LUẬN VĂN: Lịch sử phát triển và phương hướng hoàn thiện pháp luật cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Lịch sử phát triển và phương hướng
hoàn thiện pháp luật cán bộ, công
chức ở Việt Nam hiện nay
Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những vấn đề cơ bản và cấp bách đang được Đảng và Nhà nước ta
đặc biệt quan tâm trong công cuộc đổi mới hiện nay đó là việc tiếp tục xây dựng và
hoàn thiện nhà nước XHCN Việt Nam trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu
lực, hiệu quả. Trong bộ máy Nhà nước, cán bộ, công chức phải thật sự là công bộc
tận tuỵ phục vụ nhân dân.
Pháp luật cán bộ, công chức là một hệ thống những QPPL điều chỉnh các
quan hệ xã hội về cán bộ, công chức. Quy định vị trí vai trò của cán bộ, công chức

hành nhiều VBQPPL tạo thành một hệ thống pháp luật CBCC mà bước đột phá đầu
tiên là việc UBTVQH ban hành pháp lệnh CBCC ngày 26/02/1998. Sau một thời
gian thực hiện pháp lệnh CBCC năm 1998 bộc lộ một số hạn chế trong quá trình
quản lý, sử dụng đội ngũ CBCC. Do đó, UBTVQH đã ban hành pháp lệnh sửa đổi,
bổ sung năm 2002 và hiện nay là pháp lệnh CBCC sửa đổi, bổ sung năm 2003.
Trong suốt cả quá trình từ khi thành lập nước VNDCCH cho đến hiện nay
pháp luật CBCC nói chung và pháp lệnh CBCC nói riêng đã phần nào bám sát các
nhiệm vụ chính trị, đã cụ thể hoá được chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng
và nhà nước về công tác cán bộ.
Ngay sau khi thành lập nước VNDCCH Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc
lệnh 76/SL ban hành quy chế công chức Việt Nam mặc dù do hoàn cảnh chiến
tranh, quy chế không được áp dụng nhưng nó vẫn có giá trị cho việc hoàn thiện hệ

thống pháp luật cán bộ, công chức sau này. Trong điều kiện đất nước vừa có hoà
bình, vừa có chiến tranh các VBQPPL về cán bộ, công chức là cơ sở pháp lý quan
trọng để nhà nước quản lý có hiệu quả đối với đội ngũ cán bộ, công nhân, viên
chức. Do đó, pháp luật cán bộ, công chức thời kỳ này có tác dụng huy động được
đông đảo cán bộ, công chức tham gia vào công cuộc xây dựng cơ sở vật chất cho
CNXH đồng thời đóng góp công sức vào công cuộc giải phóng miền Nam.
Trong hơn 20 năm đổi mới, pháp luật cán bộ, công chức đã có bước phát
triển nhất định xuất phát từ đường lối đổi mới và yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp
quyền. Có thể khẳng định rằng, pháp luật cán bộ, công chức qua các thời kỳ lịch sử
đã theo kịp tiến trình đổi mới toàn diện của đất nước tạo ra một đội ngũ cán bộ,
công chức cán bộ, công chức ngày càng trưởng thành, có phẩm chất đạo đức, trình
độ chuyên môn nghiệp vụ góp phần vào công cuộc cải cách hành chính và xây dựng
BMNN Việt Nam trong sạch vững mạnh.
Tuy nhiên, pháp luật cán bộ, công chức trong các thời kỳ lịch sử cũng như
hiện nay còn bộc lộ một số hạn chế như: Số lượng các VBQPPL về cán bộ, công
chức được ban hành khá nhiều nhưng hiệu lực pháp lý không cao; pháp luật còn
thiếu tính ổn định chưa tương xứng với yêu cầu của một nền công vụ hiện đại; pháp

của tác giả Nguyễn Văn Tâm, luận án PTS luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh, 1997.
Đây là một công trình khoa học tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn
của việc đổi mới và hoàn thiện pháp luật về công chức nhà nước nhằm tạo môi

trường pháp lý ổn định cho chế độ công chức nhà nước phù hợp với tình hình, đặc
điểm của hệ thống chính trị nước ta.
- “Pháp luật về công chức Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, luận văn thạc
sĩ của tác giả Nguyễn Thị Kim Oanh, bảo vệ tại Viện Nhà nước pháp luật năm
2005.
Đây là một công trình trình bày cơ sở lý luận về công chức, pháp luật về công
chức Việt Nam; nghiên cứu thực trạng pháp luật công chức Việt Nam; những điểm
mạnh và những vấn đề còn tồn tại của pháp luật công chức Việt Nam và tác giả đã
đề xuất một số kiến nghị nhằm từng bước hoàn thiện pháp luật về công chức.
- “Hoàn thiện pháp luật về công chức hành chính ở Việt Nam hiện nay”, luận
văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Minh Triết bảo vệ tại học viện Chính trị guốc gia Hồ
Chí Minh, năm 2003.
Công trình này đã đưa ra một số vấn đề cơ bản có tính lý luận về công chức
hành chính nhà nước đồng thời có phân tích đánh giá tổng quát thực trạng pháp luật
đưa ra kiến nghị giải pháp hoàn thiện.
- “Đổi mới và hoàn thiện chế độ công chức Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay”, của tác giả Trịnh Xuân Toản, luận án thạc sĩ luật học bảo vệ tại Viện Nghiên
cứu nhà nước và pháp luật, năm 1997.
- “Hoàn thiện pháp luật công chức ở Việt nam trong giai đoạn hiện nay” của
tác giả Mai Lan Hương, luận án thạc sĩ luật học bảo vệ tại Học viện Hành chính
quốc gia, năm 1999.
Công trình đã nêu những nội dung cơ bản về pháp luật công chức nhà nước,
trọng tâm là đánh giá chế độ công chức cũng như pháp luật công chức hiện hành
trên cơ sở pháp lệnh cán bộ công chức mới ban hành năm 1998. Đồng thời có đề
xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật công chức nhà nước.

- “Những điểm mới của pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh
cán bộ cán bộ, công chức” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà, Tạp chí Quản lý nhà
nước.
- “Những quan điểm cơ bản xây dựng đội ngũ công chức hành chính Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” của tác giả Chu Văn Thành và Hà Quang Ngọc,
Tạp chí Cộng sản, số 19 - 2003.
Trên đây là những công trình, tài liệu làm nguồn tư liệu tham khảo có giá trị
mang tính lý luận và thực tiễn cao. Nhưng các công trình chỉ dừng lại nghiên cứu ở
góc độ lý luận chung các vấn đề về pháp luật cán bộ, công chức; vấn đề xây dựng,
hoàn thiện pháp luật cán bộ, công chức mà chưa có công trình nào đề cập đến vấn
đề về lịch sử pháp triển của pháp luật cán bộ, công chức qua các thời kỳ lịch sử ở
nước ta. Vì vậy, chúng tôi mong muốn việc nghiên cứu đề tài này góp phần nhỏ bé
vào việc tổng kết các giai đoạn lịch sử của pháp luật cán bộ, công chức để giải
quyết những vấn đề mà thực tiễn hiện nay đang đặt ra.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích:
Nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề cơ bản có tính lý luận về pháp luật
CBCC; phân tích đánh giá thực trạng pháp luật về CBCC qua các thời kỳ lịch sử ở

Việt Nam, đặc biệt là trong những năm gần đây. Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu,
phân tích, đánh giá, luận văn đưa ra phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật
CBCC ở Vệt Nam hiện nay.
* Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Xem xét giải quyết một số vấn đề có tính lý luận cơ bản về pháp luật CBCC
như: Khái niệm pháp luật cán bộ, công chức; đặc điểm; những tiêu chí đánh giá pháp luật
cán bộ, công chức qua các giai đoạn; những thành tựu của pháp luật CBCC trên thế giới
Việt Nam có thể tham khảo.
- Làm rõ quá trình hình thành phát triển và thực trạng pháp luật cán bộ công chức
qua các thời kỳ lịch sử ở Việt Nam

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận
có liên quan đến pháp luật CBCC như: Phân tích để làm rõ khái niệm pháp luật
CBCC; phân tích các đặc điểm cũng như đưa ra tiêu chí đánh giá pháp luật CBCC
đồng thời, tổng kết đánh giá pháp luật CBCC qua các thời kỳ lịch sử ở Việt Nam
cũng như pháp luật CBCC hiện hành trên cơ sở đó để đưa ra phương hướng, giải
pháp hoàn thiện pháp luật CBCC. Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài
liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy, giúp các cơ quan Nhà nước có thẩm

quyền trong việc nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện pháp luật CBCC ở Việt Nam hiện
nay.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 2 chương, 6 tiết.

Chương 1
những vấn đề lý luận về quá trình phát triển
và phương hướng hoàn thiện pháp luật cán bộ,
công chức ở Việt Nam

1.1. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật cán bộ, công chức ở Việt Nam
1.1.1. Khái niệm pháp luật cán bộ, công chức
Nhà nước XHCN ra đời đòi hỏi phải xây dựng một đội ngũ CBCC nhằm
thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước, đáp ứng
cho sự vận hành của BMNN. Cùng với quá trình tổ chức nhân sự là việc ban hành
các VBQPPL, điều chỉnh các quan hệ công vụ, quy định các vấn đề liên quan đến việc
thiết lập các chức vụ, quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm của CBCC và nhiều vấn đề
khác có liên quan đến hoạt động công vụ của Nhà nước.
Pháp luật CBCC là hệ thống các quy phạm pháp luật thuộc nhiều ngành luật
khác nhau do các cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương ban hành. Nó là
một hệ thống những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội về CBCC,

Các quan điểm trên chưa đi sâu nghiên cứu ý nghĩa, nội dung, bản chất cũng
như hình thức của pháp luật CBCC nên chưa đưa ra được quan niệm có tính khái
quát nhất về vấn đề này.
Trên thực tế, đội ngũ CBCC là những con người, những nhân vật được nhà
nước lựa chọn, giao cho họ một nhiệm vụ cụ thể để họ hoàn thành chức năng quản
lý nhà nước. Đội ngũ này nhận sự "uỷ thác", "uỷ quyền" của Nhà nước, họ được lấy

danh nghĩa nhà nước để thi hành chức trách, nhiệm vụ vì thế, mà nảy sinh quan hệ
xã hội về CBCC nhà nước.
PGS,TS Phạm Hồng Thái đưa ra định nghĩa:
Pháp luật về công vụ, cán bộ, công chức nhà nước là tổng thể các
quy phạm pháp luật thể hiện dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật
do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quy định các nguyên
tắc của chế độ công vụ, trật tự hoạt động công vụ, điều chỉnh các hoạt
động về công vụ, cán bộ, công chức bao gồm: Thiết lập các chức vụ cán
bộ, công chức; các quyền nghĩa vụ của cán bộ, công chức trong quá trình
thực thi công vụ; việc tuyển dụng, sử dụng, quản lý, khen thưởng, kỷ luật
cán bộ, công chức và các vấn đề khác trong chính sách cán bộ, công
chức nhà nước [51, tr.115].
Do pháp luật CBCC là lĩnh vực pháp luật liên ngành bao gồm các quy phạm
pháp luật trong các ngành luật như: Luật Lao động, Luật Hình sự, Luật Hành chính.
Trong đó, điều chỉnh các quan hệ xã hội trực tiếp liên quan tới CBCC ở các vấn đề
như: chế độ làm việc, chế độ nghỉ ngơi, chế độ trợ cấp bảo hiểm xã hội, ốm đau, tai
nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, chế độ thai sản, chế độ hưu trí, chế độ tử tuất do
Luật Lao động điều chỉnh. Luật Hình sự thì quy định một số tội danh chỉ do chủ thể
là CBCC thực hiện trong khi thi hành công vụ và một số quy phạm pháp luật quy
định về vấn đề tội phạm chức vụ. Luật Dân sự điều chỉnh, quy định về vấn đề bồi
thường thiệt hại do CBCC nhà nước gây ra. Như vậy, các quy phạm pháp luật về
CBCC ở nước ta nằm trong nhiều ngành luật khác nhau
Như vậy, thực chất pháp luật CBCC là một hệ thống các VBQPPL quy định

hiệu quả đòi hỏi các nhà tổ chức, quản lý phải thực sự sáng tạo vì tiềm năng của con
người, của nhân loại là vô hạn còn khả năng của mỗi cá nhân lại là hữu hạn. Đây là
vấn đề quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng và Nhà nước ta, việc sử dụng
CBCC cần kết hợp hai yếu tố đó là các tiêu chuẩn do nhà nước quy định và phẩm
chất, năng lực của CBCC. Ngoài ra, sử dụng CBCC phải giải quyết tốt mối quan hệ
giữa sự đóng góp của CBCC và các chế độ vật chất mà họ được hưởng.
- Những quy định về đãi ngộ như chế độ tiền lương, phúc lợi, chế độ bảo hiểm,
những bảo đảm về danh dự nhân phẩm cho CBCC khi thi hành công vụ.
Những quy định này nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của CBCC đồng
thời thể hiện trách nhiệm của cơ quan tổ chức trong quản lý sử dụng CBCC tạo điều
kiện thuận lợi cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc xử lý CBCC vi phạm kỷ
luật và pháp luật trong quá trình thực thi công vụ.
- Những quy định về vấn đề truy cứu trách nhiệm đối với CBCC khi họ có
hành vi vi phạm pháp luật.
CBCC có nghĩa vụ thực thi công vụ, nhiệm vụ của mình; Phải chịu trách
nhiệm trước pháp luật về việc thi hành nhiệm vụ, công vụ của mình; Cán bộ lãnh
đạo còn phải chịu trách nhiệm về việc thi hành nhiệm vụ, công vụ của CBCC thuộc
quyền. Đây là cơ sở, phương tiện để nhân dân tham gia kiểm tra giám sát đối với
CBCC khi thi hành công vụ góp phần ngăn chặn kịp thời các hành vi lạm quyền,
tham nhũng.
- Các quy định về hiệu lực của VBQPPL và thẩm quyền giải thích, hướng
dẫn thi hành pháp luật về CBCC. Từ sự phân tích có thể đi tới khái niệm pháp luật
CBCC như sau:

Pháp luật CBCC bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự luật định nhằm quy định vị trí, vai
trò, chức năng của cán bộ, công chức; bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của
cán bộ, công chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực công
vụ, công chức ở Việt Nam hiện nay.
1.1.2. Đặc điểm của pháp luật cán bộ, công chức

lịch sử pháp luật CBCC đã kịp thời thể chế hoá đường lối, chủ trương chính sách
của Đảng và Nhà nước phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước. Pháp luật CBCC hiện hành đã theo kịp tiến trình đổi mới toàn diện của đất
nước. Do đó, pháp luật CBCC thường được sửa đổi, bổ sung thường xuyên để phù
hợp với thực tiễn hoặc theo nhận thức của giai cấp cầm quyền trong từng thời điểm
nhất định.
Thứ hai: Pháp luật CBCC có số lượng QPPL lớn và nằm trong nhiều văn
bản khác nhau.
Pháp luật CBCC là lĩnh vực pháp luật liên ngành, do đó các QPPL được quy
định trong nhiều văn bản như: Hiến pháp, các luật, bộ luật, pháp lệnh, các nghị định
của Chính phủ trong đó pháp lệnh CBCC, các nghị định của Chính phủ về CBCC có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng với vị trí là những văn bản chung.
Hiến pháp là đạo luật cơ bản, là cơ sở cho việc hình thành pháp luật CBCC.
Hiến pháp quy định các nguyên tắc có tính chính trị - xã hội thông qua việc quy
định nghĩa vụ quyền lợi cho CBCC cũng như quy định trình tự pháp lý của việc
thiết lập các chức vụ của CBCC đề thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn, chức năng
của các cơ quan nhà nước.

Pháp lệnh CBCC là văn bản trực tiếp và quan trọng nhất liên quan tới mọi
mặt đời sống của CBCC. Pháp lệnh xác định phạm vi CBCC; các quyền nghĩa vụ
của CBCC; các quy định về tuyển dụng, sử dụng, quản lý, đào tạo, bồi dưỡng, khen
thưởng, kỷ luật đối với CBCC…
Các nghị định của Chính phủ điều chỉnh các mặt cụ thể của chế độ công vụ,
hoạt động của CBCC như: tuyển dụng, sử dụng, quản lý, khen thưởng, kỷ luật, trách
nhiệm bồi thường vật chất.
Ngoài các luật, pháp lệnh và các VBQPPL dưới luật khác có tính chất
chuyên ngành quy định quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các chức danh công chức,
chế độ công vụ của CBCC trong các ngành, lĩnh vực cụ thể.
Bộ Nội vụ là cơ quan của Chính phủ giúp Chính phủ thực hiện chức năng
quản lý nhà nước đối với CBCC, ban hành các văn bản quy định tiêu chuẩn chung

Thông qua tuyển dụng lựa chọn được những người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo
quy định để bố trí cho CBCC vào một vị trí công việc thích hợp.
Quản lý CBCC: Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN
dưới sự lãnh đạo của Đảng, đòi hỏi phải đổi mới cơ chế, chính sách quản lý, sử
dụng CBCC nhằm xây dựng đội ngũ CBCC trong sạch, vững mạnh, bảo đảm tính
hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính nhà nước trong quản lý mọi mặt của đời sống
xã hội.

Nội dung quản lý CBCC được quy định tại điều 34 pháp lệnh CBCC năm
2003 và được cụ thể hoá tại điều 40 NĐ117/2003/CP của Chính phủ về tuyển dụng,
sử dụng và quản lý CBCC.
Quyền và nghĩa vụ của CBCC: Được quy định trong các văn bản quy phạm
pháp luật về CBCC, những quy định về nghĩa vụ, quyền lợi của CBCC là “chuẩn
mực” để điều chỉnh hoạt động công vụ của CBCC. Quyền lợi của CBCC thường đi
đôi với nghĩa vụ là yếu tố bảo đảm cho việc thực hiện tốt các nghĩa vụ. Quyền lợi là
cơ sở bảo đảm tốt, là điều kiện phương tiện để CBCC hoàn thành các nghĩa vụ được
giao. Quyền lợi của CBCC còn là yếu tố bảo đảm cho CBCC có sự thăng tiến, vươn
lên trong công việc vì nó bao gồm cả quyền lợi về chính trị, tinh thần và vật chất.
Cùng với quyền lợi CBCC còn thực hiện các nghĩa vụ trong khi thi hành công vụ.
Các nghĩa vụ chính là các quy định pháp lý mà CBCC phải thực hiện hoặc không
được thực hiện một hành vi nào đó. Pháp luật CBCC cũng quy định trách nhiệm
pháp lý trong trường hợp CBCC lợi dụng chức vụ quyền hạn, lạm quyền.
Ngoài những vấn đề trên pháp luật CBCC còn có những nội dung như: Quy
định về bộ máy quản lý CBCC, vấn đề nâng ngạch, chuyển ngạch, quy định về thời
hiệu của các VBQPPL và thẩm quyền giải thích hướng dẫn thi hành.
Tóm lại, pháp luật về CBCC điều chỉnh rất nhiều các quan hệ xã hội phát
sinh trong quá trình quản lý nhà nước, quá trình tuyển chọn bổ nhiệm và các vấn đề
khác có liên quan đến hoạt động của CBCC.
1.2. Vai trò và tiêu chí đánh giá pháp luật cán bộ, công chức
1.2.1. Vai trò của pháp luật cán bộ, công chức

sở pháp luật.

Đội ngũ cán bộ, công chức là lực lượng lao động nòng cốt có vai
trò quan trọng trong quản lý và tổ chức của Nhà nước, nói cách khác,
công chức và đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước có vai trò to lớn trong
việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của dân, do dân, vì dân. Nhiệm vụ của họ là thực thi công vụ, thực
thi pháp luật, thực thi quyền lực nhà nước. Đồng thời chính họ đóng vai
trò sáng tạo pháp luật, tham mưu đề xuất, xây dựng hệ thống pháp luật
hoàn chỉnh và tiến bộ của Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân
[41, tr.35].
Pháp luật CBCC quy định những việc mà CBCC không được làm đồng thời
cũng quy định những việc mà CBCC phải làm trong quá trình hoạt động công vụ,
phục vụ nhà nước, phục vụ nhân dân, đây là những quy định vừa bảo vệ được
quyền, lợi ích hợp pháp của CBCC lại vừa bảo đảm cho các quyết định quản lý nhà
nước được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, phát huy cao độ trách nhiệm, sự
nghiêm minh trong hoạt động của CBCC, bảo đảm hoạt động quản lý nhà nước có
hiệu lực, hiệu quả.
* Pháp luật CBCC là phương tiện quan trọng bảo đảm quyền lực nhà nước
được thực hiện, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân:
BMNN là một tổ chức công quyền quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng
pháp luật, việc thực thi nhiệm vụ đó được trao cho đội ngũ CBCC. Trong phạm vi
chức năng, nhiệm vụ được nhà nước giao và thông qua hệ thống quy phạm pháp
luật CBCC, họ được quyền giải quyết mọi công việc theo đúng nhiệm vụ, quyền
hạn do luật định. Nên pháp luật CBCC bảo đảm cho quyền lực Nhà nước được thực
hiện trong đời sống xã hội. CBCC thực hiện nghiêm chỉnh, các mệnh lệnh, quyết định
của pháp luật, hoàn thành tốt chức trách của mình là bảo đảm được cho quyền lực
nhà nước được thực thi trong thực tế.


định trên cơ sở pháp luật trực tiếp giải quyết các yêu cầu có liên quan đến quyền lợi
ích hợp pháp của công dân. Dù được nhà nước trao quyền, uỷ quyền nhưng CBCC
phải tuân thủ pháp luật. CBCC khác với những người dân bình thường đó là họ chỉ
được làm những điều mà pháp luật cho phép, còn người dân được làm tất cả những
điều mà pháp luật không cấm. Khi giải quyết những vấn đề có liên quan đến quyền
và lợi ích hợp pháp của nhân dân, CBCC có nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ quyền lợi
ích, tài sản của nhân dân, không được vi phạm đến quyền tự do và bất cứ lợi ích hợp
pháp nào nhân dân tôn trọng lắng nghe ý kiến của nhân dân, không quan liêu, cửa
quyền vô trách nhiệm.
Quan hệ giữa nhà nước và CBCC, giữa CBCC với nhân dân là mối quan hệ
giữa người phục vụ và người được phục vụ nhưng đó là mối quan hệ bình đẳng
CBCC không đứng trên quần chúng, ban phát quyền cho dân. Điều chỉnh mối quan
hệ này nói lên vai trò của pháp luật CBCC trong việc bảo vệ lợi ích nhà nước, bảo
vệ quyền lợi ích hợp pháp của công dân.
* Pháp luật CBCC là phương tiện thể chế hoá đường lối, chủ trương, chính
sách của Đảng về xây dựng đội ngũ CBCC.
Nước ta khác với các nước trên thế giới, thể chế quản lý CBCC là một bộ
phận của hệ thống thể chế nhà nước, là luật pháp hoá các nghị quyết, chiến lược cán
bộ cũng như các quyết định, quy định, hướng dẫn của Đảng về đề bạt, bổ nhiệm
cán bộ, đánh giá, sử dụng, phân cấp quản lý cán bộ. Đây là sự thể hiện nguyên tắc
Đảng thống nhất, lãnh đạo công tác cán bộ, từ việc tuyển dụng sử dụng, đánh giá và
bổ nhiệm cán bộ.

Trích đoạn Những hạn chế Nguyên nhân của những hạn chế Quan điểm hoàn thiện pháp luật cán bộ công chức Tiến hành hệ thống hoá các văn bản quy phạm pháp luật cán bộ công chức Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cán bộ, công chức hiện hành và ban hành luật cán bộ công chức
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status