LUẬN VĂN:
Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và vận
dụng trong hoàn thiện pháp luật cán bộ,
công chức ở Việt Nam hiện nay
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã được Đảng Cộng
sản và Nhà nước Việt Nam xác định là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành
động của mình trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. "Tư tưởng Hồ Chí
Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của
cách mạng Việt Nam" [11, tr.83], trong đó có vấn đề cán bộ. Hồ Chí Minh rất quan
bộ, công chức có đủ phẩm chất và năng lực gắn với chế độ hưởng thụ thỏa đáng và
công bằng" [22, tr.254]. Đặc biệt Bộ Chính trị khóa IX đã có Nghị quyết số 48-
NQ/TW ngày 24-5-2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật
Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến 2020; trong đó có chỉ ra "xây dựng và hoàn
thiện pháp luật về tổ chức, cán bộ và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước
phù hợp với mục tiêu, yêu cầu của cải cách hành chính nhà nước" và "ban hành luật
về công chức, công vụ; xác định rõ cơ quan, công chức nhà nước chỉ được làm những
gì pháp luật cho phép. Xây dựng tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp cho từng loại cán
bộ, công chức và hệ thống tiêu chuẩn đánh giá, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ,
công chức".
Những văn kiện đó của Đảng là cơ sở chính trị để Nhà nước thể chế hóa thành
pháp luật cụ thể, đáp ứng được yêu cầu xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật
cán bộ, công chức. Để thực hiện các nghị quyết đó của Đảng, Nhà nước đã ban hành
nhiều văn bản quy phạm pháp luật như pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 (sửa
đổi năm 2000 và năm 2003) cùng hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành, quyết
định 136/2001/QĐ-TTg ngày 17-9-2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương
trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 đến 2010 Những văn
bản này tạo tiền đề pháp lý cho việc hình thành đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch
vững mạnh, vừa hồng, vừa chuyên theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Từ những cơ sở chính trị và pháp lý kể trên, đội ngũ cán bộ, công chức ở nước
ta ngày càng phát triển vững mạnh, có năng lực, trình độ và phẩm chất ngày càng
được nâng cao, là công bộc của nhân dân, đáp ứng yêu cầu cơ bản của sự nghiệp đổi
mới đất nước.
Mặc dù vậy, cũng như tình trạng chung của hệ thống pháp luật mà Nghị quyết
48 của Bộ Chính trị đã chỉ ra là: "Nhìn chung hệ thống pháp luật nước ta vẫn chưa
đồng bộ, thiếu thống nhất, tính khả thi thấp, chậm đi vào cuộc sống"; các văn bản quy
phạm pháp luật về cán bộ, công chức và hoạt động công vụ trong những năm qua
cũng còn nhiều hạn chế, bất cập. Đó là một trong những nguyên nhân dẫn tới tình
trạng "Không ít cán bộ, công chức vừa kém về đạo đức, phẩm chất, vừa yếu về năng
- Luận án tiến sĩ Luật "Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về công chức nhà
nước ở nước ta", tác giả Nguyễn Văn Tâm, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, 1997.
- Luận văn Thạc sĩ Luật "Tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật và vận dụng trong
sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam", tác giả Trần Nghị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, 2002.
- Luận văn Thạc sĩ Luật "Hoàn thiện pháp luật về công chức hành chính nhà
nước ở Việt Nam hiện nay", tác giả Phạm Minh Triết, Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh, 2003.
Ngoài ra còn nhiều bài viết đăng trên các tạp chí khoa học hoặc nhiều công
trình, luận văn, luận án khác có đề cập ít nhiều tới vấn đề này.
* Đánh giá chung: Các công trình, bài viết khoa học trên đề cập tới vấn đề
hoàn thiện pháp luật cán bộ, công chức hoặc trình bày tư tưởng Hồ Chí Minh về cán
bộ, công chức và đưa ra những giải pháp cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ, công chức ở những mức độ khác nhau. Tuy nhiên chưa có công trình nào đi sâu
gắn kết tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ với việc vận dụng để hoàn thiện pháp luật
cán bộ, công chức ở nước ta.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là tư tưởng Hồ Chí Minh về cán
bộ; trong đó làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của cán
bộ, tiêu chuẩn cán bộ, việc lựa chọn, huấn luyện và sử dụng cán bộ, chính sách đối
với cán bộ; từ đó làm cơ sở luận giải cho việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ
trong hoàn thiện pháp luật cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay. Bên cạnh đó luận văn
cũng nghiên cứu lý luận chung về cán bộ và tư tưởng cán bộ để làm cơ sở cho việc tiếp
cận tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ.
4. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích của luận văn là phân tích, làm sáng tỏ những nội dung cơ bản
trong tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của cán bộ, về tầm quan trọng của cán bộ,
về tiêu chuẩn cán bộ, việc lựa chọn, huấn luyện và sử dụng cán bộ, chính sách đối với
- Luận văn đề xuất quan điểm và giải pháp vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh
trong hoàn thiện pháp luật cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Từ kết quả mà luận văn đạt được, có thể thấy một số ý nghĩa sau đây:
- Góp phần làm sáng tỏ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ.
- Góp phần vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ để hoàn thiện pháp luật
cán bộ, công chức nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu xây
dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
- Có thể sử dụng luận văn làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu, giảng dạy về
tư tưởng Hồ Chí Minh, về vấn đề hoàn thiện pháp luật cán bộ, công chức ở nước ta
hiện nay.
8. Kết cấu của luận văn
Luận văn này, ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo, được chia thành 2 chương, 6 tiết.
Chương 1
Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ
1.1. Khái niệm và đặc điểm tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ
1.1.1. Tư tưởng và tư tưởng về cán bộ
* Khái niệm tư tưởng:
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, thì đời sống xã hội có hai loại nhu
cầu cơ bản là nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần, trong đó lĩnh vực vật chất quyết
định lĩnh vực tinh thần, nhưng lĩnh vực tinh thần có tính độc lập tương đối và tác
động trở lại lĩnh vực vật chất. Lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội được gọi là ý
thức xã hội; còn ý thức xã hội bao gồm những quan điểm, tư tưởng cùng những tình
cảm, tâm trạng, truyền thống… của cộng đồng xã hội, nó nảy sinh từ chính tồn tại xã
hội và phản ánh sự tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định. Như thế,
tư tưởng chính là bộ phận của ý thức xã hội. Vậy tư tưởng là gì? Đã có nhiều định
quát hóa những yếu tố của tâm lý xã hội cùng với kế thừa từ những quan điểm, tư
tưởng có trước.
Về bản chất: Tư tưởng chính là biểu hiện khái quát mang tính lý luận của đời
sống xã hội hiện thực, trong đó điều kiện sinh hoạt vật chất của con người là yếu tố
quyết định. Nó chính là sản phẩm của sự phản ánh hiện thực thông qua lăng kính của
nhà tư tưởng, mà theo Mác, tư tưởng luôn gắn với lợi ích và trong xã hội có giai cấp
thì tư tưởng bao giờ cũng mang tính giai cấp: "Những tư tưởng thống trị của một thời
đại bao giờ cũng chỉ là những tư tưởng của giai cấp thống trị" [31, tr.625].
Về cấu trúc: Do tư tưởng là sự phản ánh khái quát ở trình độ lý luận đối với
hiện thực xã hội, mà hiện thực rất phong phú, đa dạng, nên tư tưởng cũng có cấu trúc
phản ánh nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.
Về thực tế: Tư tưởng có vai trò rất to lớn. Do được hình thành một cách tự
giác thông qua các hoạt động thực tiễn, được khái quát hóa mang tầm lý luận nên tư
tưởng có thể trở thành vũ khí sắc bén trong đấu tranh chính trị xã hội giữa các giai
cấp. Theo ăngghen, thực chất của đấu tranh tư tưởng chính là biểu hiện của cuộc đấu
tranh giai cấp: "Tất cả mọi cuộc đấu tranh trong lịch sử, không kể nó diễn ra trên địa
hạt chính trị, tôn giáo, triết học hay trên bất kỳ một địa hạt tư tưởng nào khác- thực ra
chỉ là biểu hiện ít nhiều, rõ rệt của cuộc đấu tranh của các giai cấp trong xã hội" [33,
tr.373].
Như vậy, tư tưởng chính là sự phản ánh khái quát, trừu tượng tồn tại xã hội
của ý thức, trong đó có biểu hiện các lợi ích nhất định, mà khi được hệ thống hóa
thành hệ tư tưởng, nó được biểu hiện dưới nhiều hình thái khác nhau như chính trị,
tôn giáo, pháp luật, văn hóa,…
Từ những phân tích trên có thể khái quát: Tư tưởng là sự phản ánh hiện thực khách
quan trong ý thức của con người trên cơ sở nghiên cứu, phân tích khái quát thành lý luận;
nó là sự biểu hiện và phản ánh những lợi ích nhất định.
* Tư tưởng về cán bộ:
Về nguyên tắc, như một lẽ tự nhiên, bất kỳ Nhà nước nào muốn tồn tại và phát
triển được phải tạo dựng cho mình một đội ngũ những con người nhất định trở thành
luyện, đào tạo cán bộ, sử dụng, quản lý cán bộ,…
Tư tưởng về cán bộ là bộ phận của ý thức hệ, nên luôn mang tính giai cấp, nó
có vai trò rất quan trọng, là cơ sở chính trị để hình thành trên thực tế những tiêu
chuẩn, những quy định mang tính luật hóa về cán bộ. Tư tưởng về cán bộ sẽ bị lịch
sử bỏ qua nếu không được bổ sung, phát triển một cách kịp thời để đáp ứng yêu cầu
của thực tiễn; nhưng sự phát triển đó cũng phải luôn mang tính kế thừa.
Các khái niệm tư tưởng và tư tưởng về cán bộ đã đề cập, nghiên cứu kể trên là
cơ sở lý luận để xác định khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ.
1.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh và tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ
* Tư tưởng Hồ Chí Minh:
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một chủ đề rộng, một hệ thống lý luận phong phú và
bao quát nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, được hình thành từ khá sớm;
và có thể nói từ năm 1930, bằng việc tổ chức Hội nghị thành lập Đảng, Hồ Chí Minh
đã là một nhà tư tưởng kiên định lập trường chủ nghĩa Mác-Lênin. Trên thực tế hơn
70 năm qua Đảng Cộng sản và Nhà nước ta rất coi trọng vận dụng, phát triển tư
tưởng Hồ Chí Minh.
Vấn đề tư tưởng Hồ Chí Minh đã được Đảng đề cập từ rất sớm và từng bước
bổ sung, hoàn thiện. Trong diễn văn khai mạc Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II
của Đảng (1951), đồng chí Tôn Đức Thắng đã khẳng định: "Đường lối chính trị, nề
nếp làm việc và đạo đức cách mạng của Đảng ta hiện nay là đường lối, tác phong,
đạo đức của Hồ Chủ tịch" [13, tr.9]. Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh được đề cập
chính thức tại lễ kỷ niệm 70 năm ngày sinh của Người (19/5/1960), khi ấy đồng chí
Trường Chinh viết: "Nhân dịp này, chúng ta hãy ôn lại tiểu sử và sự nghiệp của Hồ
Chí Minh, tìm hiểu và học tập tư tưởng, đạo đức và tác phong của Người để phục vụ
Đảng, phục vụ nhân dân được tốt hơn" [4, tr.20]. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn
quốc lần thứ V của Đảng (1982) xác định: "Đảng phải đặc biệt coi trọng việc tổ chức
học tập một cách có hệ thống tư tưởng, đạo đức, tác phong của Chủ tịch Hồ Chí
Minh trong toàn Đảng" [8, tr.61]. Còn Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ
lên CNXH (1991) xác định: "Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Tư tưởng Hồ Chí Minh có vị trí hết sức quan trọng đối với tiến trình cách
mạng Việt Nam, trở thành ngọn cờ chỉ lối thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong
hơn 70 năm qua và tiếp tục soi sáng sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay. Nó mãi
mãi soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần
to lớn của Đảng và dân tộc ta.
Như vậy tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống những quan điểm sâu sắc, toàn
diện về các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, trong đó có vấn đề cán bộ.
* Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ:
Trước hết cần khẳng định rằng tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ là bộ phận
cấu thành hữu cơ của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, nằm trong mối quan hệ sâu
sắc và mật thiết với các vấn đề quan trọng khác thuộc tư tưởng Hồ Chí Minh, là sự
vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về cán bộ vào thực tiễn cách
mạng Việt Nam, cùng với việc kế thừa tinh hoa truyền thống dân tộc, tạo thành hệ tư
tưởng về cán bộ một cách toàn diện, đặc sắc Hồ Chí Minh.
Để hiểu rõ thế nào là tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ, cần thấy rằng Hồ Chí
Minh rất coi trọng vai trò của con người, đặc biệt là người cán bộ. Người từng nói: "Con
người là vốn quý nhất, là lực lượng to lớn nhất"
[48, tr.310], và Người luôn coi "Cán bộ
là gốc của mọi công việc" [43, tr.269], "Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do
cán bộ tốt hoặc kém"
[43, tr.240]. Vì vậy nếu có được đội ngũ cán bộ tốt, ngang tầm
là điều kiện tiên quyết để đưa sự nghiệp cách mạng đi tới thắng lợi; từ đó trong hoạt
động cách mạng của mình, tư tưởng về cán bộ của Người được hình thành qua các
công việc cụ thể của thực tiễn, từ việc phát hiện, lựa chọn, đánh giá cán bộ đến việc
dùng cán bộ, từ việc huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đến việc khen thưởng,
phê bình, kỷ luật cán bộ Tất cả những yếu tố đó nằm trong mối liên hệ mật thiết,
đúc kết nên sự hoàn chỉnh, phong phú của tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ.
Ngay từ việc hiểu người cán bộ một cách cụ thể "Là những người đem chính
cụ thể, thiết thực, dễ hiểu, dễ thực hiện. Người đề cập tới mọi vấn đề cán bộ: từ xếp
rất đúng, đánh giá rất cao vị trí, vai trò và tầm quan trọng của cán bộ, đến việc đề ra
tiêu chuẩn cán bộ một cách toàn diện gồm cả đức, cả tài, cả trình độ tư duy lý luận
đến phương pháp và phong cách làm việc; đồng thời Người lại đặc biệt coi trọng và
đề cao vấn đề sử dụng cán bộ một cách thiết thực ở tất cả các khâu, từ phát hiện,
tuyển chọn cán bộ đến trọng dụng, cất nhắc cán bộ, từ huấn luyện, đào tạo cán bộ đến
kiểm soát cán bộ, Vì vậy mà tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ không chỉ có ý nghĩa
về nhận thức, về lý luận, mà còn có ý nghĩa rất lớn trong chỉ đạo thực tiễn.
Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ được xây dựng thành hệ thống lý
luận toàn diện và đầy đủ trên cơ sở thực tiễn, bám sát thực tiễn; nó không chỉ dừng
lại ở sự phản ánh bề ngoài một cách giản đơn, mà đi sâu vào bản chất bên trong của
vấn đề, mang tính khái quát cao, có tính lý luận sâu sắc; vì vậy tư tưởng Hồ Chí
Minh về cán bộ đã vượt qua được những hạn chế về thời gian, luôn mang tính thời
sự.
Thứ ba, tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ có tính dự báo cáo. Nhờ nắm bắt
được bản chất và tính quy luật khách quan của vấn đề nên tư tưởng của Người không
chỉ có ý nghĩa chỉ đạo để giải quyết các công việc về cán bộ và công tác cán bộ cụ
thể đương thời khi Hồ Chí Minh còn sống, mà còn chỉ ra, thích ứng với xu hướng có
tính quy luật của tương lai. Những tư tưởng có tính dự báo đó của Hồ Chí Minh
không phải là dự báo ngẫu nhiên, mà được hình thành trên cơ sở những phân tích lý
luận và thực tiễn sâu sắc nên luôn mang tính khoa học cao. Vì thế tư tưởng Hồ Chí
Minh về cán bộ đã ra đời cách đây nhiều chục năm, nhưng đến nay vẫn luôn là vấn
đề mới, vấn đề thời sự, mang hơi thở của chính cuộc sống hiện đại; đó vẫn là kim chỉ
nam, là nền tảng tư tưởng cho công tác cán bộ trong tiến trình xây dựng nhà nước
pháp quyền ở nước ta hiện nay.
Từ những phân tích trên có thể khái quát: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ là
hệ thống những quan điểm lý luận toàn diện và sâu sắc về cán bộ và công tác cán bộ
ở nước ta được hình thành trên cơ sở tiếp thu, kế thừa tư tưởng, quan điểm của chủ
nghĩa Mác-Lênin về cán bộ cách mạng cùng với truyền thống trọng dụng nhân tài
Việt Nam là quốc gia có truyền thống lịch sử lâu đời với nền văn hóa sớm
phát triển, cũng sớm hình thành Nhà nước và pháp luật. Các Nhà nước ở Việt Nam,
nhất là từ thời kỳ độc lập tự chủ thế kỷ XI dưới triều Lý trở đi, vấn đề xây dựng Nhà
nước với nền độc lập tự cường ngày càng được chú trọng. Trong điều kiện ấy, các
Nhà nước của quốc gia Việt Nam phong kiến rất quan tâm tới việc chăm lo xây dựng
đội ngũ quan lại của Nhà nước mình. Dù đội ngũ quan lại ấy được tạo dựng, rèn rũa
để bảo vệ lợi ích của giai cấp địa chủ phong kiến; nhưng do các điều kiện lịch sử cụ
thể và truyền thống của dân tộc Việt Nam, đội ngũ quan lại có nhiều yếu tố mang đặc
điểm gần dân, thân dân, gắn bó với dân, ít có điểm tách biệt, đối lập với dân, mà
thường xuất phát từ dân, có nhiều điều kiện sống trong lòng dân, được dân che chở,
đùm bọc, ủng hộ, nhất là những khi vận mệnh dân tộc nước nhà bị đe dọa, lâm nguy.
Những yếu tố và điều kiện đó làm cho đội ngũ quan lại của các nhà nước phong kiến
Việt Nam bớt đi tính xa dân và quan liêu. Trong đội ngũ ấy còn có nhiều tấm gương
thanh liêm, trong sáng.
Một truyền thống quý báu nữa của dân tộc là sự quý trọng và trọng dụng nhân
tài, luôn coi:
Hiền tài là nguyên khí quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh
và hưng thịnh. Nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp kém. Vì thế, các
bậc thánh nhân chẳng ai không coi trọng việc kén chọn kẻ sĩ, bồi dưỡng
nhân tài, vun trồng nguyên khí là công việc cần kíp. Bởi vì kẻ sĩ có quan
hệ trọng đại với quốc gia như thế, cho nên được quý trọng không biết
nhường nào [2, tr.27].
Đối với dân tộc Việt Nam, truyền thống yêu nước có trong mỗi con người nói
chung, cũng như hiện hữu trong đội ngũ quan lại của các Nhà nước phong kiến nói
riêng, nó được hun đúc để trở thành điều cốt lõi trong bản sắc văn hóa Việt Nam.
Tất cả những yếu tố kể trên trở thành truyền thống dân tộc có ảnh hưởng rất
lớn tới tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ. Đó là cơ sở ban đầu hình thành nên tư duy
về một đội ngũ những con người với những tổ chức là lực lượng tiên phong trong đấu
tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước sau này. Đó là tư duy về đội ngũ cán
Minh về cán bộ còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố thuộc tinh hoa văn hóa nhân loại.
Hồ Chí Minh đã làm giàu tư tưởng, trí tuệ của mình bằng sự thâu tóm, kế thừa những
di sản tư tưởng quý báu của nhân loại. Đó là sự kế thừa có chọn lọc, phê phán chứ
không phải sự sao chép máy móc; cũng không phải sự phủ định sạch trơn, mà luôn là sự
đánh giá một cách công bằng, khoa học. Như Người đã từng viết: “Học thuyết Khổng
Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giê-su có ưu điểm là lòng nhân
ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa
Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta” [23,
tr.51].
* Về ảnh hưởng của Nho giáo:
Là học thuyết chính trị- pháp lý chỉ ra phương cách cai trị xã hội, trong đó lấy
đạo đức làm chủ yếu, Nho giáo rất quan tâm tới vấn đề người cai trị, đẩy người cai trị
lên vị trí rất cao, nhưng cũng đòi hỏi người cai trị phải có điều kiện và đáp ứng
những yêu cầu phẩm chất nhất định. Đó là tính thân dân với phẩm chất đạo đức và
phải thường xuyên tu thân, rèn đức, nêu gương tốt; đó là đức nhân và lòng thương
người, đức kính cẩn, khiêm tốn và đức tín với dân. Qua đó, Nho giáo đòi hỏi người
cai trị phải thường xuyên sửa mình, tu thân, rèn đức, không ngừng nâng cao trình độ
qua học tập.
Sinh ra trong một gia đình nhà Nho yêu nước, được học chữ Hán và tiếp thu
văn hóa Khổng- Mạnh từ niên thiếu, nên đạo đức Nho giáo đã thấm vào tư tưởng,
tình cảm Hồ Chí Minh; nhưng không phải là những giáo điều nhằm bảo vệ tôn ti trật
tự phong kiến, mà là tinh thần nhân nghĩa, nên Hồ Chí Minh nhận rõ những chân giá
trị tích cực cũng như điểm duy tâm, lạc hậu của Nho giáo. Người đề cao những yếu
tố tích cực trong tư tưởng Nho giáo như các mệnh đề nhân nghĩa, trung hiếu, dân vi
quý; từ đó Hồ Chí Minh kết luận: "Học thuyết đức trị của Khổng Tử có ưu điểm là sự
tu dưỡng đạo đức cá nhân" [28, tr.51], và Người cho rằng: "Những người dân An
Nam chúng ta hãy tự hoàn thiện mình về mặt tinh thần bằng cách đọc các tác phẩm
của Khổng Tử, và về mặt cách mạng thì đọc các tác phẩm của Lênin" [40, tr.454].
Với Hồ Chí Minh, trong điều kiện chế độ và thời đại mới, thì những tư tưởng
Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ nói riêng.
Học chữ Hán và tiếp thu tư tưởng Nho giáo từ nhỏ, nhưng sinh thời của Hồ
Chí Minh cũng là lúc Nho giáo suy vi, trở nên bế tắc, bất lực trước các vấn đề của
thời cuộc, trong khi Việt Nam đã là một xứ thuộc Pháp, bắt đầu tiếp thu những giá trị
tư tưởng văn hóa, chính trị phương Tây. Trong điều kiện ấy, Hồ Chí Minh còn nhỏ đã
vào học trường Tiểu học Pháp Việt ở Vinh, rồi trường Tiểu học Đông Ba, trường
Quốc học Huế, để từ đó, trên cái nền và vốn văn hóa phương Đông cổ học nhất định,
Người đã bước đầu tiếp xúc với văn hóa phương Tây, tiếp xúc với những khẩu hiệu
như dân chủ, bình đẳng, tự do, bác ái, tư tưởng giải phóng con người khỏi thần quyền
tôn giáo…. Những tư tưởng đó thôi thúc Người hướng sang phương Tây: "Khi tôi độ
13 tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, bình đẳng, bác ái,… Và từ
thửa ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn
đằng sau những chữ ấy" [39, tr.477].
Trong 30 năm bôn ba nước ngoài, đi qua và sống ở nhiều quốc gia, tiếp xúc
với nhiều luồng tư tưởng, nhiều học thuyết khác nhau của phương Tây, đặc biệt là
các nhà tư tưởng lớn thời kỳ phục hưng, thế kỷ ánh sáng như Vol-te, Rut-xo, Mông-
tec-ski-ơ…, những yếu tố tích cực, tiến bộ từ các cuộc cách mạng Tư sản phương
Tây, đã ảnh hưởng lớn đến việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là các vấn đề
dân chủ, nhân quyền, dân quyền, tự do, bình đẳng,… Những tư tưởng đòi hỏi Nhà
nước được tổ chức đáp ứng yêu cầu của pháp quyền, dân chủ, tổ chức nhà nước
không phải là bộ máy cai trị nhân dân, mà là bộ máy tổ chức và thực thi quyền lực
của nhân dân. Lẽ tất nhiên khi tiếp thu những giá trị tích cực, tiến bộ đó, Hồ Chí Minh
cũng đồng thời chỉ ra những hạn chế của nó như: "Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh
Mĩ, nghĩa là cách mệnh Tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ,
kỳ thực trong nước thì tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa" [40, tr.274].
* Về ảnh hưởng từ quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin:
Dưới sự tác động biện chứng giữa các mối quan hệ cá nhân, dân tộc và thời
đại đã đưa Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác-Lênin- đỉnh cao của tinh hoa trí tuệ
nhân loại. Đó là bộ phận có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc hình thành tư
trong tất cả các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn
thúc đẩy phong trào tiến lên; về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của
giai cấp vô sản ở chỗ họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả
chung của phong trào vô sản [31, tr.614].
Chủ nghĩa Mác-Lênin đòi hỏi người cán bộ phải luôn tự rèn luyện mình cả
năng lực thực tiễn và tư duy lý luận, phải trung thành với sự nghiệp cách mạng, gắn bó
và phục vụ nhân dân, chịu sự kiểm soát của nhân dân, dám thừa nhận và sửa chữa sai
lầm khuyết điểm: "Luôn luôn hành động dưới sự kiểm soát của nhân dân…, không nấp
sau một chế độ quan liêu giấy tờ, không ngại thừa nhận những sai lầm của mình bằng
cách sửa chữa những sai lầm ấy" [34, tr.35]. Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng rất coi trọng
vấn đề lựa chọn và sử dụng cán bộ, coi đó như một khoa học, phải đặt người cán bộ
vào đúng vị trí thì mới phát huy được khả năng, sở trường của cán bộ.
Hồ Chí Minh khi đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm thấy con đường cứu nước
đúng đắn cho cách mạng Việt Nam, Người cũng tiếp thu nhiều quan điểm quan trọng
về cán bộ và công tác cán bộ, từ đó qua yêu cầu và thực tiễn cách mạng Việt Nam,
kết hợp với truyền thống dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, đã tạo nên tính đặc sắc
trong tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ- bộ phận cấu thành quan trọng của tư tưởng
Hồ Chí Minh nói chung.
1.2.1.3. Trí tuệ thiên tài, nhân cách, phẩm chất Hồ Chí Minh và hoạt động
thực tiễn của Người