ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN TOÀN
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÂN TỐ CON NGƯỜI
VỚI VIỆC PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP
ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
HIỆN NAY CỦA VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Huế, 05 / 2011
N
G
U
Y
Ễ
N
T
O
À
N
H
U
Ế
,
0
5
/
2
0
1
1
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
KINH TẾ QUỐC TẾ HIỆN NAY
2.1 Nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về Hội nhập kinh tế quốc tế
2.2 Thực trạng việc phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp đổi mới
đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết hợp những truyền thống tốt đẹp của dân
tộc cùng với những tinh hoa văn hóa của nhân loại và chủ nghĩa Mác - Lênin
nhằm vào mục đích giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con
người. Trước lúc đi xa Người đã để lại cho dân tộc Việt Nam và nhân loại
tiến bộ trên thế giới một di sản lý luận vô cùng quan trọng để hướng tới sự
nghiệp Độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội. Trong di sản tư tưởng của
Người điều cốt lõi có ý nghĩa xuyên suốt là Độc lập dân tộc gắn liền với Chủ
nghĩa xã hội. Vì vậy tư tưởng giải phóng của Người chính là lấy sự nghiệp
giải phóng con người làm trung tâm.
Hiện nay đất nước Việt Nam đang trong tiến trình đổi mới, hội nhập
kinh tế quốc tế. Vấn đề nhân tố con người với việc phát huy nhân tố con
người luôn được Đảng nhận thức rõ và khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam
luôn nhấn mạnh đến nguồn lực con người, coi đó là nguồn lực nội sinh quan
trọng nhất cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Kế thừa các
Đại hội trước Đại hội X nêu rõ “Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách
con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời
kì công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế. Bồi
dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý
tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa con người
Việt Nam”, và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI khẳng định: “Mở rộng dân
chủ, phát huy tối đa nhân tố con người; coi con người là chủ thể, nguồn lực
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về con người nói chung, nhân tố con
người nói riêng cũng như vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và
phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay được
Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Trong những năm qua ở Việt Nam có
nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, tiêu biểu như:
- Hồ Kiếm Việt, Góp phần tìm hiểu đặc sắc tư duy triết học Hồ Chí
Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2004.
- Vũ Thị Kim Dung, Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, Tạp chí Khoa
học Chính trị, số 2, năm 1998.
- Thành Duy, Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người
Việt Nam phát triển toàn diện, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2001.
- Nguyễn Thế Kiệt, Xây dựng và phát triển con người nâng cao chất
lượng nguồn lực con người trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay,
Tạp chí Triết học số 6, năm 2008.
- Nguyễn Xuân Thắng, Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đối với
tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội,
Hà Nội, năm 2007.
Và nhiều công trình nghiên cứu trên các sách báo tạp chí khác.
Trong khuôn khổ của một khóa luận tốt nghiệp cử nhân Triết học, tác
giả kế thừa những thành tựu trên của các nhà nghiên cứu, trên cơ sở đó để hệ
thống hóa thành lý luận phục vụ cho sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân tố con người, và
việc phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp đổi mới đất nước, hội nhập
kinh tế quốc tế ở nước ta hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài không đề cập đến toàn bộ nội dung tư tưởng
Hồ Chí Minh, mà chỉ đề cập đến một số nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh liên
quan đến vấn đề con người trên góc độ triết học, để từ đó vận dụng vào việc
phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp đổi mới đất nước, hội nhập kinh
tế quốc tế ở nước ta hiện nay.
1.1.1.1 Cơ sở khách quan.
Về nguồn gốc thực tiễn.
Bối cảnh lịch sử Việt Nam.
Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Việt Nam vẫn là xã hội phong kiến,
với nền nông nghiệp lạc hậu, chính quyền triều Nguyễn từng bước khuất
phục trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp, đã lần lượt ký kết các hiệp ước
đầu hàng thừa nhận sự bảo hộ của thực dân Pháp trên toàn cõi Đông Dương.
Các cuộc khởi nghĩa vũ trang dưới khẩu hiệu “Cần Vương” do các sĩ
phu văn thân lãnh đạo diễn ra vào cuối thế kỷ XIX cũng hoàn toàn thất bại.
Hệ tư tưởng phong kiến đã tỏ ra lỗi thời trước các nhiệm vụ lịch sử. Bước
sang đầu thế kỷ XX cuộc khai thác của thực dân Pháp khiến xã hội nước ta có
nhiều biến đổi và phân hóa sâu sắc, bắt đầu xuất hiện giai cấp công nhân,
tầng lớp tiểu tư sản và tư sản dân tộc. Cùng lúc đó các “Tân thư”, “Tân văn”,
“Tân báo” và những ảnh hưởng của trào lưu cải cách ở Nhật Bản, Trung
Quốc tràn vào Việt Nam làm cho phong trào yêu nước của nhân dân ta
chuyển dần sang xu hướng dân chủ tư sản. Các sĩ phu nho học có tư tưởng
tiến bộ tức thời, có lòng yêu nước như: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh…Đã
phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc, họ tổ chức và vận động cuộc
đấu tranh chống Pháp theo phương pháp mới. Song chủ trương cầu ngoại
viện dùng bạo lực để khôi phục độc lập của Phan Bội Châu và chủ trương “ỷ
Pháp cầu tiến bộ” khai thông dân trí, nâng cao dân khí trên cơ sở đó mà lần
tính chuyện giải phóng của Phan Chu Trinh đều bị thất bại. Con đường khởi
nghĩa của anh hùng Hoàng Hoa Thám thì mang nặng cốt cách phong kiến…
Các cuộc khởi nghĩa đó chưa phải là lối thoát rõ ràng, chưa phải là hướng đi
đún đắn. Tất cả sự việc ấy của dân tộc, tất cả những hoàn cảnh bế tắc ấy của
dân tộc đã tác động sâu sắc tới tư tưởng và sự nghiệp cách mạng của Nguyễn
Ái Quốc.
Bối cảnh quốc tế.
Trong lúc, ở Việt Nam đang bế tắc về con đường cứu nước giải phóng
dân tộc, xã hội Việt Nam là một xã hội nữa phong kiến, thuộc địa thì trên thế
Nghệ Tĩnh là nơi sinh ra Hồ Chí Minh, là vùng đất giàu truyền thống
yêu nước chống giặc ngoại xâm, là quê hương của nhiều anh hùng nổi tiếng
trong lịch sử nước nhà cho đến các lãnh tụ yêu nước cận đại. Làng Kim Liên
làng quê đã hun đúc nên con người Hồ Chí Minh, cũng đã thấm máu bao anh
hung liệt sĩ, cả chị và anh của Người cũng đều tham gia hoạt động yêu nước.
Từ nhỏ Người đã chứng kiến cuộc sống nghèo khổ bị bót lột, bị đàn áp dã
man ngay trên quê hương của mình. Những năm ở Huế, Người đã tận mắt
thấy tội ác của thực dân và thái độ ươn hèn bạc nhược của Triều đình phong
kiến nhà Nguyễn.
Tất cả điều đó đã chuẩn bị cho Người về nhiều mặt và thôi thúc Người
ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, giải phóng con người.
Về giá trị truyền thống dân tộc.
Trong truyền thống lịch sử dân tộc Việt Nam, nhân dân ta đã nhận thức
đúng về nhân tố con người trong sự phát triển của đất nước. Nhìn từ các triều
đại phong kiến đã cho thấy “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. Thực tiễn
lịch sử đã cho thấy “Hiền tài + minh quân thì đất nước quốc gia sẽ thịnh
vượng”. Còn lúc nào mà hôn quân + bạo chúa thì đất nước sẽ lụi bại.
Một dân tộc Việt Nam trong hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ
nước đã hình thành nên những giá trị truyền thống hết sức phong phú, đặc sắc
và cao quý mang đậm nét riêng của dân tộc Việt Nam. Những truyền thống
quý báu ấy đã góp phần hun đúc nên con người Hồ Chí Minh.
, chủ nghĩa yêu nước và ý chí bất khuất đấu tranh để dựng
nước và giữ nước. Chủ nghĩa yêu nước là dòng lưu chính, là huyết mạch chảy
xuyên suốt trường k‚ lịch sử dân tộc Việt Nam. “Chủ nghĩa yêu nước truyền
thống là tư tưởng tình cảm cao quý thiêng liêng nhất, là cội nguồn của trí tuệ
sáng tạo và lòng dũng cảm của người Việt Nam, đó cũng là chuẩn mực đạo
đức cơ bản của dân tộc” [2;28]. Chính sức mạnh của lòng yêu nước đó đã
thôi thúc Người ra đi tìm đường cứu nước, tìm kiếm những gì hữu ích cho
dân tộc.
, tinh thần nhân nghĩa, truyền thống đoàn kết, tương thân,
thân dưỡng tính, nó đề cao văn hóa lễ giáo, tạo ra truyền thống hiếu học.
Ngoài ra Hồ Chí Minh còn biết chắc lọc những tinh túy trong các học thuyết,
tư tưởng triết học của các đại biểu, trường phái khác như: Lão Tử, Mạnh Tử,
Quản Tử…v.v.
Về tư tưởng Phật giáo: Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng của văn hóa truyền
thống là đã bao hàm cả ảnh hưởng của Phật giáo, những mặt tích cực của
Phật giáo đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong tư duy, hành động ứng xử của
con người Việt Nam đó là: Tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái cứu khổ cứu nạn,
thương người như thể thương thân, một tình yêu bao la đến cả chim muông
cây cỏ; là nếp sống có đạo đức trong sạch, giản dị, chăm lo điều thiện; là tinh
thần bình đẳng, tinh thần dân chủ chất phát chống lại mọi phân biệt đẳng cấp;
là việc đề cao lao động, chống lười biếng “nhất nhật bất tác, nhất nhật bất
thực”; là chủ trương sống không xa lánh việc đời mà gắn bó với dân, với
nước, tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh chống kẻ thù dân tộc. Đặc biệt là
tư tưởng Vô Ngã, Vô Thường trong triết lý của nhà Phật đã được Hồ Chí
Minh kế thừa tiếp thu có chọn lọc những giá trị tích cực. Những mặt tích cực
trên của Phật giáo đã đi vào đời sống tinh thần dân tộc và nhân lao động. Gia
đình Bác là một gia đình nhà nho nghèo, gần gũi với nhân dân lao động nên
cũng thấm nhuần tinh thần đó của nhà Phật và đã để lại dấu ấn sâu sắc trong
tư tưởng Hồ Chí Minh.
Sau khi đã trở thành người mácxít, Người tiếp tục tìm hiểu về chủ nghĩa
Tam Dân của Tôn Trung Sơn (nhà cách mạng tư sản Trung Quốc), Người đã
tìm thấy trong đó những điều thích hợp với điều kiện nước ta, các tiêu chí của
chủ nghĩa Tam Dân là: Dân tộc - độc lập, Dân quyền - tự do, Dân sinh - hạnh
phúc đã được Hồ chí Minh rút gọn trong khẩu hiệu của Việt Nam đó là “ Độc
lập - Tự do - Hạnh phúc”.
Về tư tưởng văn hóa phương Tây.
Trong 30 năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Hồ Chí Minh sống
chủ yếu ở châu Âu nên Người cũng chịu ảnh hưởng rất sâu rộng của nền văn
hóa dân chủ và cách mạng phương Tây. Người sớm làm quen và tìm hiểu các
tương lai của nhân loại. Nó phải biến thành sức mạnh to lớn để phá tan chế
độ áp bức bóc lột…” [14;120] chính Người là hiện thân của lòng nhân ái và
đức hi sinh cao cả của dân tộc Việt Nam.
Những giá trị truyền thống của phương Đông đã được Hồ Chí Minh kết
hợp với những giá trị hiện đại của tư tưởng phương Tây, tạo nên những giá trị
mới sâu sắc và mang tính khoa học, và được Người vận dụng một cách tài
tình trong công cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của dân tộc cũng như
trong cuộc sống thường nhật của mình, “Lúc đấu tranh Người có thể viết văn
Anh, văn Pháp sắc sảo như một nhà báo phương Tây thực thụ, nhưng khi có
nhu cầu “tự bạch” thì Người lại làm thơ bằng chữ Hán. Chính điều đó làm
nên nét đặc sắc ở Hồ Chí Minh, một con người tượng trưng cho sự kết hợp
hài hòa văn hóa Đông Tây” [10;32, 33].
Chủ nghĩa Mác - Lênin.
Chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và quan điểm về con người của chủ
nghĩa Mác - Lênin nói riêng, giữ vai trò về mặt thế giới quan và phương pháp
luận đối với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân tố con người,
“Chủ nghĩa Mác - Lênin thực chất là học thuyết về giải phóng con người và
xã hội loài người. Vấn đề con người là nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác -
Lênin nói chung, triết học Mác - Lênin nói riêng” [11;603]. “Chủ nghĩa Mác
- Lênin nói chung, triết học Mác - Lênin nói riêng xem vấn đề con người là
trung tâm của mọi khoa học xã hội và nhân văn. Chủ nghĩa Mác - Lênin ra
đời xuất phát từ con người và mục đích cuối cùng của nó là soi sáng sự
nghiệp giải phóng cho mỗi con người và cho cả loài người” [11;604].
Ra đi tìm đường cứu nước ở tuổi đôi mươi Hồ Chí Minh đã được dân
tộc, quê hương và gia đình trang bị cho một vốn học thức chắc chắn, một
năng lực trí tuệ sắc sảo và một ý chí mãnh liệt, chính điều này đã hướng
Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin như một sự hiển nhiên, Hồ Chí Minh
đến với chủ nghĩa Mác - Lênin được nói đến như một “cuộc hẹn hò lịch sử”,
“sự bắt gặp”, “sự tìm thấy” những chân lý thời đại. Quá trình đó diễn ra một
cách chân thành và giản dị, điều này được Người cắt nghĩa trong bài: Con
sản suất ra của cải vật chất, là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội.
, quần chúng nhân dân là động lực cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã
hội. , quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra những giá trị văn hóa
tinh thần. Trên cơ sở lập trường, quan điểm và phương pháp duy vật biện
chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh vận dụng vào giải quyết
những vấn đề trong thực tiễn cách mạng Việt Nam, chứ Người không đi tìm
những kết luận có sẵn trong sách vở.
Từ đây nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân tố con người được hình
thành, bổ sung và hoàn thiện trên nền tảng cơ sở khách quan như trên và dựa
trên bối cảnh thực tiễn của cách mạng Việt Nam, đồng thời còn kết hợp với
nhân tố chủ quan con người Hồ Chí Minh.
1.1.1.2 Nhân tố chủ quan.
Bằng thực tiễn hoạt động cách mạng và nghiên cứu lý luận Người tìm
thấy con đường chân chính cho sự nghiệp cứu nước và giải phóng các dân tộc
thuộc địa. Qua đó chúng ta thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh là người có tư duy
độc lập, tự chủ, sáng tạo cộng với đầu óc phê phán tinh tường, sáng suốt
trong việc tìm hiểu các cuộc cách mạng tư sản hiện đại, không để bị đánh lừa
bởi hào nhoáng bên ngoài. Có sự khổ công học tập chiếm lĩnh vốn tri thức
phong phú của thời đại, vốn kinh nghiệm đấu tranh của các phong trào giải
phóng dân tộc, phong trào công nhân quốc tế, tiếp cận và nghiên cứu sâu sắc
chủ nghĩa Mác - Lênin khoa học về cách mạng của giai cấp vô sản quốc tế.
Có tâm hồn của một nhà yêu nước chân chính, một chiến sĩ cộng sản nhiệt
thành cách mạng. Có trái tim yêu nước thương dân, sẵn sàng chịu dựng hi
sinh vì độc lập tự do của tổ quốc, hạnh phúc của đồng bào. Có bản lĩnh luôn
kiên định vững vàng, luôn tin vào nhân dân, khiêm tốn, bình dị, ham học hỏi,
nhạy bén với cái mới. Có phương pháp biện chứng. Có đầu óc thực tiễn.
Chính những phẩm chất cá nhân hiếm có đó, cùng với những đặc điểm
khách quan như trên, nhân tố chủ quan con người Hồ Chí Minh là yếu tố
quyết định hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề con người và
nhân tố con người, đó là tư tưởng cốt lõi trong toàn bộ tư tưởng Hồ Chí
việc đối với con người».
Khi được soi sáng bằng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan niệm
về nhân tố con người của Hồ Chí Minh đã vượt lên tư duy của các bậc nho sĩ,
đó là «Con người được quy định bởi hoàn cảnh sống của họ, do họ tạo ra
trong thực tiễn: Cho nên việc giải quyết mọi việc xã hội của con người là
phải đặt trong mối quan hệ con người với hoàn cảnh đó mà phát huy tính tự
giác, năng động của con người giải quyết. Mọi việc tu dưỡng đạo đức cá nhân
cũng như đấu tranh giành lại chủ quyền và quản lý đất nước đều không đặt
trong mối quan hệ với lực lượng siêu nhiên hoặc phụ thuộc tuyệt đối vào tự
nhiên»[42;111]. Theo Hồ Chí Minh muốn thành công phải có ba điều kiện:
Thiên thời, địa lợi, nhân hòa trong đó nhân hòa là quan trọng hơn hết. Tầm
cao giá trị tư tưởng của Người là "#$%&'()&.
Nhưng không phải là từ sự ban ơn của kẻ bề trên như «Trời» hoặc những vĩ
nhân xuất chúng ra tay cứu độ, mà phải xuất phát từ lòng tin vào khả năng
của con người, phát huy mọi tiềm năng của con người tự giải phóng cho
mình, bởi «một lẽ rất giản đơn, dễ hiểu: Tức là vô luận việc gì, đều do người
làm ra, và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa đều thế cả» [29;241].
Với thế giới quan mácxít, tuân thủ quyết định luận duy vật, Chủ tịch Hồ
Chí Minh ý thức sâu sắc về sự tương tác biện chứng giữa con người và hoàn
cảnh sống của chính bản thân con người tạo ra trong quá trình phát triển lịch
sử. Người quan niệm sự tự giải phóng này không phải là một hành vi duy ý
chí, hành động bất chấp quy luật khách quan mà là sức mạnh cải tạo thế giới
của con người, cụ thể là cải tạo hoàn cảnh sống của bản thân mình ở mỗi
không gian thời gian nhất định, nhằm nâng cao chất lượng sống trên cơ sở
nhận thức và hành động phù hợp với quy luật khách quan.
Trong khuôn khổ của quyết định luận duy vật mácxít, trong tư tưởng
Hồ Chí Minh nhân tố con người trong đặc thù triết lý dân tộc Việt Nam trở
thành chủ thể của lịch sử, có nội lực và tiềm năng to lớn làm chủ cuộc sống
của mình. Sức mạnh của con người có được là nhờ nhận thức được tính tất
yếu của lịch sử vào hành động phù hợp với quy luật khách quan tất yếu đó.
tổng hợp giành thắng lợi trong đấu tranh xã hội cũng như trong chiến thắng
thiên nhiên. Điều này được thể hiện trong khẩu hiệu “toàn diện kháng chiến”,
tức là không chỉ có ý nghĩa đánh địch trên mọi mặt trận mà còn mang ý nghĩa
hợp lực của mọi mặt trận lại để tạo nên sức mạnh, và con người là nhân tố tạo
nên sức mạnh tổng hợp đó, chính tính tích cực chủ động của con người nắm
bắt và giải quyết những vấn đề mâu thuẫn, khó khăn, trở ngại Phát huy
những thuận lợi, vận dụng phát huy sức mạnh, bổ sung cho nhau của các yếu
tố tạo ra sự thống nhất cao độ, làm nên sức mạnh tích hợp to lớn.
Nhân tố con người có vai trò quyết định trong tiến trình tất yếu lịch sử.
Với quan niệm đó Hồ Chí Minh thường xuyên chăm lo bồi dưỡng, tổ chức
giáo dục con người. Trong lãnh đạo cách mạng, Người vì con người và phát
huy con người, coi mọi việc đều phải lấy dân làm gốc, chăm lo bồi dưỡng sức
dân về đời sống vật chất và đời sống tinh thần, đồng thời quan tâm đến việc
quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng cho mọi tầng lớp nhân dân, qua đó
động viên nhân dân thực hiện, giáo dục, bồi dưỡng con người trong thực tiễn
cách mạng. Người dạy: Để giành thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ
này, cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực
lượng vĩ đại của toàn dân.
Trong quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò con người, về sức
mạnh con người không phải chủ yếu nói về từng con người riêng lẻ, mà theo
tư tưởng của C.Mác xuất phát từ những cá nhân ở trong khuôn khổ những
điều kiện và quan hệ lịch sử nhất định chứ không xuất phát từ những cá nhân
thuần túy. Khi Hồ Chí Minh nói “vô luận việc gì đều do con người làm ra, từ
nhỏ đến to, từ gần đến xa đều thế cả” là Người muốn nói đến cộng đồng
người, cộng đồng dân tộc, cộng đồng giai cấp. Niềm tin của Hồ Chí Minh
vào con người chủ yếu trước hết ở sức mạnh cộng đồng nhân dân, ở sự tập
hợp đông đảo mọi thành phần dân tộc, mọi tầng lớp xã hội, mọi giai cấp vào
thực hiện các mục tiêu cách mạng. Tuy Hồ Chí Minh rất coi trọng nhân tài,
nhưng đó phải là những người gắn bó với nhân dân chứ không theo quan
niệm tôn vinh các hiền nhân, quân tử biệt lập với nhân dân.
của dân tộc về vai trò của con người trong sự nghiệp cứu quốc, với xuất phát
trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng và cá
nhân trong lịch sử, cho nên trong khi khẳng định mục tiêu của cách mạng là
giải phóng con người mang lại tự do, hạnh phúc cho con người, Hồ Chí Minh
cũng đồng thời khẳng định sự nghiệp giải phóng là do chính bản thân con
người thực hiện. Vì vậy, Hồ Chí Minh luôn coi con người vừa là mục tiêu,
vừa là động lực của cách mạng. Tư tưởng đó được thể hiện rõ trong lý luận
của người về cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ
nghĩa. Người nói: “tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao
cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai
cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” [21;161]. Từ nhận thức “tất
cả những người lao động trên thế giới đều có một mục đích chung là thoát
khỏi ách áp bức, bóc lột, được sống sung sướng tự do ” [31;209]. Hồ Chí
Minh quan niệm cuộc sống của nhân dân là mục tiêu của mọi hành động cách
mạng. Người làm hết sức để xây dựng, rèn luyện con người, quyết tâm đấu
tranh để đem lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho mọi người. Người xác định
con người là mục tiêu trong điều kiện cụ thể của từng giai đoạn cách mạng.
Khi đất nước còn bị nộ lê, lầm than thì mục tiêu trước hết là giải phóng dân
tộc, giành độc lập dân tộc. Sau khi chính quyền đã về tay nhân dân thì mục
tiêu ăn, ở, đi lại, học hành, chữa bệnh lại được ưu tiên hơn bởi vì “nếu nước
có độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có
nghĩa lý gì” [21;56]. “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết
đói, chết rét thì tự do độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự
do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ” [21;152]. Vì vậy, “chúng ta
phải thực hiện ngay: Làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có
chỗ ở, làm cho dân có học hành” [21;152]. Người luôn căn dặn “chính sách
của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân
dân” nên dân đói, dân dốt là Đảng có lỗi. Ngay trong Di chúc Người cũng
căn dặn “đầu tiên là công việc đối với con người”.
Theo Hồ Chí Minh con người là mục tiêu của cách mạng, nên mọi chủ
Từ những bài viết đầu tiên sau khi trở thành người Cộng sản, Hồ Chí
Minh đã khẳng định chính sự áp bức của đế quốc, thực dân sẽ thúc đẩy và
buộc nhân dân các thuộc địa và nhân dân Việt Nam nổi dậy giành quyền
sống. Sự đầu độc về tinh thần không thể làm tê liệt sức sống, càng không thể
làm tê liệt khát vọng giải phóng của họ. Từ rất sớm Hồ Chí Minh đã thấy ở
nhân dân bị áp bức, bóc lột, gầy còm xơ xác ấy cái sức mạnh lấp biển, vá trời,
đã thấy ở những người bị đầu độc, bị thất học ấy cái trí tuệ lớn lao. Người đã
chỉ ra rằng “đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái
gì đó đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ
đến”[18;28].
Lòng tin của Hồ Chí Minh đối với con người, đối với nhân dân ta dựa
trên sự hiểu biết sâu sắc truyền thống lịch sử của dân tộc và con người Việt
Nam: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu
của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi
nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự
nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”
[23;171]. Và trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, phát huy vai trò và sứ mệnh
lịch sử của giai cấp công nhân nước ta, Hồ Chí Minh đã bổ sung và tạo thành
nền tảng vững chắc cho lòng tin của Người đối với vai trò và sức mạnh to lớn
của nhân dân.
Từ những năm đầu thập kỉ 20 của thế kỉ XX, giai cấp công nhân Việt
Nam vừa “thoát thai” từ đồng ruộng, đang còn ở giai đoạn phát triển “tự nó”
đang còn rất non yếu. Nhưng khi nghe được tin 600 thợ nhuộm Chợ Lớn
quyết định bãi công, Người đã coi đó là dấu hiệu chứng tỏ “giai cấp công
nhân Việt Nam cũng bắt đầu giác ngộ về lực lượng và giá trị của mình”
[19;114], và tin tưởng rằng, cùng với dân tộc, giai cấp công nhân Việt Nam
sẽ đào huyệt chôn chủ nghĩa đế quốc tại Việt Nam. Đây là một sáng tạo hết
sức quan trọng của Hồ Chí Minh.
Trong sự nghiệp xây dựng đất nước, Hồ Chí Minh nhận rõ “muốn xây
chủ nghĩa xã hội, trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa”, “có dân thì
trọng.
Hồ Chí Minh suốt đời tự mình tiến hành và tổ chức một sự nghiệp tuyên
truyền, giáo dục sâu rộng thường xuyên giúp cho con người phát huy bản
chất tốt đẹp, khắc phục khuyết điểm, nhược điểm, không ngừng hoàn thiện,
tự nâng cao xứng đáng là thành viên của nhân dân vĩ đại, đủ sức hoàn thành
tốt các nhiệm vụ mà thực tiễn cách mạng giải phóng dân tộc đòi hỏi. Hồ Chí
Minh hiểu sâu sắc và tin tưởng vững chắc rằng, sức mạnh của nhân dân được
thức tỉnh và được tổ chức là vô địch.
Con người là động lực của cách mạng được nhìn nhận trên phạm vi cả
nước, toàn thể đồng bào, song trước hết là ở giai cấp công nhân và nông dân.
Điều này có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng
chủ nghĩa xã hội. Nhà nước mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh lấy công - nông
- trí làm nền tảng. Từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, phải nhìn
nhận và đánh giá đúng giai cấp đứng ở trung tâm của thời đại mới đó là giai
cấp công nhân, chỉ có giai cấp công nhân với những đặc điểm chung và riêng
của mình mới lãnh đạo được dân tộc đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản. Muốn
vậy, giai cấp công nhân phải liên minh với giai cấp nông dân và gắn bó với
dân tộc mới trở thành lực lượng hùng mạnh.
Hồ Chí Minh nhận thấy sức mạnh to lớn tự vươn lên giải phóng cho
mình của mỗi con người. Nhưng với Người không phải ai cũng là động lực
mà chỉ có những con người được giác ngộ, được tổ chức, những con người có
trí tuệ và bản lĩnh, văn hóa, đạo đức, được nuôi dưỡng trên nền truyền thống
lịch sử và văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam Mới là động lực
làm nên thành công của cách mạng.
Chính trị, văn hóa, tinh thần là động lực cơ bản trong con người động
lực. Con người là động lực chỉ có thể thực hiện được khi hoạt động có tổ
chức, có lãnh đạo. Vì vậy phải tăng cường giáo dục nhân dân, tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng.
Theo Hồ Chí Minh giữa con người - mục tiêu và con người - động lực có
mối quan hệ biện chứng với nhau. Càng chăm lo cho con người - mục tiêu tốt
thắng lợi, một cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Đông Dương: 1. Phải có tính chất
cuộc khởi nghĩa quần chúng chứ không phải một cuộc nổi loạn. Cuộc khởi
nghĩa phải được chuẩn bị trong quần chúng” [26;468, 469]. Người khẳng
định “Cách mệnh là việc chung của dân chúng chứ không phải việc một hai
người”[27;261, 262].
Trong Cách mạng Tháng Tám 1945 cũng như trong hai cuộc kháng
chiến chống Pháp và chống Mỹ, Hồ Chí Minh lấy nhân dân làm nguồn sức
mạnh. Quan điểm “Lấy dân làm gốc” xuyên suốt quá trình chỉ đạo chiến
tranh của người. “Có dân là có tất cả”, “Dễ trăm lần không dân cũng chịu,
khó vạn lần dân liệu cũng xong”.
Hồ Chí Minh đánh giá cao vai trò của quần chúng nhân dân trong khởi
nghĩa vũ trang. Người coi sức mạnh vĩ đại và năng lực sáng tạo vô tận của
quần chúng là then chốt bảo đảm thắng lợi. Người khẳng định: “Phải dựa vào
dân, dựa chắc vào dân thì kẻ địch không thể nào tiêu diệt được”, “Chúng ta
tin chắc vào tinh thần và lực lượng của quần chúng, của dân tộc”.
Mục đích cách mạng và chiến tranh chính nghĩa - vì độc lập tự do làm
cho khả năng tiến hành chiến tranh nhân dân trở thành hiện thực, làm cho
toàn dân tự giác tham gia kháng chiến.
Người chủ trương phát huy nỗ lực chủ quan của dân tộc, tránh tư tưởng
bị động trông chờ vào sự giúp đỡ bên ngoài. Tháng 8/1945, khi thời cơ cách
mạng xuất hiện, Người kêu gọi: “Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức
ta mà tự giải phóng cho ta” [28;554]. Người nói: Kháng chiến trường k‚ gian
khổ đồng thời phải tự lực cánh sinh. Trông vào sức mình, không được ỷ lại
ngồi mong chờ người khác. Tự lực cánh sinh cũng là một phương châm chiến
lược rất quan trọng, nhằm phát huy cao độ nguồn sức mạnh chủ quan, tránh
tư tưởng bị động trong chờ vào sự giúp đỡ bên ngoài. Mặc dù coi trọng sự
giúp đỡ của Quốc tế nhưng Hồ Chí Minh luôn đề cao sức mạnh bên trong,
phát huy đến mức cao nhất mọi nỗ lực của dân tộc, đề cao tinh thần tự chủ.
Hồ Chí Minh đã xây dựng nên lý luận về phương pháp khởi nghĩa toàn
dân và chiến tranh nhân dân. Phát huy và sử dụng sức mạnh toàn dân tộc, dựa