BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHẬN THỨC
VÀ VẬN DỤNG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
MÃ SỐ: CS.2010. 19.81
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
TS. NGUYỄN CHƯƠNG NHIẾP
TP. HỒ CHÍ MINH- NĂM 2011
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .......................................................................................................6
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI ............................................................................................. 6
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI...................................................................................... 8
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU......................................................................... 9
4. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................................................... 9
5. PHẠM VI NGHIÊN CỨU .......................................................................................................... 9
Chương 1: NGUỒN GỐC, ĐẶC ĐIỂM CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ
NHẬN THỨC VÀ VẬN DỤNG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT ........................11
1.1. Nguồn gốc của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận thức và vận dụng phép biện chứng
duy vật ............................................................................................................................................... 11
1.1.1. Những giá trị truyền thống của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại .................. 11
KẾT LUẬN .............................................................................................................55
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................57
HẦN PHỤ LỤC ......................................................................................................59
3
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
Tên đề tài: Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật
Mã số: CS. 2010. 19. 81
Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Chương Nhiếp
Tel: 0913692024
E-mail:
Cơ quan chủ trì đề tài : Khoa Giáo dục Chính trị - Trường Đại học Sư phạm Tp.HCM
Cơ quan và cá nhân phối hợp thực hiện : Không
Thời gian thực hiện: Từ tháng 4/ 2010 đến tháng 4/ 2011
1. Mục tiêu: Khảo sát và lý giải tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận thức và vận dụng phép
biện chứng duy vật
2. Nội dung chính:
-
Nguồn gốc và đặc điểm của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận thức và vận dụng phép
biên chứng duy vật.
-
Nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy
Coordinator:
Implementing Institution : Faculty of Education, HCM city University of Pedagogy
Cooperating Institution(s)
Duration: from April 2010 to April 2011
1. Objectives:
2. Main contents:
3. Results obtained: Science reported: “Thoughts of Ho Chi Minh on the cognition
and the application materialist dialectic”
5
PHẦN MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Phép biện chứng duy vật- bộ phận quan trọng cấu thành của triết học Mác- Lênin, là khoa
học về những quy luật chung nhất của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy,
là học thuyết về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất, triệt để nhất và không phiến diện, là
phương pháp luận chung nhất của nhận thức và thực tiễn, là sự thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn, giữa khoa học và cách mạng, giữa tính đảng và tính sáng tạo. Cùng với lý luận duy vật
biện chứng thì phép biện chứng duy vật là sự kết tinh của tư duy nhân loại và là giá trị bất hủ,
trường tồn của triết học Mác- Lênin.
Nghiên cứu phép biện chứng duy vật nói riêng, triết học Mác- Lênin nói chung chính là
nhằm lĩnh hội khoa học về những quy luật chung nhất của sự vận động và phát triển của tự
nhiên, xã hội và tư duy, là nhằm tiếp thu, nắm lấy phương pháp luận chung nhất của nhận thức
và thực tiễn để tránh những va vấp, sai lầm, nâng cao hiệu quả của thực tiễn. Tuy nhiên, nhiều
sinh viên, cán bộ, đảng viên trong khi tiếp xúc với di sản quý báu này, khi học tập, nghiên cứu
phép biện chứng duy vật, họ mới chỉ dừng lại ở câu chữ, theo kiểu học thuộc lòng mà không
Minh vẫn chưa được chúng ta quan tâm khai thác, chưa đầu tư nghiên cứu đúng mức để trước
hết, phục vụ cho việc dạy và học phép biện chứng duy vật của triết học Mác- Lênin, giúp nâng
cao chất lượng và hiệu quả của công tác này; mặt khác, giúp hướng dẫn cán bộ, đảng viên áp
dụng một cách đúng đắn và sáng tạo phép biện chứng duy vật vào thực tiễn xã hội Việt Nam,
trong khi đó, hiện nay việc nhận thức và vận dụng phép biện chứng vẫn còn nhiều hạn chế và
lệch lạc, việc dạy và học triết học Mác- Lênin trong các trường đại học vẫn còn nhiều yếu
kém, khuyết điểm. Đây là thiếu sót và cũng là trách nhiệm của những người làm công tác
nghiên cứu chúng ta. Trước tình hình đó, Ban Bí thư Trung ương Đảng ngày 27 tháng 3 năm
2003 đã chỉ thị: “Bước sang thế kỷ XXI, đất nước ta có cơ hội lớn, nhưng đang đứng trước
những thách thức không nhỏ, tình hình thế giới đang diễn biến phức tạp, khó lường. Để thực
hiện thắng lợi nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ phát triển mới, cần thấm nhuần
sâu sắc, vận dụng sáng tạo những nguyên lý và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh để giải quyết những vấn đề thực tiễn trong tất cả các lĩnh vực kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị,
trong đó việc tổ chức học tập tư tưởng Hồ Chí Minh là một nhiệm vụ mấu chốt của công tác tư
tưởng của Đảng, cần được toàn Đảng thực hiện chặt chẽ, có chất lượng, hiệu quả”.
7
Để thực hiện những yêu cầu đó đồng thời khắc phục những hạn chế, yếu kém trong việc
dạy và học triết học Mác- Lênin trong các trường đại học cũng như những lệch lạc, bất cập
trong việc vận dụng phép biện chứng duy vật hiện nay, việc nghiên cứu đề tài “Tư tưởng Hồ
Chí Minh về nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật” là hết sức cần thiết. Nó không
chỉ có ý nghĩa thời sự trong việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh mà còn
góp phần thiết thực trong việc giảng dạy và học tập môn Triết học, giúp cho người dạy và
người học thấy được thiên tài Hồ Chí Minh, học được ở Người phương pháp nhận thức và vận
dụng phép biện chứng duy vật trong những điều kiện lịch sử- cụ thể nhằm hiểu sâu sắc hơn,
vận dụng có hiệu quả hơn những nguyên lý triết học Mác- Lênin vào cuộc sống cũng như vào
sự nghiệp đổi mới hiện nay.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Mục đích nghiên cứu:
Làm rõ quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh về nhận thức và
vận dụng phép biện chứng duy vật.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
1.
Khảo sát, tập hợp tư liệu về nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật của
Hồ Chí Minh.
2.
Phân tích, xử lý, hệ thống hóa tư liệu về nhận thức và vận dụng phép biện chứng
duy vật của Hồ Chí Minh.
4. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở lý luận triết học Mác- Lênin và phương pháp luận biện chứng duy vật, tác giả
đã sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu: Lịch sử và logic, phân tích và tổng hợp…
5. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản hết sức đồ sộ, phong phú, bao gồm nhiều mảng, nhiều
lĩnh vực khác nhau, do yêu cầu về mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, công trình chỉ tập trung
9
khai thác di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật qua
yêu cầu chống chọi với thiên tai nghiệt ngã trong suốt chiều dài lịch sử. Trải qua hàng ngàn
năm bồi đắp, tôi luyện, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trở thành giá trị tinh thần và là tinh hoa
văn hóa của dân tộc.
11
Cùng với chủ nghĩa yêu nước và ý chí bất khuất, tự lực tự cường thì tinh thần đoàn kết, ý
thức cộng đồng được hình thành và củng cố trong quá trình dựng nước và giữ nước cũng trở
thành giá trị truyền thống tốt đẹp. Bên cạnh đó, những phẩm chất dũng cảm, cần cù, thông
minh, sáng tạo trong lao động, sản xuất, chiến đấu luôn tiếp biến những giá trị văn minh của
nhân loại đề bảo tồn dân tộc và phát triển đất nước.
Chính chủ nghĩa yêu nước, ý chí bất khuất, tự lực tự cường, tinh thần đoàn kết, ý thức
cộng đồng, đức tính dũng cảm, thông minh, cần cù, sáng tạo - những tinh hoa văn hóa truyền
thống tốt đẹp của dân tộc là cơ sở và cũng là bộ lọc để Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa MácLênin trong đó có phép biện chứng duy vật. Bởi thế, Hồ Chí Minh từng nói: “Lúc đầu chính
chủ nghĩa yêu nước chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi theo Lênin và Quốc tế thứ
ba”.
Những tinh hoa văn hóa truyền thống dân tộc mới chỉ là cơ sở, chứ chưa phải là động lực,
cái tạo nên động lực mạnh mẽ thôi thúc Hồ Chí Minh sớm rời bỏ quê hương, bôn ba nơi trời
Tây để tìm đường cứu nước, từ đó Người đến với chủ nghĩa Lênin, đến với phép biện chứng
duy vật chính là thực tiễn cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước vẫn là một quốc gia lạc hậu, trì
trệ. Chế độ phong kiến đã đến thời kỳ mục ruỗng, suy tàn, triều đình nhà Nguyễn ra tay áp bức,
bóc lột ngày một nặng nề. Song song với việc tăng cường áp bức, bóc lột, triều đình nhà
Nguyễn cũng thực thi một chính sách bảo thủ, cực đoan, cự tuyệt với mọi cải cách, đóng cửa
với bên ngoài. Chính chính sách bảo thủ, cực đoan của triều đình nhà Nguyễn đã làm cho đất
nước vốn đã lạc hậu, trì trệ lại càng trở nên lạc hậu, trì trệ hơn. Cự tuyệt đối với cải cách, với
mở cửa làm cho quốc gia càng thêm nghèo đói, thiếu tiềm lực vật chất để có thể đối phó với
địch họa, thiên tai vẫn thường xuyên rình rập. Tăng cường áp bức, bóc lột nhân dân làm cho
quần chúng nhân dân càng thêm bất bình, phẫn nộ, nên không tạo ra được sức mạnh đoàn kết
thôi thúc Hồ Chí Minh tìm đến nước Pháp và sau đó tìm đến với chủ nghĩa Lênin. Người nói:
“Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi theo
Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận
Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ
nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế
giới khỏi ách nô lệ”. [10,128] Bởi vì Hồ Chí Minh nhận thấy: “Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là
phương pháp làm việc biện chứng”.
13
Chính yêu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã thôi
thúc Hồ Chí Minh đi tìm con đường cứu nước, từ đó Người đã đến với chủ nghĩa Lênin và đến
với phép biện chứng duy vật.
1.1.2. Tiếp thu, kế thừa và phát triển phép biện chứng duy vật của C. Mác, Ph. Ăng
ghen và V.I. Lênin
Khi Hồ Chí Minh rời bỏ quê hương ra đi tìm đường cứu nước thì ở châu Âu, chủ nghĩa
Mác- Lênin nói chung và phép biện chứng duy vật nói riêng đã định hình. Phép biện chứng duy
vật do Mác- Ăng ghen xây dựng từ nửa cuối thế kỷ XIX trên cơ sở kế thừa một cách có phê
phán phép biện chứng duy tâm của Hê ghen và được Lênin bổ sung, phát triển vào đầu thế kỷ
XX. Phép biện chứng duy vật là học thuyết về sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và
tư duy, là phương pháp luận phổ biến của nhận thức và thực tiễn. Bởi thế, đến với phép biện
chứng duy vật, Người tìm thấy ở đó một “cẩm nang thần kỳ”, một “kim chỉ nam” cho hoạt
động cách mạng.
Đầu thế kỷ XX, khi mới lớn, chàng thanh niên đã được thừa hưởng vốn hiểu biết sâu rộng
từ bố, mẹ, từ gia đình khoa bảng, thừa hưởng nét văn hóa của vùng quê nổi tiếng “địa linh nhân
kiệt”, đặc biệt, Người đã tiếp thu được những tinh hoa văn hóa của một dân tộc giàu truyền
thống. Trong những tinh hoa văn hóa của vùng quê xứ Nghệ, của dân tộc Việt Nam mà Hồ Chí
Minh kế thừa có những tư tưởng biện chứng tự phát. Chỉ đến khi sang châu Âu, tiếp xúc với
quan, vốn có của sự vật, hiện tượng, bắt nguồn từ tính thống nhất vật chất của thế giới. Mối liên
hệ giữa các sự vật, hiện tượng chẳng những có tính khách quan mà còn có tính phổ biến và tính
đa dạng, phức tạp, nghĩa là mối liên hệ tồn tại khắp mọi lúc, mọi nơi, mọi sự vật, đồng thời mối
liên hệ cũng muôn hình, muôn vẻ, chúng khác nhau không chỉ ở vị trí, về đặc điểm, về bản
chất, chức năng… Chính vì mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại trong mối liên hệ phổ biến cho
nên quán triệt quan điểm toàn diện là nguyên tắc phương pháp luận chung nhất chỉ đạo hoạt
động nhận thức và thực tiễn của con người. Quan điểm toàn diện đối lập với cách nhìn thiển
cận, lối xem xét một chiều, phiến diện.
Khác với nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, nguyên lý về sự phát triển cho rằng mọi sự
vật, hiện tượng trong thế giới luôn luôn vận động, biến đổi không ngừng, trong quá trình đó,
phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật, hiện tượng. Vì vậy quán triệt quan điểm
phát triển là nguyên tắc phương pháp luận chung nhất của nhận thức và thực tiễn. Nguyên tắc
này đòi hỏi trong nhận thức và thực tiễn phải xem xét sự vật trong sự vận động, biến đổi và
15
phát triển của nó, phải nhận thức đúng cái mới và ủng hộ cái mới, đồng thời tư duy phải mềm
dẻo, linh hoạt, năng động.
Ngoài hai nguyên lý cơ bản, phép biện chứng duy vật còn bao gồm các quy luật cơ bản và
các quy luật không cơ bản. Trong đó, quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập (
còn gọi là quy luật mâu thuẫn) là hạt nhân của phép biện chứng. V.I. Lênin viết: “Có thể định
nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế là
nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và
sự phát triển thêm”. [13,240] Thông qua việc phản ánh quá trình đấu tranh giải quyết mâu
thuẫn ở bên trong sự vật, quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập vạch ra nguồn
gốc, động lực của sự phát triển. Chính vì vậy, quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối
lập đòi hỏi chúng ta phải nắm vững nguyên tắc mâu thuẫn trong nhận thức và thực tiễn mà yêu
cầu cơ bản của nguyên tắc này là phải nhận thức đúng đắn mâu thuẫn đồng thời phải có
phương pháp phân tích và giải quyết mâu thuẫn một cách khoa học, đúng đắn, linh hoạt và sáng
Mác- Lênin nhưng không hoàn toàn đồng nhất với phép biện chứng duy vật, mà là sự tổng hòa,
sự kết hợp giữa giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam, tinh hoa văn hóa nhân loại với phép
biện chứng duy vật và những phẩm chất, tài năng của Hồ Chí Minh, trên nền tảng của phép
biện chứng duy vật.
Như trên đã phân tích, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận thức và vận dụng phép biện chứng
duy vật là kết quả tất nhiên của lịch sử cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
đồng thời là sản phẩm của tài năng, của tư chất thông minh Hồ Chí Minh
1.1.3. Phẩm chất và tài năng của Hồ Chí Minh
Như trên đã nói, phép biện chứng duy vật được C. Mác và Ph. Ăngghen xây dựng từ giữa
thế kỷ XIX và trước Hồ Chí Minh đã có nhiều người ra đi tìm đường cứu nước, nhưng tại sao
chỉ có Hồ Chí Minh mới tiếp cận được với chủ nghĩa Mác- Lênin, mới nhận thức và vận dụng
phép biện chứng duy vật một cách có hệ thống? Có thể nói, ngoài những yếu tố, những điều
kiện khách quan như vừa trình bày ở trên (tinh hoa văn hóa dân tộc, hoàn cảnh Việt Nam đầu
thế kỷ XX, sự xuất hiện của chủ nghĩa Mác- Lênin, của phép biện chứng duy vật), tư tưởng về
nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật còn là kết quả tất yếu của những phẩm chất cá
nhân, của tài năng Hồ Chí Minh. Không có những phẩm chất cá nhân đặc biệt, không có tài
năng vượt trội của Hồ Chí Minh thì cũng không thể có tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung cũng
như tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật nói riêng.
17
Hồ Chí Minh ra đời trong một gia đình nhà Nho yêu nước, nơi một vùng quê nổi tiếng, có
truyền thống hiếu học. Thân phụ của ông là người người học rộng, đỗ đến phó bảng. Những
người đứng hàng phụ chấp của Hồ Chí Minh cũng đều là những chí sĩ uyên thâm về Nho học.
Bản thân Hồ Chí Minh hồi nhỏ được theo học chữ Hán, tuy không đỗ đạt cao nhưng cũng đạt
đến sự thuần thục nhất định. Người đến với Nho giáo nhưng không tự biến mình thành nhà
Nho, không phụ thuộc vào Nho giáo. Những cái gì hay của Nho giáo đã được lịch sử và thực
tiễn Việt Nam gạn lọc thì Hồ Chí Minh tiếp nhận và nâng cao, như tư tưởng dân là gốc nước
xúc với nhiều nền văn minh, nói và viết thông thạo nhiều thứ ngôn ngữ. Nhờ vậy, Người chiếm
lĩnh được những tri thức tiên tiến của thời đại, những kinh nghiệm phong phú của nhân loại,
đặc biệt là những kinh nghiệm đấu tranh trong phong trào công nhân quốc tế và phong trào giải
phóng dân tộc trên thế giới. Chính điều đó đã hun đúc nên một Hồ Chí Minh có tư duy độc lập,
tự chủ, sáng tạo cùng với óc phê phán tinh tường làm cho Người trở nên hết sức sáng suốt khi
tiếp nhận tinh hoa văn hóa của bốn phương, nhân loại.
Cùng với tư duy độc lập, sáng tạo, óc phê phán tinh tường, ở Hồ Chí Minh còn có một trái
tim nhân hậu, một tâm hồn nhạy cảm, một tình yêu bao la, yêu quê hương, yêu đất nước, yêu
con người.
Tất cả những điều đó đã làm nên một minh triết Hồ Chí Minh- cội nguồn của tư tưởng
Hồ Chí Minh nói chung trong đó có tư tưởng về nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy
vật.
1.2. Đặc điểm của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy
vật
Điều quan trọng nhất ở Hồ Chí Minh, cái làm nên nhân cách vĩ đại, nên nét riêng ở con
người Hồ Chí Minh là lời nói đi đôi với việc làm, nhận thức và thực tiễn là gắn bó khăng khít,
tư tưởng và hành động là luôn thống nhất với nhau. Chính điều đó đòi hỏi chúng ta khi nghiên
cứu tư tưởng Hồ Chí Minh không được tách rời với cuộc sống và hoạt động của Người. Phép
biện chứng duy vật qua lăng kính của Người không chỉ được bộc lộ qua lời nói mà còn qua
hành động, không chỉ thể hiện ở các bài viết, bài huấn luyện mà cả ở trong quá trình lãnh đạo
cách mạng, trong cuộc sống của Hồ Chí Minh. Với cách đặt vấn đề như vậy, tư tưởng Hồ Chí
Minh về nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật có các đặc điểm cơ bản: tính sáng tạo,
tính thiết thực và tính giản dị.
19
1.2.1. Tính sáng tạo
Biểu hiện rõ nhất, sinh động nhất của tính sáng tạo trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận
thức và vận dụng phép biện chứng duy vật nói riêng là chống giáo điều, chống rập khuôn, máy
huấn luyện phải luôn luôn đi sâu, đi sát, tìm hiểu tâm tư, nguyên vọng, tìm hiểu tình hình thực
tế của địa phương, trình độ hiểu biết của nhân dân, từ đó suy nghĩ tìm tòi, sáng tạo những hình
thức, những cách làm phù hợp, thiết thực. Tại hội nghị tuyên giáo miền núi, khi nói chuyện với
các cán bộ tuyên truyền, Bác tỏ ra rất am hiểu những thiếu sót của cán bộ, trong đó, thiếu sót
nặng nề nhất là bệnh giáo điều, không chịu suy nghĩ, thiếu sáng tạo. Vì vậy, Bác dặn: “ Công
tác tuyên truyền phải cụ thể, thiết thực. Tuyên truyền cái gì? Tuyên truyền cho ai? Tuyên
truyền để làm gì? Tuyên truyền cách thế nào? Đó là những vấn đề các chú phải tự hỏi, tự trả
lời… Ví dụ: Một tỉnh có đồng bào Thái, đồng bào Mèo, thì tuyên truyền huấn luyện đối với
đồng bào Thái khác, đồng bào Mèo khác, phải có sự thay đổi cho thích hợp. Bởi vì đời sống,
trình độ đồng bào Mèo và Thái khác nhau cho nên tuyên truyền huấn luyện phải khác”.[11,128]
Người phê phán một số cán bộ đảng viên được học phép biện chứng duy vật, tiếp thu chủ
nghĩa Mác, nhân danh chủ nghĩa Mác nhưng khi tiếp thu kinh nghiệm của người khác, của
nước khác thì lại giáo điều, máy móc đến mù quáng: “ Thấy người ta làm thế nào mình cũng
một mực bắt chước làm theo thế ấy. Thí dụ: nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra
khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho
đúng”. Bác khuyên cán bộ, đảng viên “phải biết khéo léo lợi dụng kinh nghiệm”.[5,272]
“Có hợp tác xã thì học Đại Phong một cách máy móc như thấy Đại Phong nuôi vịt có lãi,
thì hợp tác xã mình dù không có điều kiện cũng muốn nuôi vịt…” .[10,343]
Người cũng nhắc nhở rằng “ học Đại Phong phải học một cách sáng tạo”.[10,343]
Ngày 26 tháng 1 năm 1965 nhân cuộc nói chuyện với các cán bộ tại Hội nghị bồi dưỡng
chỉnh huấn do Trung ương triệu tập, mừng kỷ niệm đảng ta 35 tuổi, khi nói về sự thắng lợi của
Đảng và nhân dân ta, Hồ Chủ tịch khẳng định: “ Có thắng lợi vĩ đại ấy là vì:… Đảng ta đã biết
vận dụng chủ nghĩa Mác- Lênin vào hoàn cảnh nước ta một cách sáng tạo để nêu ra đường lối
chính sách đúng đắn, bảo đảm cho cách mạng phát triển thắng lợi”. [11,372]
21
Biểu hiện tập trung của tính sáng tạo trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận thức và vận
biện chứng duy vật thông qua lăng kính Hồ Chí Minh không còn là những nguyên lý trừu
tượng mà đã được Người cụ thể hóa thành phương pháp luận, thành những nguyên tắc chỉ đạo
cách mạng. Đối với Hồ Chí Minh, phép biện chứng duy vật được thể hiện thành suy nghĩ,
thành hành động của người lãnh tụ, thành công việc lãnh đạo cách mạng hàng ngày của mình.
Chẳng hạn, sau Cách mạng tháng Tám, khi chính quyền Cách mạng còn hết sức non trẻ, chúng
ta đã phải đối phó với “thù trong giặc ngoài”, nền độc lập của dân tộc bị đe dọa nghiêm trọng.
Trong tình hình đó, để đánh đuổi ngoại xâm, giữ gìn độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ,
Người vạch ra sách lược về ngoại giao hết sức đúng đắn nhưng lại vô cùng linh hoạt, mềm dẻo,
phù hợp với tình hình cụ thể, với từng thời điểm lịch sử, nhằm lợi dụng mâu thuẫn, phân hóa kẻ
thù, loại trừ từng bước các thế lực thù địch, tranh thủ thời gian, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ
của các tầng lớp nhân dân để củng cố và phát triển lực lượng. Người chấp nhận nhân nhượng
một phần yêu sách của quân Tưởng để tập trung đối phó với thực dân Pháp hiếu chiến, bằng
cách mở rộng thêm 70 ghế cho Việt Nam Quốc dân đảng và Việt Nam cách mạng đồng minh
hội vào quốc hội, không thông qua bầu cử. Ngay sau đó, Người lại tỏ ra quyết đoán khi ký
Hiệp định sơ bộ với Pháp (6-3-1946), tạm thời nhân nhượng với chúng để tập trung lực lượng,
nhanh chóng tống cổ quân Tưởng về nước. Chính sách lược sáng suốt, mềm dẻo, linh hoạt,
quyết đoán, tài tình của Hồ Chí Minh đã góp phần đưa cách mạng Việt Nam vượt qua thử thách
hiểm nguy trong thời điểm “nghìn cân treo sợi tóc” ấy. Những sách lược mềm dẻo, linh hoạt,
sáng suốt trên đây là biểu hiện cụ thể nhất, sinh động nhất của một bậc thầy về tính sáng tạo
trong việc nhận thức và vận dụng phép biện chứng duy vật. Ở Hồ Chí Minh, hai nguyên lý
của phép biện chứng duy vật đã được thể hiện thành những nguyên tắc phương pháp luận, ở
quan điểm phát triển, quan điểm lịch sử- cụ thể và được Người vận dụng một cách nhuần
nhuyễn, có hiệu quả trong thực tiễn cách mạng.
Người chống “bệnh cận thị”, đồng thời Người cũng chống biểu hiện tả khuynh và hữu
khuynh, Người yêu cầu phải toàn diện trong nhận thức và xử lý mọi công việc.
Người không coi mọi thứ là nhất thành bất biến, vì vậy Người luôn đấu tranh chống bệnh
bảo thủ, trì trệ, đồng thời luôn nhìn nhận và xử lý mọi việc theo quan điểm phát triển
Một biểu hiện quan trọng khác của tính sáng tạo trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận
phải là toàn thể nhân loại”. [1, 465]
24
Bác lưu ý những kẻ coi lý luận của Mác như một hệ thống xong xuôi hẳn và bất khả xâm
phạm, đồng thời nêu một tấm gương về tư duy phê phán: “Mác cho ta biết rằng sự tiến triển
của các xã hội trải qua ba giai đoạn: chế độ nô lệ, chế độ nông nô, chế độ tư bản; và trong mỗi
giai đoạn ấy, đấu tranh giai cấp có khác nhau. Chúng ta phải coi chừng! Các dân tộc Viễn Đông
có trải qua hai giai đoạn đầu không?”. [1, 465]
Người coi chủ nghĩa Mác là một hệ thống mở và luôn đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải thấy
rõ điều đó, đồng thời Người lưu ý rằng “Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch
sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không
thể có được”.[1,467]. Những “tư liệu mà Mác ở thời của mình không thể có được” đó là thực
tiễn lịch sử của các nước phương Đông, do vậy, Người yêu cầu “Xem xét lại chủ nghĩa Mác về
cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”.[1,467]
1.2.2. Tính thiết thực
Tính thiết thực trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận thức và vận dụng phép biện chứng
duy vật biểu hiện trước hết ở chỗ nhận thức gắn liền với vận dụng, nhận thức là để vận dụng.
Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác- Lênin nói chung và phép biện chứng duy vật nói
riêng không phải chỉ để giải quyết vấn đề nhận thức, càng không phải nhằm mục đích trở thành
nhà triết học, tiếp nối các nhà kinh điển của triết học Mác- Lênin. Mục đích cao nhất, quan
trọng nhất của Hồ Chí Minh khi đến với chủ nghĩa Mác- Lênin, không phải là do tính xốc nổi,
bồng bột của một chàng thanh niên mới lớn hay vì một lý do cá nhân nào khác mà chính là khát
khao tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc ra khỏi ách nô lệ, áp bức của thực dân
phong kiến đã thôi thúc Người rời bỏ quê hương, bôn ba khắp các nước phương Tây để cuối
cùng tìm đến với chủ nghĩa Mác- Lênin.
Tính thiết thực trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận thức và vận dụng phép biện chứng
duy vật thể hiện rõ nhất là ở chỗ, nhận thức một cách hết sức sâu sắc phép biện chứng của Mác,