của nhân dân, trước hết là nhân dân lao
động, làm cho đời sống của người dân ngày càng đầy đủ, sung sướng, hạnh
phúc. Đời sống vật chất, theo Người, trước hết giải quyết vấn đề ăn, mặc, nhà
ở, chữa bệnh. Đời sống tinh thần, theo Hồ Chí Minh, trước hết là bảo đảm học
hành cho mọi người. Đồng thời Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rõ trách
nhiệm của Đảng và Nhà nước trong việc chăm lo đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân. Xuất phát từ một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ
nghĩa xã hội không kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, điều này
chi phối quan điểm phân phối. Để bảo đảm tính công bằng trong phân phối,
Hồ Chí Minh đòi hỏi cán bộ phải chí công, vô tư. Người quan tâm đến vấn đề
phúc lợi xã hội, tuy nhiên theo Người, phúc lợi phải gắn với hiệu quả sản
xuất. Như vậy, vấn đề tăng trưởng kinh tế gắn với thực hiện tiến công bằng xã
hội được xem xét trong quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là: Mục đích
của xây dựng kinh tế để không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
cho nhân dân; thực hiện công bằng xã hội phù hợp sẽ thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế, giải quyết các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Trước thời kỳ đổi mới, do bị chi phối bởi những nhận thức ấu trĩ, giản
đơn, giáo điều về chủ nghĩa xã hội, chúng ta đã chủ trương đẩy mạnh cải tạo xã
hội chủ nghĩa, nhanh chóng xóa bỏ các thành phần kinh tế cá thể của nông dân,
thợ thủ công, tiểu thương, tiểu chủ và thành phần kinh tế tư bản tư nhân để sớm
hình thành một nền kinh tế "thuần nhất" dựa trên chế độ sở hữu công cộng về
tư liệu sản xuất dưới hai hình thức quốc doanh và tập thể; đồng thời áp dụng
phương thức quản lý kế hoạch hóa tập trung và thực hiện chế độ phân phối theo
lao động trên danh nghĩa, nhưng trên thực tế là cào bằng, bình quân chủ nghĩa.
Điều đó được xem là xây dựng quan hệ sản xuất mới đi trước một bước để mở
10
đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Nhưng trái với mong muốn chủ quan,
nhanh chóng ra khỏi trạng thái trì trệ với sức ì rất lớn do thiếu động lực nội tại
để phát triển, nhanh chóng trở nên năng động, tích cực. Từ chỗ triền miên
thiếu lương thực (mà đây chỉ là hiện tượng thiếu giả tạo, hậu quả của một thời
“ngăn sông, cấm chợ”, ách tắc lưu thông phân phối), Việt Nam nhanh chóng
trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.
Tăng trưởng kinh tế là mức tăng về lượng, về tốc độ của nền kinh tế,
tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa, tăng năng suất lao động xã hội, đáp ứng nhu
cầu sản xuất, tiêu dùng trong xã hội. Tăng trưởng là điều kiện của phát triển,
của tiến bộ, đó là tiền đề về vật chất - kinh tế để thực hiện công bằng. Một xã
hội có nền kinh tế phồn vinh, giàu có phải là một xã hội đạt được và duy trì
được sức tăng trưởng kinh tế, cũng như vậy, những dấu hiệu trì trệ và suy
thoái, thậm chí khủng hoảng (gắn với lạm phát) phải nhận biết từ mức tăng
trưởng chậm lại, giảm sút tăng trưởng. Không có một nền kinh tế tăng trưởng
thì không thể có tiềm lực vật chất để tiếp tục đầu tư cho hoạt động sản xuất -
kinh doanh, không có vốn và các nguồn lực nói chung để có thể tái sản xuất
mở rộng, càng không thể có điều kiện vật chất để cải thiện, nâng cao mức
sống, chất lượng cuộc sống của dân cư.
Trong quan hệ với tiến bộ và phát triển, nếu tăng trưởng kinh tế là điều
kiện và tiền đề thì tiến bộ và phát triển là kết quả và công bằng xã hội là động
lực và mục tiêu của quá trình tăng trưởng, tiến bộ và phát triển. Nói một cách
khác, công bằng xã hội đóng vai trò là động lực thúc đẩy tăng trưởng và phát
triển kinh tế, là nhân tố bảo đảm ổn định và lành mạnh xã hội, kể cả xác lập
ổn định tích cực của chính trị, là động lực đồng thời là mục tiêu của đổi mới
để phát triển đi đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.
12
Công bằng xã hội thể hiện bản chất của chủ nghĩa xã hội, là một
trong những giá trị mà sự nghiệp đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội của
chúng ta hướng tới. Đây không chỉ là giá trị đặc trưng riêng có của chủ
nghĩa xã hội. Trên thực tế, chế độ xã hội nào muốn được lòng dân, muốn
tồn tại cũng phải quan tâm giải quyết yêu cầu về công bằng xã hội. Chế độ
kinh tế, xã hội, văn hóa, trong lĩnh vực chính trị. Việc đổi mới hệ thống chính
trị ở nước ta cũng đạt được nhiều tiến bộ, song phát triển toàn diện, cân đối và
bền vững thì vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém. Những nỗ lực trong quản lý
nhà nước đã thực hiện được trên một số mặt về công bằng xã hội, kết hợp
tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội trong từng bước đi, trong từng chính
sách như văn kiện Đại hội X đã chỉ ra, song bất bình đẳng trong xã hội, bất
công bằng xã hội còn nhiều, từ thụ hưởng lợi ích đến tiếp cận các dịch vụ xã
hội, các cơ hội phát triển, đối với các tầng lớp dân cư xã hội khác nhau, các
địa phương, vùng, miền khác trong cả nước. Tỷ lệ đói nghèo trong dân cư,
nhất là ở nông thôn, ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn
cao. Nông dân chiếm tỷ lệ lớn trong dân số nước ta (60 triệu trên tổng số hơn
80 triệu dân) vẫn là đối tượng chịu nhiều thua thiệt trong phát triển, trong đó
đáng lưu ý là số người nghèo, hộ nghèo, mất đất sản xuất và chưa được đào
tạo nghề để ổn định cuộc sống. Ngay công nhân, người lao động và một bộ
phận trí thức, thuộc về những lực lượng cơ bản của xã hội vẫn gặp rất nhiều
khó khăn trong đời sống hằng ngày cũng như trong việc tiếp cận những cơ hội
phát triển. Họ cũng là những đối tượng chịu thua thiệt trong phát triển. Sự
chênh lệch trong phát triển cũng biểu hiện rõ rệt giữa các địa phương, vùng,
miền. Do đó, giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng
xã hội để đạt được sự phát triển bền vững càng trở nên bức xúc không chỉ đối
14
với sự phát triển của cá nhân và cộng đồng xã hội mà còn đối với địa phương,
vùng miền trong cả nước.
2. Thực trạng và quan điểm, giải pháp gắn tăng trưởng kinh tế với
công bằng xã hội trong quá trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay
2.1 Thực trạng của tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội ở
nước ta hiện nay
* Những thành tựu nổi bật
Về kinh tế, kết quả thực hiện chiến lược 10 năm (2001 - 2010) ước tính
GDP tăng bình quân 7,2%/năm (năm 2009 - 2010, ước theo kế hoạch của Chính
(năm 2006) tổng chi tiêu của cả nước.
Khái niệm bình đẳng mang tính chất tương đối khi so sánh giữa các
tầng lớp dân cư, nên khác với ý nghĩa của kết quả giảm hộ nghèo. Mặc dù
những năm qua, chúng ta đã rất thành công trong các chương trình xóa đói,
giảm nghèo; nhất là các Chương trình 135, 132 của Chính phủ đã giải quyết
được tình trạng nghèo tuyệt đối ở các địa bàn nông thôn. Theo đó, tỷ lệ hộ
nghèo đã giảm rất ấn tượng trong 15 năm qua: từ 58,1% (năm 1993) xuống
còn khoảng 11% (năm 2009).
Dù nước ta hiện không còn nằm trong số 50 quốc gia nghèo nhất của
thế giới theo tiêu chí xếp loại của UNDP (với mức GINI dưới
750USD/người/năm), nhưng vẫn chỉ là quốc gia có thu nhập trung bình ở
ngưỡng thấp theo tiêu chí đánh giá của Ngân hàng Thế giới (thu nhập trung
bình GDP/người từ 936 USD đến 3.705 USD). Tuy nhiên, nhờ đường lối sáng
suốt của Đảng ta trong việc kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với công
bằng xã hội trong hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam đã đạt
nhiều thành tựu về tiến bộ xã hội.
Cụ thể là: chỉ số HDI đạt 0,733, xếp hạng 105/177 quốc gia, thuộc
nhóm trung bình cao (nhóm trung bình từ 0,503 đến 0,798). Tỷ lệ hộ nghèo đã
16
giảm xuống còn khoảng 11% theo tiêu chí Việt Nam (nếu theo tiêu chí quốc
tế là 2 USD/người/ngày thì số hộ nghèo còn khoảng 40%). Bảo hiểm y tế
được mở rộng đến 52% dân số, 100% số xã có trạm y tế và 78% số xã có bác
sĩ phụ trách. Tuổi thọ trung bình đạt 72 tuổi. Trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh
dưỡng còn dưới 20%. Ngân sách nhà nước đã bảo đảm được 78% chi phí cho
giáo dục đào tạo toàn xã hội (đạt 20% ngân sách nhà nước) v.v
Những thành tựu nêu trên phần nào phản ánh được sự đúng đắn trong
đường lối đổi mới của Đảng nói chung và trong Chiến lược xóa đói, giảm
nghèo giai đoạn 2001 - 2010 nói riêng. Tuy vậy, trong quá trình thực thi
chính sách, vẫn bộc lộ không ít những hạn chế cùng nhiều vấn đề xã hội
khác đang đặt ra.
thị hóa và công nghiệp hóa, vấn đề khó khăn nhất là làm thế nào để chuyển
một bộ phận nông dân mất đất thành thị dân, trở thành người lao động trong
các ngành nghề phi nông nghiệp. Tuy nhiên, thực tế thời gian qua, chúng ta
chưa có các chính sách và giải pháp thực sự hữu hiệu để giải quyết bài toán
khó khăn này. Ngược lại, ở nhiều địa phương, chính quyền chủ yếu chỉ quan
tâm vào việc giải tỏa nhanh để lấy đất, đền bù cho người dân một số tiền theo
kiểu "áp đặt giá mua", trong khi việc quan trọng hơn là giúp họ tổ chức cuộc
sống cho bản thân và gia đình sau khi mất đất thì ít được quan tâm. Nhiều
người đã hiểu sai lệch về cơ chế kinh tế thị trường theo kiểu "thuận mua vừa
bán" trong công tác đền bù giải tỏa (để chuyển từ đất nông nghiệp sang phi
nông nghiệp), mà không hiểu rằng, chỉ có việc làm mới là cơ sở quan trọng
nhất tạo sự ổn định cuộc sống cho mỗi con người. Sự phản ứng của xã hội
trong thời gian gần đây về tình hình mất đất nông nghiệp, sử dụng lãng phí
quỹ đất phi nông nghiệp cũng là hệ quả của tình hình trên.
18
Thứ ba, trong mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã
hội thông qua sự vận động của cơ chế thị trường, công cụ quan trọng nhất để
Nhà nước điều tiết là thuế và phí.
Trong đó, chính sách thuế phải chuyển dần từ thuế gián thu sang thuế
trực thu, như thuế thu nhập cá nhân, thuế tài sản bất động sản trong nguồn thu
ngân sách nhà nước. Sau Đại hội IX (năm 2001), Chính phủ đã có chiến lược
cải cách về thuế trong giai đoạn 2001 - 2010 nhằm thay đổi cơ cấu nguồn thu.
Nhưng đến nay vẫn chưa có sự thay đổi đáng kể. Thuế trực thu hiện mới đóng
góp khoảng 7% - 8% cho ngân sách, còn chủ yếu dựa vào thuế gián thu. Từ
đó có thể nói, chính sách thuế chưa thực sự thúc đẩy công bằng xã hội. Mặt
khác, những nỗ lực của Nhà nước thời gian qua để kiểm soát thu nhập của các
tầng lớp dân cư nhằm điều tiết bằng công cụ thuế thu nhập cá nhân đã không
mấy thành công do chưa giải quyết được tình trạng của nền kinh tế tiền mặt.
Thứ tư, mô hình kinh tế dựa vào nền tảng phát triển các doanh nghiệp
vừa và nhỏ là mô hình tạo ra tầng lớp trung lưu chiếm chủ yếu trong cơ cấu
cục; (2) - Do động lực cạnh tranh và động cơ lợi nhuận, các doanh nghiệp
luôn luôn xem nhẹ lợi ích cộng đồng, như vấn đề phá hoại môi trường, gian
lận thương mại, đầu cơ thái quá; (3) - Mô hình kinh tế thị trường là mô hình
làm giàu cho thiểu số, không thể có chuyện mọi người cùng giàu theo sự tác
động tự nhiên của thị trường.
Do đó, nhiều nhà kinh tế đã ví mối quan hệ giữa thị trường với nhà
nước như "hai bánh xe" của một cỗ xe vận hành nền kinh tế. Sự chệch choạc
trong quá trình vận hành của "hai bánh xe" này chính là điều mà chúng ta
thường nói là sự bất cập trong quản lý nhà nước đối với nền kinh tế thị
trường. Bởi vì, thị trường hoạt động theo quy luật của "bàn tay vô hình", mà
các quy luật đó giống như quy luật "nước chảy chỗ trũng". Còn vai trò của
20
nhà nước can thiệp vào thị trường là dẫn dắt "dòng nước" đó chảy theo mục
đích của mình. Nghĩa là, nhân tố khách quan (của quy luật thị trường) và ý
muốn chủ quan (trong mục tiêu phát triển của nhà nước) không triệt tiêu lẫn
nhau. Đây chính là điểm khó khăn nhất cả về phương diện tư duy cũng như
hành động trong suốt quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý từ nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường; cũng là điều bất cập đáng kể nhất
trong cơ chế quản lý kinh tế hiện nay.
Để khắc phục những khuyết tật trên, các quốc gia, tùy theo điều kiện
lịch sử và đặc điểm của mình; đồng thời tùy theo mục tiêu của nhà nước đó đề
ra những công cụ quản lý khác nhau. Ngày nay, khi nói đến phát triển bền
vững, tức là nói đến việc sử dụng vai trò của nhà nước để khắc phục 3 khuyết
tật của thị trường vừa đề cập ở trên. Do đặc điểm chế độ chính trị, truyền
thống văn hóa, lịch sử và năng lực quản trị khác nhau, nên việc giải quyết
những khuyết tật nói trên ở mỗi quốc gia sẽ có kết quả khác nhau. Có thể nói,
vai trò của nhà nước là hạn chế những thất bại của thị trường, đồng thời khắc
phục những khuyết tật cố hữu của thị trường. Chức năng này càng trở nên
quan trọng đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà
nước ta đang xây dựng.
Đại hội VIII của Đảng đánh dấu bước phát triển mới trong chỉ đạo về
vấn đề này. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII khẳng định:
"Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ xã hội và công bằng xã hội
ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển. Công bằng xã hội
phải thể hiện ở cả khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn ở khâu phân phối
kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển
và sử dụng tốt năng lực của mình"
1
.
1
Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 1996, tr.113.
22
Đến Hội nghị Trung ương 4 khóa VIII, Đảng ta nhấn mạnh rằng, phát
triển kinh tế phải đi đôi với thực hiện công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách
giữa thành thị và nông thôn, giữa nông thôn với nông thôn, giữa thành thị với
thành thị, giữa các tầng lớp xã hội.
Đường lối đúng đắn đó tiếp tục được Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng
định tại Đại hội lần thứ IX: "…phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững;
tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đời sống
vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo
vệ và cải thiện môi trường"
2
Đến Đại hội lần thứ X, vấn đề trên được Đảng ta bổ sung và phát triển
một bước quan trọng, cụ thể là: "Kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu
xã hội trong phạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực, địa phương; thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, thực hiện
tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền lợi và nghĩa
vụ, cống hiến và hưởng thụ, tạo động lực mạnh mẽ và bền vững hơn cho phát
người ốm yếu về thể chất, trình độ dân trí thấp và một bộ phận đáng kể lực
lượng lao động chưa được đào tạo, thất nghiệp, nghèo đói. Ngay cả trong điều
kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự thống nhất giữa
tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội cũng luôn là một đòi hỏi khách
quan, tất yếu.
Trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, lực lượng sản xuất thấp
kém, không đồng đều, cơ cấu dân số đông, việc giải quyết các vấn đề xã hội,
thực hiện công bằng xã hội ở nước ta phải tính đến mục tiêu phát triển kinh tế.
Để công bằng xã hội có nội dung thực chất và tạo động lực phát triển kinh tế,
cần dứt khoát từ bỏ phương thức phân phối bình quân, cào bằng, bao cấp;
khắc phục tâm lý ỷ lại, trông chờ vào nhà nước; xoá bỏ lối quản lý xin - cho
Chẳng hạn, trong chiến lược xóa đói giảm nghèo ở nước ta, một mặt, cần tăng
cường sự hỗ trợ của nhà nước và các tổ chức xã hội trong các chương trình
xóa đói giảm nghèo; mặt khác, cần tăng cường các hoạt động giám sát, định
hướng, tổ chức giúp người dân thoát nghèo một cách vững chắc theo kiểu
"dạy người dân cách tự câu lấy cá cho mình".
Thứ hai, để công bằng xã hội trở thành động lực phát triển kinh tế
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cần phải gắn quyền
lợi với nghĩa vụ, cống hiến với hưởng thụ.
24
C.Mác đã chỉ rõ, công bằng là sự thể hiện yêu cầu bình đẳng trong
quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa nghĩa vụ và quyền lợi. Điều này
có nghĩa là những người khác nhau nhưng cống hiến ngang nhau thì hưởng
thụ như nhau. Nói cách khác, xã hội đối xử ngang nhau với những người có
đóng góp như nhau. Mức độ hưởng thụ của cải xã hội được xác định dựa trên
những cống hiến của họ đối với xã hội. Công bằng xã hội cần được hiểu như
vậy để tránh lặp lại lối phân phối bình quân chủ nghĩa mà thực chất là cào
bằng, không công bằng đã xuất hiện ở nước ta thời kỳ trước đổi mới. Cách
nhìn nhận và giải quyết vấn đề công bằng xã hội như vậy nhằm khuyến khích
mọi người đóng góp nhiều hơn cho xã hội, tức là tạo nên động lực thúc đẩy sự