ĐẠI HỌC QUỐC GIA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
******
NGUYỄN THỊ THỦY TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI VÀ
VẬN DỤNG VÀO VIỆC XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 602280
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Hoàng Chí Bảo Hà Nội - 2009
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
Chƣơng 1: NHỮNG QUAN NIỆM CƠ BẢN CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƢỜI
1.1 - Vấn đề con ngƣời trong hệ thống Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh
13
23
23
29
38
47 59 59
59
69
73
73
75
95
97
2
MỞ ĐẦU
1 - Tính cấp thiết của đề tài
Hồ Chí Minh là nhà mác xít sáng tạo lớn của cách mạng Việt Nam ở thế
đất nƣớc nhằm xây dựng thành công Chủ nghĩa xã hội, việc khai thác, sử dụng
và phát triển con ngƣời với tính cách là mục tiêu và động lực của phát triển đƣợc
Đảng và Nhà nƣớc ta đặc biệt coi trọng. Do đó, việc nghiên cứu tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh về con ngƣời không chỉ nhằm làm rõ những giá trị của di sản tƣ tƣởng quý
báu mà còn góp phần vào việc tìm ra biện pháp, giải pháp đúng đắn trong việc
xây dựng, phát triển và hoàn thiện con ngƣời mới xã hội chủ nghĩa. Đó là vấn đề
cấp thiết hiện nay trên cả phƣơng diện lý luận và thực tiễn.
2 - Tình hình nghiên cứu đề tài
Với tƣ cách là nền tảng tƣ tƣởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng,
Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh nói chung, tƣ tƣởng về con ngƣời nói riêng đã đƣợc
nhiều nhà khoa học trong và ngoài nƣớc nghiên cứu. Đặc biệt là sau Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VII (6/1991), lần đầu tiên ở nƣớc ta đã có một chƣơng
trình khoa học cấp Nhà nƣớc (mã số KX.02) nghiên cứu Tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh. Nhiều cuộc hội thảo khoa học về thân thế, sự nghiệp và tƣ tƣởng của
Ngƣời đã đƣợc tổ chức ở các cấp độ quốc gia và quốc tế.
Có thể nói, vấn đề con ngƣời đã có một lịch sử phát triển liên tục trong
lịch sử tƣ tƣởng Triết học. Triết học Mác - Lênin đã giải thích con ngƣời trên
cơ sở khoa học. Trƣớc sự phát triển của lịch sử, vấn đề con ngƣời cũng có
bƣớc phát triển mới. Từ những năm 80 của thế kỷ XX ở Liên xô và các nƣớc
xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã có những đổi mới nhận thức về con ngƣời thể
hiện trong công trình: "Con nguời - những ý kiến mới về một đề tài cũ", gồm 2
tập, Nxb Sự thật, 1987, do tập thể tác giả Liên xô và Cộng hòa Dân chủ Đức
(cũ) biên soạn. Ở nƣớc ta, Viện Triết học cũng đã có công trình: "Về vấn đề
xây dựng con người mới" do Giáo sƣ Phạm Nhƣ Cƣơng chủ biên, Nxb Khoa
học xã hội, 1978. Sau Đại hội toàn quốc lần thứ VII của Đảng các hƣớng
nghiên cứu mới về con ngƣời đã toàn diện và sâu sắc hơn. Có nhiều công
4
trình nghiên cứu tiêu biểu nhƣ: Giáo sƣ Vũ Khiêu: “Trồng cây và trồng
người”, Tạp chí Triết học, số 4/1990; Lê Văn Dƣơng: “Tư tưởng Hồ Chí
ngƣời xã hội chủ nghĩa, con ngƣời toàn diện trong công cuộc đổi mới và sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nƣớc ta hiện nay.
Nghiên cứu Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về con ngƣời và vận dụng vào giải
quyết các vấn đề chính trị xã hội vì mục tiêu phát triển con ngƣời, Giáo sƣ,
Tiến sỹ Hoàng Chí Bảo cũng đã có những công trình tiêu biểu nhƣ:
- Bước đầu tìm hiểu những luận đề triết học - xã hội về dân chủ và dân
chủ hoá ở nước ta, Tạp chí Triết học, 4/1990.
- Xác định quan niệm và hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, Báo chí và
tuyên truyền, 3/1995.
- Hồ Chí Minh, biểu tượng văn hoá làm người, Tạp chí Nghiên cứu lý
luận, 5/1995.
- Đổi mới ở Việt Nam. Một số vấn đề triết học về con người và xã hội,
Tạp chí Lịch sử Đảng, 10/1998.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề con người trong sách “Hồ Chí Minh -
anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hóa thế giới”, Nxb Văn nghệ
thành phố Hồ Chí Minh, 2002.
- Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh, Nxb lý luận Chính trị, 2005.
- Văn hoá và con người Việt Nam trong tiến trình Công nghiệp hoá, hiện
đại hoá theo Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, 2006.
- Dân chủ và dân chủ ở cơ sở nông thôn trong tiến trình đổi mới, Nxb
Chính trị Quốc gia, 2007.
Trong các công trình nêu trên Giáo sƣ, Tiến sĩ Hoàng Chí Bảo đã nghiên
cứu một số nội dung tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về con ngƣời nhƣ: sự thống nhất về
giáo dục và tự giáo dục, quan hệ giữa đạo đức và năng lực, vai trò của nêu
gƣơng đạo đức, vai trò và ý nghĩa của văn hóa, giáo dục đối với việc hình thành
nhân cách thế trẻ Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hóa… Tuy nhiên, việc
nghiên cứu, vận dụng Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh vào xây dựng con ngƣời mới xã
6
hội chủ nghĩa thì còn ít các công trình đề cập tới một cách trực tiếp và hệ thống.
Luận văn vận dụng các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tƣ tƣởng
Hồ Chí Minh, đƣờng lối, quan điểm, chính sách của Đảng và nhà nƣớc về con
ngƣời. Đồng thời luận văn cũng kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên
cứu của các nhà khoa học đi trƣớc có liên quan trực tiếp đến đề tài luận văn.
Cơ sở phƣơng pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin. Tác giả luận văn còn
sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu chuyên ngành Triết học nhƣ: phƣơng
pháp phân tích - tổng hợp, lôgic - lịch sử, phân tích, so sánh…
6 - Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
- Luận văn góp phần hệ thống hoá những nội dung cơ bản của Tƣ tƣởng
Hồ Chí Minh về con ngƣời .
- Luận chứng sự cần thiết, tầm quan trọng và những giải pháp để vận
dụng Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về con ngƣời vào việc xây dựng con ngƣời mới
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
7 - Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho
việc nghiên cứu và giảng dạy tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về con ngƣời và các lĩnh
vực khác có liên quan.
8 - Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 2 chƣơng, 4 tiết.
8
Chƣơng 1
NHỮNG QUAN NIỆM CƠ BẢN CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƢỜI
1.1 - Vấn đề con ngƣời trong hệ thống Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh
1.1.1 - Vị trí và vai trò của vấn đề con người trong hệ thống Tư tưởng Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh không bao giờ tự nhận mình là một nhà triết học và
Ngƣời cũng không có một tác phẩm nào bàn riêng về con ngƣời, nhƣng trong
những xúc cảm thẩm mỹ. Do đó, con ngƣời đối xử có tính ngƣời đối với tự
nhiên, đối với những ngƣời khác và đối với bản thân mình. Triết học Mácxít
coi con ngƣời vừa là mục tiêu vừa là động lực của quá trình phát triển. Mục
tiêu của quá trình phát triển xã hội là hƣớng vào việc đáp ứng nhằm thỏa mãn
các nhu cầu của con ngƣời xã hội nói chung, mỗi con ngƣời cá thể nói riêng.
Đồng thời, quá trình phát triển đó đạt tới sự tăng trƣởng và phát triển bền
vững lại do sức mạnh của chính con ngƣời, của tập thể những con ngƣời đó
trong đời sống cộng đồng. Mỗi con ngƣời không thụ động hƣởng sự phát triển
mà là chủ thể và động lực của quá trình phát triển.
Lý tƣởng của chủ nghĩa xã hội là giải phóng con ngƣời, nhằm đáp ứng
một cách hài hòa các nhu cầu của con ngƣời về đời sống vật chất, đời sống
tinh thần, nâng cao chất lƣợng tổng thể của đời sống, đồng thời thƣờng xuyên
giáo dục cho mỗi con ngƣời có đủ năng lực phẩm chất sáng tạo trong quá
trình phát triển xã hội.
Kế thừa và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch
Hồ Chí Minh trong cuộc đời mình, đã có những chỉ dẫn sâu sắc và những việc
làm thiết thực về con ngƣời. Đây là một di sản vô giá mà Ngƣời để lại cho đất
nƣớc và dân tộc. Sinh thời, những lời dạy của Ngƣời đã chỉ ra cho dân tộc ta
một đƣờng lối đúng đắn để giải phóng dân tộc, giải phóng con ngƣời, đem lại
độc lập cho dân tộc, tự do và hạnh phúc cho con ngƣời.
Hồ Chí Minh có một lý tƣởng và hoài bão mà Ngƣời gọi là sự ham
muốn, ham muốn đến tột bậc là làm sao cho Tổ quốc đƣợc hoàn toàn độc lập,
10
dân tộc đƣợc hoàn toàn tự do, đồng bào mình ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai
cũng đƣợc học hành. Ngay từ khi ra đi tìm đƣờng cứu nƣớc và trong suốt quá
trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Ngƣời luôn coi trọng và đặt công việc
đầu tiên là công việc với con ngƣời. Ngƣời từng nói: “Cả đời tôi chỉ có một
mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân”.
“Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích, làm cho
nƣớc. Ngày 30 - 5 - 1946, trƣớc khi sang Pháp với tƣ cách là thƣợng khách
của Chính phủ Pháp, Hồ Chí Minh đã nói chuyện với đồng bào Thủ đô,
Ngƣời khẳng định: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền
lợi tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi
non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo là vì mục đích đó”. [36;
tr.240]
Trong cuộc kháng chiến trƣờng kỳ, gian khổ chống thực dân Pháp của
cả dân tộc, Hồ Chí Minh vẫn kiên trì mục tiêu đã vạch ra, Ngƣời xác định
nhiệm vụ nội chính của Chính phủ kháng chiến trong thƣ gửi đồng bào và
kháng chiến Nam Bộ ngày 24/1/1947:
“Sau hết chƣơng trình nội chính của Chính phủ và của quân dân ta chỉ
có ba điều mà thôi:
a - Tăng gia sản xuất để làm cho dân ai cũng đủ mặc đủ ăn.
b - Mở mang giáo dục để cho ai nấy đều biết đọc biết viết.
c - Thực hành dân chủ để làm cho dân ta ai cũng đƣợc hƣởng quyền
dân chủ tự do”. [36; tr.30]
Vào cuối đời, trƣớc khi đi xa, trong Di chúc để lại, Ngƣời nhấn mạnh:
“Đầu tiên là công việc đối với con ngƣời”.
Ngƣời dặn dò chu đáo nhƣ sau: “Nhân dân lao động ta ở miền xuôi
cũng nhƣ miền núi đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị các chế độ phong kiến
và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh. Tuy vậy nhân
dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái cần cù. Từ ngày có Đảng nhân dân ta
luôn luôn đi theo Đảng.
12
Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế văn hóa, nhằm
không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”. [44; tr.511]
Ngƣời nhắc nhở Đảng và Chính phủ, mọi ngƣời phải tìm mọi cách giúp
đỡ cán bộ, binh sĩ, dân quân du kích, thanh niên xung phong, những ngƣời đã
dũng cảm hy sinh xƣơng máu để họ có nơi ăn, chốn ở yên ổn, mở những lớp
ra đời, một mặt là sự kế thừa những tƣ tƣởng, học thuyết trƣớc đó, mặt khác
là sự phản ánh quy luật vận động của hiện thực, đồng thời là kết quả hoạt
động nhận thức, sáng tạo của một con ngƣời gắn với phẩm chất, nhân cách cá
nhân, phản ánh ý chí, nguyện vọng của một giai cấp, một dân tộc trong một
thời đại nhất định. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về con ngƣời là kết quả của sự tích
hợp truyền thống văn hóa Việt Nam với những giá trị tƣ tƣởng về con ngƣời
của triết học phƣơng Đông, phƣơng Tây đặc biệt là triết học Mác - Lênin.
Hồ Chí Minh đề cao truyền thống yêu nƣớc, yêu độc lập tự do, coi đó là
giá trị cao nhất của con ngƣời. Yêu nƣớc là một truyền thống quý báu, đƣợc
hun đúc qua hàng ngàn năm đấu tranh kiên cƣờng, bất khuất, tự lực, tự cƣờng,
thông minh, sáng tạo, chống giặc ngoại xâm, bảo vệ độc lập của dân tộc và bảo
tồn nền văn hiến của đất nƣớc, chống mọi âm mƣu đồng hóa của ngoại bang.
Tinh thần yêu nƣớc đã trở thành đạo lý sống, niềm tự hào và là một
nhân tố hàng đầu trong bảng giá trị tinh thần của con ngƣời Việt Nam. Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã viết: Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nƣớc. Đó là một
truyền thống quý báu của ta. Từ xƣa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng,
thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to
lớn, nó lƣớt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nƣớc
và cƣớp nƣớc … Chúng ta có quyền tự hào vì những trang lịch sử vẻ vang
thời đại Bà Trƣng, Bà Triệu, Trần Hƣng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung … Chúng
ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu
của một dân tộc anh hùng.
Có thể nói chủ nghĩa yêu nƣớc là sợi chỉ đỏ xuyêt suốt các giá trị
truyền thống, là cội nguồn đời sống tinh thần của ngƣời Việt Nam. Nó thể
14
hiện ý thức về chủ quyền đất nƣớc, khẳng định cái chung về nòi giống, kinh
tế, tiếng nói, lãnh thổ, văn hóa, phong tục tập quán, đặt lợi ích dân tộc lên cao
nhất, coi dân tộc, nhân dân, quốc gia làm trọng. Truyền thống ấy đƣợc Hồ Chí
Minh nâng lên một tầm cao mới, yêu nƣớc là “Thà hy sinh tất cả chứ nhất
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Ngƣời đã đào tạo, dìu dắt nhiều thế hệ
lớp ngƣời tận trung với nƣớc, tận hiếu với dân, có đạo đức cách mạng, có lý
tƣởng cộng sản… là hình mẫu con ngƣời xã hội chủ nghĩa.
Bên cạnh truyền thống văn hóa Việt Nam, truyền thống quê hƣơng, xứ
sở, gia đình có ý nghĩa quan trọng đối với việc hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh nói chung và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về con ngƣời nói riêng.
Mảnh đất Nghệ Tĩnh - nơi sản sinh ra nhiều phong trào yêu nƣớc,
phong trào cách mạng chống xâm lƣợc, chống phong kiến nhƣ khởi nghĩa
Hƣơng Khê, nổi dậy của binh lính Đô Lƣơng, công nhân Bến Thủy, khởi
nghĩa Xô Viết Nghệ Tĩnh. Quê nghèo nuôi những anh hùng hào kiệt, danh
nhân, mảnh đất “địa linh nhân kiệt” đời này qua đời khác, Nghệ Tĩnh cũng là
quê hƣơng của nhiều nhà cách mạng tài ba, nhiều anh hùng và nhiều nhà văn
hóa lớn nhƣ Mai Thúc Loan, Nguyễn Biểu, Đặng Dung, Nguyễn Du, Nguyễn
Công Trứ, Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu…
Nguyễn Tất Thành sinh ra trong một gia đình nhà Nho yêu nƣớc gần
gũi với nhân dân, một gia đình giàu truyền thống cách mạng. Cha, anh, chị
đều là những ngƣời yêu nƣớc, tham gia các phong trào chống Pháp và đã bị tù
đầy, giam cầm. Cha của Nguyễn Tất Thành là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc,
một nhà Nho cấp tiến có tinh thần yêu nƣớc, thƣơng dân. Năm 1901, sau kỳ
thi Hội, đậu Phó bảng, năm 1906, cụ vào Huế nhận chức tri huyện Bình Khê.
Nhận chức chƣa đƣợc bao lâu, vốn có tƣ tƣởng, vì yêu nƣớc, thƣơng dân, luôn
lên tiếng bênh vực ngƣời dân thấp hèn nên cụ bị cách chức. Sau đó, cụ vào
Nam làm nghề bốc thuốc, chữa bệnh cho dân. Trong thời gian làm quan, cụ
luôn mang nặng một tâm tƣ “Quan trƣờng thị nô lệ, trung chi nô lệ, hựu nô
lệ” (làm quan là nô lệ, trong đám nô lệ lại càng nô lệ hơn). Khi sinh thời, cụ
Nguyễn Sinh Sắc cũng đã nhiều lần đƣa Nguyễn Tất Thành đi thăm các di
tích lịch sử của các phong trào yêu nƣớc, nơi diễn ra các cuộc khởi nghĩa
chống giặc ngoại xâm của các bậc tiền bối vừa đau thƣơng vừa hào hùng.
Hơn ai hết, lòng yêu nƣớc, thƣơng dân và tƣ tƣởng của cha đã ảnh hƣởng đến
Nguyễn Tất Thành nhiều hơn.
phẩm “Dân vận” (1949), Hồ Chí Minh viết: “Nƣớc ta là một nƣớc dân chủ:
bao nhiêu lợi ích là vì dân… Nói tóm lại, quyền hành và lực lƣợng đều ở nơi
dân” [37; tr.698]
17
Bên cạnh những nội dung tích cực nhất định, Nho giáo phản ánh tình
trạng xã hội phong kiến, phân biệt “quân tử” với “tiểu nhân”, coi thƣờng lao
động chân tay; đặc biệt coi khinh phụ nữ,… Trong khi tiếp thu, sử dụng
những yếu tố tích cực của Nho giáo, Hồ Chí Minh đã phê phán, loại bỏ những
yếu tố thủ cựu, tiêu cực của học thuyết này. Ngƣời đã chỉ rõ: “Đạo đức cũ và
đạo đức mới khác nhau nhiều. Đạo đức cũ nhƣ đầu ngƣợc xuống đất chân
chổng lên trời. Đạo đức mới nhƣ ngƣời hai chân đứng vững đƣợc dƣới đất,
đầu ngửng lên trời” [38; tr.320 - 321]. Và chính Ngƣời đã đảo lại thế đứng đó
nhƣ Mác - Ăngghen đã cải tạo phép biện chứng duy tâm của Hêghen, và đặt
lại phép biện chứng đó trên cái nền duy vật.
Đối với tƣ tƣởng triết học của Lão - Trang, Hồ Chí Minh đã kế thừa
học thuyết vô vi, nghĩa là con ngƣời sống, hoạt động theo lẽ tự nhiên, thuần
phác, không giả tạo, không gò ép trái với bản tính tự nhiên của mình. Điều
này đƣợc Hồ Chí Minh thể hiện rất rõ ràng trong phong cách, nếp sống, xử
thế, đó là sự chân thành, nhã nhặn, thân ái, tự nhiên. Theo Lão Tử, sống phải
từ ái, cần, kiệm, khiêm tốn, khoan dung. Điều đó đƣợc Hồ Chí Minh tiếp thu
và thể hiện trong cuộc sống đời thƣờng của Ngƣời. Đó là cuộc sống thanh tao,
thanh đạm, tự tại, hòa đồng với tự nhiên. Ngƣời khẳng định: “Tôi tuyệt nhiên
không ham muốn công danh phú quý chút nào… Riêng phần tôi thì làm một
cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nƣớc biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều
làm bạn với các cụ già, em nhỏ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh
lợi” [36; tr.161]
Ngoài Nho giáo, Lão giáo, Hồ Chí Minh còn tiếp thu những mặt tích
cực của Phật giáo, đó là: từ bi, hỉ xả, bình đẳng, cứu khổ, cứu nạn, khuyên
con ngƣời tu nhân, tích đức, tránh cái ác, trau dồi cái thiện.
thu hoạch bổ ích. Những tƣ tƣởng của bản Tuyên ngôn Nhân quyền và dân
quyền đã đƣợc Nguyễn Ái Quốc đi sâu nghiên cứu và phân tích rất thấu đáo.
Điều đó đã có ảnh hƣởng quan trọng tới sự hình thành tƣ tƣởng của Ngƣời sau
này, đặc biệt là tƣ tƣởng về tự do, dân chủ, về giải phóng con ngƣời khỏi mọi
áp bức và nô dịch.
Trong khi khẳng định những giá trị chân chính, những nhân tố tích cực,
tiến bộ của cách mạng dân chủ tƣ sản, nhất là tƣ tƣởng tự do - bình đẳng - bác
ái, tƣ tƣởng nhân văn, giải phóng con ngƣời khỏi thần quyền và thống trị của
19
những quan hệ Phong kiến, Nguyễn Ái Quốc cũng đồng thời phê phán những
hạn chế của nó. Ngƣời xem những cuộc Cách mạng Tƣ sản là những cuộc
cách mạng không đến đến nơi, không triệt để, “trong thì nó tƣớc lục công
nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”. Chính vì không thỏa mãn với con đƣờng
cách mạng tƣ sản, Ngƣời đã tìm đến chủ nghĩa Mác - Lênin.
Các tác gia kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin tuy không để lại
những tác phẩm chuyên nghiên cứu về con ngƣời, nhƣng ba bộ phận hợp
thành chủ nghĩa Mác: Triết học, Kinh tế chính trị học, Chủ nghĩa xã hội khoa
học đều xuất phát từ những vấn đề của con ngƣời và nhằm mục tiêu cuối cùng
là giải phóng con ngƣời. Tiếp thu có phê phán những tƣ tƣởng về con ngƣời
trong lịch sử Triết học, Mác - Ăngghen đã dần dần hoàn chỉnh những vấn đề
lý luận hết sức cơ bản, đặt cơ sở vững chắc cho một thế giới quan và phƣơng
pháp luận khoa học nghiên cứu vấn đề con ngƣời.
Học thuyết Mácxít về con ngƣời bao gồm nhiều nội dung, song, điểm
nổi bật nhất là giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con
người. Mác - Ăngghen đã đƣa ra hai quan niệm có tính chất điều kiện cho sự
giải phóng con ngƣời trong “Hệ tƣ tƣởng Đức” (1845 - 1846).
Một là, khẳng định tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội. Do đó, giải
phóng con ngƣời bắt đầu từ giải phóng các điều kiện của tồn tại xã hội, qua đó
giải phóng tinh thần, tƣ tƣởng con ngƣời. Các ông xuất phát từ những con
phóng giai cấp, đó chỉ có thể là con đƣờng cách mạng vô sản. Trong suốt quá
trình hoạt động cách mạng và lãnh đạo đất nƣớc, Hồ Chí Minh và những
ngƣời cộng sản chân chính ở Việt Nam đã tin tƣởng tuyệt đối vào vai trò của
quần chúng nhân dân, thƣờng xuyên giác ngộ, giáo dục và tổ chức quần
chúng nhân dân. Đó là nguồn sức mạnh vô cùng to lớn trong sự nghiệp giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con ngƣời.
Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên ở Việt Nam, một nƣớc phong kiến, nông
nghiệp lạc hậu, bị chủ nghĩa thực dân xâm lƣợc và nô dịch từ cuối thế XIX.
Việt Nam vốn là một dân tộc có truyền thống yêu nƣớc, đoàn kết, nhân ái, có
nền văn hiến lâu đời. Từ khi thực dân Pháp xâm lƣợc, phong trào đấu tranh
chống chủ nghĩa thực dân của các tầng lớp nhân dân diễn ra liên tục, sôi nổi
nhƣng con đƣờng cứu nƣớc đang bế tắc, chƣa có lối ra.
Thời đại Ngƣời lớn lên và hoạt động cũng là thời đại chủ nghĩa đế quốc
thực dân bành trƣớng mạnh mẽ, tranh cƣớp thuộc địa, thị trƣờng, dẫn đến hai
21
cuộc chiến tranh thế giới, tàn sát hàng trăm triệu ngƣời. Mâu thuẫn giữa giai
cấp vô sản với giai cấp tƣ sản càng mở rộng; mâu thuẫn giữa các nƣớc và tập
đoàn đế quốc với nhau càng phát triển; mâu thuẫn giữa nhân dân bị áp bức ở
các nƣớc thuộc địa, phụ thuộc với chủ nghĩa đế quốc, thực dân ngày càng gay
gắt. Từ sau thắng lợi của cách mạng tháng Mƣời Nga, đã xuất hiện mâu thuẫn
mới: mâu thuẫn giữa nƣớc xã hội chủ nghĩa đầu tiên với hệ thống tƣ bản chủ
nghĩa. Thế giới bƣớc vào thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tƣ bản
lên chủ nghĩa xã hội, thời đại của cách mạng vô sản, của phong trào giải
phóng dân tộc và phong trào đấu tranh cho hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã
hội.
Trong tác phẩm Đường Cách mệnh, sau khi phân tích cách mạng Mỹ,
cách mạng Pháp, cách mạng Nga, Ngƣời nhận thấy “chỉ có cách mạng Nga là
đã thành công, thành công đến nơi” và rút ra kết luận là phải học tập cách
mạng Nga: “Cách mệnh Nga đã dạy ta rằng muốn cách mệnh thành công thì
tác xã, bệnh viện, trƣờng học, đơn vị quân đội; tiếp xúc với nhiều tầng lớp
ngƣời: trí thức, công nhân, nông dân, chiến sỹ, cụ già, thanh niên, phụ nữ,
khách quốc tế; dấu chân Ngƣời đã để lại ở nhiều địa phƣơng, từ thành phố
đến nông thôn, từ đồng bằng đến trung du, từ miền núi đến hải đảo…
“Đặc điểm chủ yếu và cũng là một trong những giá trị chủ yếu của tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh về con ngƣời là sự thống nhất biện chứng giữa lý luận và
thực tiễn. Quá trình hình thành và phát triển tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về con
ngƣời là quá trình đi từ thực tiễn đến lý luận, từ lý luận đến thực tiễn. Tức là
lý luận hóa thực tiễn và thực tiễn hóa lý luận” [31; tr.51]. Trƣớc và sau khi
đến với học thuyết mácxít về con ngƣời, Hồ Chí Minh vẫn luôn tìm tòi, khảo
sát các học thuyết, tƣ tƣởng khác để làm phong phú thêm nhận thức của mình
và kết hợp nhuần nhuyễn trong hoạt động thực tiễn. Đó là một quá trình tiếp
thu, gạn lọc, bổ sung, phát triển gắn liền với nhu cầu thực tiễn cách mạng.
Tóm lại, nguồn gốc hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về con ngƣời bao
gồm nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan. Trong đó, nhân tố khách quan
đóng vai trò là điều kiện Cần, còn nhân tố chủ quan đóng vai trò là điều kiện
Đủ. Để có những kiến giải toàn diện và sâu sắc về con ngƣời, Hồ Chí Minh đã
kế thừa các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam nhƣ lòng yêu nƣớc, tinh
thần đoàn kết, lòng nhân ái, bao dung … cũng nhƣ các giá trị tinh hoa văn hóa
về con ngƣời của nhân loại. Đặc biệt lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về
con ngƣời, giải phóng con ngƣời và ánh sáng của cách mạng Tháng Mƣời
23
Nga và thời đại mới đã đem lại cho Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh nhận
thức sâu sắc hơn về con ngƣời, về vị trí và vai trò của con ngƣời trong sự
nghiệp cách mạng Việt Nam. Do đó, nhân tố khách quan đƣợc coi là điều kiện
Cần, là tiền đề, cơ sở của tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về con ngƣời.
Những giá trị tƣ tƣởng về con ngƣời của dân tộc và nhân loại muốn hợp
lƣu đƣợc phải thông qua yếu tố nội sinh, đó là tƣ duy kiệt xuất và sự cống
hiến toàn tâm, toàn lực vì con ngƣời Việt Nam của Hồ Chí Minh. Từ những
ngƣời chỉ có thể sinh tồn khi con ngƣời đƣợc đáp ứng những nhu cầu tối thiểu,
chính đáng nhƣ ăn, mặc, ở, học tập, việc làm và đƣợc khám chữa bệnh khi đau
ốm. Ngƣời đề cao trƣớc tiên việc đáp ứng nhu cầu vật chất cho con ngƣời: “Tục
ngữ có câu: Dân dĩ thực vi thiên, nghĩa là dân lấy ăn làm trời, nếu không có ăn là
không có trời. Lại có câu: có thực mới vực đƣợc đạo; nghĩa là không có ăn thì
chẳng làm đƣợc việc gì cả” [38; 572]. Vì vậy, trong cuộc đời hoạt động cách
mạng, Hồ Chí Minh luôn coi trọng và đề cao vấn đề đảm bảo đời sống vật chất
cho nhân dân.
Trong đƣờng lối lãnh đạo phong trào kháng Nhật cứu nƣớc, Hồ Chí
Minh và Trung ƣơng Đảng đã chủ trƣơng phá kho thóc của Nhật, cứu đói cho
dân. Ngƣời nói: “Dân chỉ biết giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân đƣợc
ăn no mặc đủ” [36; tr.152].
Sau ngày tuyên bố độc lập, Ngƣời đề ra những việc cần làm ngay. Trong
đó, việc trƣớc tiên có vai trò quan trọng hàng đầu là phát động tăng gia sản
xuất, thực hành tiết kiệm để giải quyết nạn đói, làm cho dân “ai cũng đủ mặc,
đủ ăn”.
Giải thích chủ nghĩa xã hội là gì, Ngƣời đã nêu rõ, chủ nghĩa xã hội “tất
cả mọi ngƣời, các dân tộc ngày càng ấm no, con cháu chúng ta ngày càng
sung sƣớng” [42; tr.317]. Điều đó cho thấy, Ngƣời rất quan tâm đến việc nâng
cao đời sống vật chất cho con ngƣời.
Sinh thời, với cƣơng vị là chủ tịch nƣớc, khi đi thăm các nhà máy, xí
nghiệp, bệnh viện, trƣờng học, Ngƣời bao giờ cũng đi thăm nhà bếp, khu nhà