Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những vấn đề cơ bản và cấp bách đang đợc Đảng và Nhà nớc
ta đặc biệt quan tâm trong công cuộc đổi mới hiện nay đó là việc tiếp tục xây
dựng và hoàn thiện nhà nớc XHCN Việt Nam trong sạch, vững mạnh, hoạt
động có hiệu lực, hiệu quả. Trong bộ máy Nhà nớc, cán bộ, công chức phải
thật sự là công bộc tận tuỵ phục vụ nhân dân.
Pháp luật cán bộ, công chức là một hệ thống những QPPL điều chỉnh
các quan hệ xã hội về cán bộ, công chức. Quy định vị trí vai trò của cán bộ,
công chức trong bộ máy Nhà nớc; quy định chức, nhiệm vụ, quyền hạn của
cán bộ, công chức; quy định việc tuyển dụng, đào tạo, bồi dỡng cán bộ, công
chức. Trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụ sẽ phát sinh cả quyền lợi và
nghĩa vụ từ hai phía là nhà nớc và cán bộ công chức. Để điều chỉnh đợc mối
quan hệ này thì phải có pháp luật cán bộ, công chức. Do đó, pháp luật cán bộ,
công chức có vai trò hết sức quan trọng trong cả quá trình xây dựng, phát triển
và hoàn thiện bộ máy Nhà nớc. Đặc biệt, trong quá trình chúng ta đang xây
dựng Nhà nớc pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân. Pháp luật cán bộ,
công chức là phơng tiện để thể chế hoá đờng lối, chủ trơng, chính sách của
Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, góp phần quan trọng vào việc
phát triển kinh tế - xã hội. Chính vì vậy Nghị quyết Đại hội đại biều toàn quốc
lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định:
Xây dựng và ban hành văn bản pháp quy về chế độ công vụ,
công chức. Định rõ nghĩa vụ, trách nhiệm thẩm quyền, quyền lợi và
kỷ luật công chức hành chính. Quy định các chế độ đào tạo, tuyển
dụng, sử dụng công chức. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà
nớc vừa có trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp cao, vừa
giác ngộ về chính trị có tinh thần trách nhiệm, tận tuỵ, công tâm,
vừa có đạo đức liêm khiết khi thi hành công vụ [13, tr.132].
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX lại tiếp tục khẳng định:
Hoàn thiện chế độ công vụ, quy chế cán bộ, công chức, bảo đảm
tính nghiêm túc, trung thực trong thi tuyển cán bộ, công chức
Trong hơn 20 năm đổi mới, pháp luật cán bộ, công chức đã có bớc phát
triển nhất định xuất phát từ đờng lối đổi mới và yêu cầu xây dựng Nhà nớc
pháp quyền. Có thể khẳng định rằng, pháp luật cán bộ, công chức qua các thời
kỳ lịch sử đã theo kịp tiến trình đổi mới toàn diện của đất nớc tạo ra một đội
ngũ cán bộ, công chức cán bộ, công chức ngày càng trởng thành, có phẩm
chất đạo đức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ góp phần vào công cuộc cải
cách hành chính và xây dựng BMNN Việt Nam trong sạch vững mạnh.
2
Tuy nhiên, pháp luật cán bộ, công chức trong các thời kỳ lịch sử cũng
nh hiện nay còn bộc lộ một số hạn chế nh: Số lợng các VBQPPL về cán bộ,
công chức đợc ban hành khá nhiều nhng hiệu lực pháp lý không cao; pháp luật
còn thiếu tính ổn định cha tơng xứng với yêu cầu của một nền công vụ hiện
đại; pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 dù đã đợc sửa đổi, bổ sung nhiều
lần nhng vẫn còn tản mạn, chắp vá; hệ thống các VBQPPL còn thiếu tính đồng
bộ, nhiều chồng chéo, không thống nhất. Vì vậy, pháp luật cán bộ, công chức
qua các giai đoạn lịch sử vẫn cha đáp ứng đợc yêu cầu là cơ sở pháp lý vững
chắc cho việc xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức vừa hồng, vừa chuyên.
Mục tiêu chung của chơng trình tổng thể cải cách hành chính nhà nớc
giai đoạn 2001-2010 là: Xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch,
vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo
nguyên tắc của Nhà nớc pháp quyền XHCN dới sự lãnh đạo của Đảng, xây
dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu
của công cuộc xây dựng, phát triển đất nớc.
Một trong những mục tiêu cụ thể của chơng trình là hoàn thiện hệ thống
thể chế hành chính, cơ chế, chính sách phù hợp với thời kỳ công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nớc. Vì thế, việc đổi mới hoàn thiện pháp luật, cơ chế, chính
sách về cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách nền hành
chính nhà nớc là một yêu cầu cần thiết. Mặt khác, chúng ta đang trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế, là thành viên của tổ chức thơng mại Thế giới
đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức ngoài phẩm chất, năng lực chuyên môn
chức hành chính nhà nớc đồng thời có phân tích đánh giá tổng quát thực trạng
pháp luật đa ra kiến nghị giải pháp hoàn thiện.
- Đổi mới và hoàn thiện chế độ công chức Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay, của tác giả Trịnh Xuân Toản, luận án thạc sĩ luật học bảo vệ tại
Viện Nghiên cứu nhà nớc và pháp luật, năm 1997.
- Hoàn thiện pháp luật công chức ở Việt nam trong giai đoạn hiện nay
của tác giả Mai Lan Hơng, luận án thạc sĩ luật học bảo vệ tại Học viện Hành
chính quốc gia, năm 1999.
Công trình đã nêu những nội dung cơ bản về pháp luật công chức nhà n-
ớc, trọng tâm là đánh giá chế độ công chức cũng nh pháp luật công chức hiện
hành trên cơ sở pháp lệnh cán bộ công chức mới ban hành năm 1998. Đồng
thời có đề xuất phơng hớng, giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật công
chức nhà nớc.
Ngoài ra còn có các công trình khoa học có liên quan trực tiếp hoặc gián
tiếp đến vấn đề pháp luật cán bộ công chức và hoàn thiện pháp luật cán bộ
công chức.
4
- Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lợng đội ngũ cán bộ trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tác giả PGS, TS Nguyễn
Phú Trọng và PGS, TS Trần Xuân Sầm (đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2001.
- Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ công chức của TS
Thang Văn Phúc và TS Nguyễn Minh Phơng (đồng chủ biên) Nxb Chính trị
guốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2005.
- Công chức và vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay
của tác giả Tô Tử Hạ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003.
- Tiếp tục hoàn thiện thể chế quản lý cán bộ, công chức nhà nớc của
Thang Văn Phúc, Tạp chí Cộng sản, số 22+23 - 2003.
- Đổi mới, hoàn thiện về cán bộ, công chức nhà n ớc của tác giả Trịnh
Xuân Toản, Tạp chí Nhà nớc và pháp luật, số 4 - 2003.
* Mục đích:
Nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề cơ bản có tính lý luận về pháp luật
CBCC; phân tích đánh giá thực trạng pháp luật về CBCC qua các thời kỳ lịch
sử ở Việt Nam, đặc biệt là trong những năm gần đây. Trên cơ sở các kết quả
nghiên cứu, phân tích, đánh giá, luận văn đa ra phơng hớng, giải pháp hoàn
thiện pháp luật CBCC ở Vệt Nam hiện nay.
* Nhiệm vụ:
Để đạt đợc mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Xem xét giải quyết một số vấn đề có tính lý luận cơ bản về pháp luật
CBCC nh: Khái niệm pháp luật cán bộ, công chức; đặc điểm; những tiêu chí đánh
giá pháp luật cán bộ, công chức qua các giai đoạn; những thành tựu của pháp luật
CBCC trên thế giới Việt Nam có thể tham khảo.
- Làm rõ quá trình hình thành phát triển và thực trạng pháp luật cán bộ công
chức qua các thời kỳ lịch sử ở Việt Nam
- Đa ra các quan điểm, giải pháp để hoàn thiện pháp luật CBCC ở nớc ta
hiện nay.
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Pháp luật về cán bộ, công chức là một lĩnh vực rộng, liên ngành, có sự
tham gia điều chỉnh của nhiều ngành luật khác nhau, nhng trong khuôn khổ
của luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu pháp luật CBCC dới góc độ lý luận lịch
sử nhà nớc và pháp luật.
CBCC theo quy định hiện nay có phạm vi rất rộng, không chỉ trong bộ
máy hành chính nhà nớc mà cả trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã
hội, trong các tổ chức đảng, đoàn thể. Luận văn đề cập đến các vấn đề có liên
quan đến CBCC ở tất cả các cơ quan hành chính nhà nớc từ Trung ơng đến cơ
6
sở trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức đảng,
đoàn thể.
5. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu của luận văn
Đề tài đợc nghiên cứu trên cơ sở lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác -
và phơng hớng hoàn thiện pháp luật cán bộ,
công chức ở Việt Nam
1.1. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật cán bộ, công
chức ở Việt Nam
1.1.1. Khái niệm pháp luật cán bộ, công chức
Nhà nớc XHCN ra đời đòi hỏi phải xây dựng một đội ngũ CBCC nhằm
thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nớc, đáp
ứng cho sự vận hành của BMNN. Cùng với quá trình tổ chức nhân sự là việc
ban hành các VBQPPL, điều chỉnh các quan hệ công vụ, quy định các vấn đề
liên quan đến việc thiết lập các chức vụ, quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm của
CBCC và nhiều vấn đề khác có liên quan đến hoạt động công vụ của Nhà nớc.
Pháp luật CBCC là hệ thống các quy phạm pháp luật thuộc nhiều ngành
luật khác nhau do các cơ quan nhà nớc ở Trung ơng, ở địa phơng ban hành. Nó
là một hệ thống những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội về
CBCC, gọi là quan hệ công vụ, là quan hệ của các cơ quan nhà nớc trong việc
lựa chọn con ngời để uỷ thác, trao quyền nhằm thực hiện nhiệm vụ và công vụ
nhân danh nhà nớc. Trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụ thì phát sinh
cả quyền lợi và nghĩa vụ từ hai phía là nhà nớc và CBCC. Để bảo vệ đợc mối
quan hệ này hay nói cách khác là bảo vệ quyền và nghĩa vụ của hai bên thì
phải có pháp luật điều chỉnh nó. Pháp luật CBCC có vai trò quan trọng trong
quá trình xây dựng, phát triển và hoàn thiện chế độ công vụ của Nhà nớc.
Chúng ta đang trong quá trình xây dựng Nhà nớc pháp quyền XHCN của dân,
do dân, vì dân điều đó đặt ra cho chúng ta những nhiệm vụ to lớn và cấp bách
trong tổ chức và hoạt động của BMNN. Đó là cải cách nền hành chính theo h-
ớng xây dựng một nền hành chính dân chủ trong sạch, vững mạnh chuyên
nghiệp, hiện đại hoá hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Muốn thực hiện đợc điều
đó, chúng ta phải xây dựng, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của
đội ngũ CBCC và xây dựng thể chế, cơ chế để quản lý CBCC phù hợp với xu
hớng cải cách, hoàn thiện BMNN hiện nay thông qua các quy phạm pháp luật
về CBCC.
lập các chức vụ cán bộ, công chức; các quyền nghĩa vụ của cán bộ,
công chức trong quá trình thực thi công vụ; việc tuyển dụng, sử
dụng, quản lý, khen thởng, kỷ luật cán bộ, công chức và các vấn đề
khác trong chính sách cán bộ, công chức nhà nớc [51, tr.115].
Do pháp luật CBCC là lĩnh vực pháp luật liên ngành bao gồm các quy
phạm pháp luật trong các ngành luật nh: Luật Lao động, Luật Hình sự, Luật
Hành chính. Trong đó, điều chỉnh các quan hệ xã hội trực tiếp liên quan tới
CBCC ở các vấn đề nh: chế độ làm việc, chế độ nghỉ ngơi, chế độ trợ cấp bảo
9
hiểm xã hội, ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, chế độ thai sản, chế
độ hu trí, chế độ tử tuất do Luật Lao động điều chỉnh. Luật Hình sự thì quy
định một số tội danh chỉ do chủ thể là CBCC thực hiện trong khi thi hành công
vụ và một số quy phạm pháp luật quy định về vấn đề tội phạm chức vụ. Luật
Dân sự điều chỉnh, quy định về vấn đề bồi thờng thiệt hại do CBCC nhà nớc
gây ra. Nh vậy, các quy phạm pháp luật về CBCC ở nớc ta nằm trong nhiều
ngành luật khác nhau
Nh vậy, thực chất pháp luật CBCC là một hệ thống các VBQPPL quy
định những vấn đề sau đây:
- Những quy định về địa vị pháp lý của CBCC: Địa vị pháp lý của
CBCC thể hiện rõ mối quan hệ của Nhà nớc và vị trí của bản thân CBCC thông
qua quyền hạn và trách nhiệm của họ đợc quy định trong pháp luật.
Quyền lợi của CBCC là những gì mà nhà nớc quy định cho họ đợc hởng
do hoạt động nhiệm vụ, công vụ của họ mang lại nh: CBCC đợc hởng tiền l-
ơng và các chế độ chính sách khác; Có quyền tham gia các hoạt động chính trị
- xã hội; Đợc tạo điều kiện để học tập nâng cao trình độ. Xét ở một góc độ
nhất định quyền hạn của CBCC bao gồm các quyền gắn với nghĩa vụ của
CBCC, nhng không phải bất cứ quyền và nghĩa vụ nào cũng là quyền hạn mà
quyền hạn của CBCC chỉ bao hàm những quyền và nghĩa vụ mang tính chất
quyền lực và có giá trị bắt buộc đối với các chủ thể khác. CBCC không đợc tự
ý mở rộng, thu hẹp hay không thực hiện quyền hạn đó mà buộc phải thực hiện
CBCC vi phạm kỷ luật và pháp luật trong quá trình thực thi công vụ.
- Những quy định về vấn đề truy cứu trách nhiệm đối với CBCC khi họ
có hành vi vi phạm pháp luật.
CBCC có nghĩa vụ thực thi công vụ, nhiệm vụ của mình; Phải chịu trách
nhiệm trớc pháp luật về việc thi hành nhiệm vụ, công vụ của mình; Cán bộ
lãnh đạo còn phải chịu trách nhiệm về việc thi hành nhiệm vụ, công vụ của
CBCC thuộc quyền. Đây là cơ sở, phơng tiện để nhân dân tham gia kiểm tra
giám sát đối với CBCC khi thi hành công vụ góp phần ngăn chặn kịp thời các
hành vi lạm quyền, tham nhũng.
- Các quy định về hiệu lực của VBQPPL và thẩm quyền giải thích, hớng
dẫn thi hành pháp luật về CBCC. Từ sự phân tích có thể đi tới khái niệm pháp
luật CBCC nh sau:
Pháp luật CBCC bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do các cơ
quan nhà nớc có thẩm quyền ban hành theo trình tự luật định nhằm quy định
vị trí, vai trò, chức năng của cán bộ, công chức; bảo vệ các quyền và lợi ích
hợp pháp của cán bộ, công chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh
trong lĩnh vực công vụ, công chức ở Việt Nam hiện nay.
1.1.2. Đặc điểm của pháp luật cán bộ, công chức
11
Pháp luật CBCC có những đặc điểm chung bắt nguồn từ bản chất của
pháp luật và bản chất của nhà nớc, nhng nó có những dấu hiệu đặc trng bị quy
định bởi chính hệ thống những quy phạm pháp luật về CBCC. Do đó, pháp
luật CBCC có các đặc điểm sau:
Thứ nhất: Pháp luật CBCC ra đời từ rất sớm và không ngừng phát triển
theo sự phát triển của xã hội.
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, nhân dân ta đã đập tan bộ
máy thực dân phong kiến và bãi bỏ những trật tự bất công, vô lý đồng thời
cũng thực hiện sự tách biệt giữa CBCC với các tầng lớp lao động khác. Mặc dù
trong những năm đầu chính quyền còn non trẻ, đứng trớc vô vàn khó khăn nh-
ng quán triệt t tởng của Bác Hồ là vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, Chính
nghị định của Chính phủ trong đó pháp lệnh CBCC, các nghị định của Chính phủ
về CBCC có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với vị trí là những văn bản chung.
Hiến pháp là đạo luật cơ bản, là cơ sở cho việc hình thành pháp luật
CBCC. Hiến pháp quy định các nguyên tắc có tính chính trị - xã hội thông qua
việc quy định nghĩa vụ quyền lợi cho CBCC cũng nh quy định trình tự pháp lý
của việc thiết lập các chức vụ của CBCC đề thực hiện các nhiệm vụ, quyền
hạn, chức năng của các cơ quan nhà nớc.
Pháp lệnh CBCC là văn bản trực tiếp và quan trọng nhất liên quan tới
mọi mặt đời sống của CBCC. Pháp lệnh xác định phạm vi CBCC; các quyền
nghĩa vụ của CBCC; các quy định về tuyển dụng, sử dụng, quản lý, đào tạo,
bồi dỡng, khen thởng, kỷ luật đối với CBCC
Các nghị định của Chính phủ điều chỉnh các mặt cụ thể của chế độ công
vụ, hoạt động của CBCC nh: tuyển dụng, sử dụng, quản lý, khen thởng, kỷ
luật, trách nhiệm bồi thờng vật chất.
Ngoài các luật, pháp lệnh và các VBQPPL dới luật khác có tính chất
chuyên ngành quy định quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các chức danh công
chức, chế độ công vụ của CBCC trong các ngành, lĩnh vực cụ thể.
Bộ Nội vụ là cơ quan của Chính phủ giúp Chính phủ thực hiện chức
năng quản lý nhà nớc đối với CBCC, ban hành các văn bản quy định tiêu
chuẩn chung các ngạch công chức, viên chức.
Các bộ, cơ quan ngang bộ trực tiếp ban hành các VBQPPL quy định chế
độ, trách nhiệm, tiêu chuẩn cụ thể của từng CBCC trong từng ngạch công
chức, viên chức áp dụng trong cơ quan, đơn vị.
Nh vậy, pháp luật CBCC nằm trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau
do cơ quan lập pháp, hành pháp, cơ quan nhà nớc ở Trung ơng cũng nh địa ph-
ơng ban hành.
Thứ ba: Phạm vi điều chỉnh của pháp luật CBCC rất rộng.
13
Do đặc điểm của hệ thống chính trị nớc ta, hoạt động do các cán bộ,
công chức, viên chức thực hiện không chỉ trong bộ máy của nhà nớc mà cả
Quyền và nghĩa vụ của CBCC: Đợc quy định trong các văn bản quy
phạm pháp luật về CBCC, những quy định về nghĩa vụ, quyền lợi của CBCC là
chuẩn mực để điều chỉnh hoạt động công vụ của CBCC. Quyền lợi của
14
CBCC thờng đi đôi với nghĩa vụ là yếu tố bảo đảm cho việc thực hiện tốt các
nghĩa vụ. Quyền lợi là cơ sở bảo đảm tốt, là điều kiện phơng tiện để CBCC
hoàn thành các nghĩa vụ đợc giao. Quyền lợi của CBCC còn là yếu tố bảo đảm
cho CBCC có sự thăng tiến, vơn lên trong công việc vì nó bao gồm cả quyền
lợi về chính trị, tinh thần và vật chất. Cùng với quyền lợi CBCC còn thực hiện
các nghĩa vụ trong khi thi hành công vụ. Các nghĩa vụ chính là các quy định
pháp lý mà CBCC phải thực hiện hoặc không đợc thực hiện một hành vi nào
đó. Pháp luật CBCC cũng quy định trách nhiệm pháp lý trong trờng hợp CBCC
lợi dụng chức vụ quyền hạn, lạm quyền.
Ngoài những vấn đề trên pháp luật CBCC còn có những nội dung nh:
Quy định về bộ máy quản lý CBCC, vấn đề nâng ngạch, chuyển ngạch, quy định
về thời hiệu của các VBQPPL và thẩm quyền giải thích hớng dẫn thi hành.
Tóm lại, pháp luật về CBCC điều chỉnh rất nhiều các quan hệ xã hội
phát sinh trong quá trình quản lý nhà nớc, quá trình tuyển chọn bổ nhiệm và
các vấn đề khác có liên quan đến hoạt động của CBCC.
1.2. Vai trò và tiêu chí đánh giá pháp luật cán bộ, công chức
1.2.1. Vai trò của pháp luật cán bộ, công chức
Một trong những vấn đề cơ bản và cấp bách đang đợc Đảng và Nhà nớc
ta đặc biệt quan tâm trong công cuộc đổi mới hiện nay đó là việc tiếp tục xây
dựng và hoàn thiện nhà nớc XHCN Việt Nam trong sạch, vững mạnh, hoạt
động có hiệu lực, hiệu quả. Trong BMNN, CBCC phải thật sự là công bộc, tận
tụy phục vụ nhân dân. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đã
khẳng định: "Phải xây dựng và ban hành văn bản pháp quy về chế độ công vụ
và công chức". Điều đó khẳng định tầm quan trọng và vai trò to lớn của pháp
luật CBCC vì nó là một trong những phơng tiện để tổ chức và quản lý nhà nớc.
Đặc biệt, trong điều kiện chúng ta đang xây dựng Nhà nớc pháp quyền XHCN
họ đóng vai trò sáng tạo pháp luật, tham mu đề xuất, xây dựng hệ
thống pháp luật hoàn chỉnh và tiến bộ của Nhà nớc pháp quyền của
dân, do dân, vì dân [41, tr.35].
Pháp luật CBCC quy định những việc mà CBCC không đợc làm đồng
thời cũng quy định những việc mà CBCC phải làm trong quá trình hoạt động
công vụ, phục vụ nhà nớc, phục vụ nhân dân, đây là những quy định vừa bảo
vệ đợc quyền, lợi ích hợp pháp của CBCC lại vừa bảo đảm cho các quyết định
quản lý nhà nớc đợc thực hiện một cách nghiêm chỉnh, phát huy cao độ trách
nhiệm, sự nghiêm minh trong hoạt động của CBCC, bảo đảm hoạt động quản
lý nhà nớc có hiệu lực, hiệu quả.
* Pháp luật CBCC là phơng tiện quan trọng bảo đảm quyền lực nhà n-
ớc đợc thực hiện, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân:
16
BMNN là một tổ chức công quyền quản lý mọi mặt đời sống xã hội
bằng pháp luật, việc thực thi nhiệm vụ đó đợc trao cho đội ngũ CBCC. Trong
phạm vi chức năng, nhiệm vụ đợc nhà nớc giao và thông qua hệ thống quy
phạm pháp luật CBCC, họ đợc quyền giải quyết mọi công việc theo đúng
nhiệm vụ, quyền hạn do luật định. Nên pháp luật CBCC bảo đảm cho quyền
lực Nhà nớc đợc thực hiện trong đời sống xã hội. CBCC thực hiện nghiêm chỉnh,
các mệnh lệnh, quyết định của pháp luật, hoàn thành tốt chức trách của mình là
bảo đảm đợc cho quyền lực nhà nớc đợc thực thi trong thực tế.
Trong khi thực thi nhiệm vụ, công vụ phải đề cao trách nhiệm trong bảo
vệ quyền tự do, lợi ích chính đáng của công dân, không đợc xâm phạm đến
quyền tự do, lợi ích hợp pháp nào của công dân, phải tôn trọng, lắng nghe ý
kiến của nhân dân, không quan liêu cửa quyền, có trách nhiệm. Các quy định của
pháp luật CBCC cũng nh các quy định của các ngành luật khác đều nhằm bảo
đảm các quyền tự do của con ngời. Đội ngũ CBCC thực thi công vụ, thực thi
pháp luật suy đến cùng là để bảo đảm công bằng, tự do hợp pháp của con ngời.
Pháp luật CBCC trao quyền hạn, nghĩa vụ cho CBCC thể hiện ở hai ph-
quyền tự do và bất cứ lợi ích hợp pháp nào nhân dân tôn trọng lắng nghe ý
kiến của nhân dân, không quan liêu, cửa quyền vô trách nhiệm.
Quan hệ giữa nhà nớc và CBCC, giữa CBCC với nhân dân là mối quan
hệ giữa ngời phục vụ và ngời đợc phục vụ nhng đó là mối quan hệ bình đẳng
CBCC không đứng trên quần chúng, ban phát quyền cho dân. Điều chỉnh mối
quan hệ này nói lên vai trò của pháp luật CBCC trong việc bảo vệ lợi ích nhà
nớc, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của công dân.
* Pháp luật CBCC là phơng tiện thể chế hoá đờng lối, chủ trơng, chính
sách của Đảng về xây dựng đội ngũ CBCC.
Nớc ta khác với các nớc trên thế giới, thể chế quản lý CBCC là một bộ
phận của hệ thống thể chế nhà nớc, là luật pháp hoá các nghị quyết, chiến lợc
cán bộ cũng nh các quyết định, quy định, hớng dẫn của Đảng về đề bạt, bổ
nhiệm cán bộ, đánh giá, sử dụng, phân cấp quản lý cán bộ. Đây là sự thể hiện
nguyên tắc Đảng thống nhất, lãnh đạo công tác cán bộ, từ việc tuyển dụng sử
dụng, đánh giá và bổ nhiệm cán bộ.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định:
Hoàn thiện chế độ công vụ, quy chế cán bộ, công chức coi
trọng cả năng lực và đạo đức; bảo đảm tính nghiêm túc, trung thực
trong thi tuyển cán bộ, công chức. Đào tạo, bồi dỡng cán bộ, công
chức, trớc hết là cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý về đờng lối, chính
sách về kiến thức và kỹ năng quản lý hành chính nhà nớc. Sắp xếp
lại đội ngũ cán bộ, công chức theo đúng chức danh, tiêu chuẩn.
Định kỳ kiểm tra, đánh giá chất lợng CBCC, kịp thời thay thế những
18
CBCC yếu kém và thoái hoá. Tăng cờng cán bộ cho cơ sở. Có chế
độ chính sách đào tạo, bồi dỡng đãi ngộ đối với cán bộ xã, phờng,
thị trấn [14, tr.135].
Nh vậy, đờng lối, chính sách của Đảng muốn đi vào thực tiễn cuộc sống
phải thông qua việc nhà nớc xây dựng, hoàn thiện hệ thống các VBQPPL về
CBCC. Việc thể chế hoá các quan điểm, đờng lối, chính sách của Đảng về
để đánh giá hệ thống pháp luật CBCC là một việc không dễ dàng, tuy nhiên
xin nêu một số tiêu chí để đánh giá pháp luật CBCC nh sau:
* Tính toàn diện:
Để đánh giá hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật CBCC nói riêng
trớc hết phải xem xét hệ thống pháp luật đó đã toàn diện cha. Đây có thể coi là
tiêu chí đầu tiên để xem xét đánh giá pháp luật CBCC. Tính toàn diện nghĩa là
tất cả những vấn đề gì có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến CBCC đều phải
đợc quy định trong các VBQPPL. Chừng nào mà các vấn đề có liên quan đến
việc: sử dụng, quản lý CBCC; chế độ chính sách, khen thởng, kỷ luật; trách
nhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn; tiêu chuẩn, chức danh; đào tạo bồi dỡng còn
thiếu vắng nghĩa là pháp luật CBCC vẫn còn lỗ hổng cha toàn diện, cha bao
quát đợc hết các vấn đề thì khi đó hệ thống pháp luật CBCC vẫn cha đợc coi là
hoàn chỉnh và hoàn thiện.
Pháp luật CBCC phải xác định rõ đối tợng và phạm vi điều chỉnh, vì
vậy, đòi hỏi mọi vấn đề có liên quan đến CBCC phải đợc quy định đầy đủ, rõ
ràng, rành mạch trong một hệ thống VBQPPL thống nhất.
Tính toàn diện của hệ thống VBQPPL về CBCC còn thể hiện trong việc
ban hành đầy đủ, kịp thời các VBQPPL. Mặc dù, chúng ta đã có pháp lệnh
CBCC nhng còn thiếu các quy định về công vụ, thanh tra công vụ, quy chế
hoạt động công vụ, đạo đức công vụ đây là những vấn đề mà các nớc trên
thế giới đã xây dựng từ lâu. Có thể coi đây là một khiếm khuyết lớn trong xây
dựng và hoàn thiện pháp luật CBCC nh vậy dẫn đến tiêu chí về tính toàn diện
cha đáp ứng đợc. Đem đến hậu quả là hoạt động của CBCC nhà nớc cha đợc
bảo đảm về mặt pháp lý và gây ra những khó khăn cho việc xác lập kỷ c-
ơng, trật tự trong cơ quan tổ chức và nhất là trong hoạt động công vụ, giải
quyết công việc của CBCC. Khi nào mà trên thực tế hoạt động xây dựng
pháp luật cho ra các "sản phẩm" mang tính đồng bộ, bao quát toàn diện các
vấn đề liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động công vụ, đến CBCC thì
tiêu chí về tính toàn diện của hệ thống pháp luật mới đợc đáp ứng.
Tóm lại, tiêu chí về tính toàn diện của hệ thống pháp luật CBCC là phải
các chính sách đối với CBCC để tránh hiện tợng có sự chênh lệch, vênh nhau
trong việc thực thi chính sách, chế độ đối với CBCC.
Tính đồng bộ còn thể hiện ở sự hài hoà nhng rõ ràng, rành mạch giữa
các quy định. Trên thực tế hệ thống pháp luật CBCC của chúng ta cha quy
định rõ giữa nghĩa vụ của CBCC với các quy định về tiêu chuẩn đạo đức của
CBCC khi tham gia hoạt động công vụ mà các quy định này còn nằm tản mạn
trong các VBQPPL khác nhau. Nh vậy, khi tiêu chí về tính đồng bộ, thống
nhất của hệ thống pháp luật CBCC không đợc đảm bảo sẽ có ảnh hởng không
21
nhỏ đến chất lợng cũng nh hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý của nhà nớc
và chất lợng đội ngũ CBCC.
* Tính khả thi:
Pháp luật về CBCC phải bảo đảm tính khả thi, tính khả thi ở đây nghĩa
là yêu cầu, đòi hỏi các VBQPPL về CBCC phải phù hợp với thực tiễn cuộc
sống, đáp ứng đợc các yêu cầu khách quan của thực tiễn. Bởi vì, thực tiễn
chính là nơi phản ánh và cũng là nơi để kiểm nghiệm tính đúng đắn của các
chủ trơng, đờng lối, chính sách của Đảng đợc đa vào cuộc sống thông qua hệ
thống pháp luật của Nhà nớc. Vì vậy, có thể coi đây là một tiêu chí quan trọng
để đánh giá xem xét sự điều chỉnh của pháp luật đối với CBCC có phù hợp
không, có kịp thời thể chế hoá chủ trơng, chính sách của Đảng, phù hợp với
điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nớc hay không.
Vì vậy, tiêu chí về tính khả thi của hệ thống pháp luật đòi hỏi pháp luật
phải đợc xây dựng ban hành căn cứ vào thực tiễn khách quan của cuộc sống,
phải đặt trong mối liên hệ giữa sự phát triển của kinh tế - xã hội với xây dựng
pháp luật. Do đó, khi xây dựng, ban hành các VBQPPL phải: nghiên cứu kỹ
thực tiễn xã hội; các quá trình kinh tế - chính trị của đất nớc; phải xuất phát
từ thực trạng và những đòi hỏi khách quan của việc xây dựng đội ngũ
CBCC; phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, đặc điểm lịch sử, t tởng, văn
hoá, truyền thống dân tộc và chủ trơng, đờng lối, chính sách của Đảng về
đổi mới hệ thống chính trị; xuất phát từ thực tiễn xây dựng Nhà n ớc pháp
luật CBCC.
Ngoài ra, tính khoa học còn thể hiện ở tính lôgíc nghĩa là khi xây dựng
và ban hành các VBQPPL CBCC phải tuân theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ
theo quy định của pháp luật. Chẳng hạn, khi ban hành VBQPPL nói chung,
pháp luật CBCC nói riêng các cơ quan có thẩm quyền phải có trách nhiệm tổ
chức thảo luận, lấy ý kiến đóng góp của các tổ chức, ban ngành có liên quan,
trờng hợp cần thiết phải lấy ý kiến đóng góp của nhân dân. Vấn đề này phải đ-
ợc thực hiện theo luật ban hành VBQPPL và đây cũng là một trong những
cách thức để nâng cao chất lợng điều chỉnh của pháp luật CBCC.
Tính khoa học còn đòi hỏi trong hoạt động xây dựng pháp luật phải biết
sử dụng tổng hợp các tri thức và phơng pháp khoa học để xác định quan hệ
nào cần điều chỉnh bằng pháp luật, nhu cầu điều chỉnh của pháp luật nên đặt ở
mức độ nào và theo phơng thức nào, có đảm bảo, có hiện thực không, phải dự
trù đợc những hậu quả tích cực, tiêu cực sẽ nh thế nào. Đánh giá pháp luật
CBCC của chúng ta trong các giai đoạn lịch sử cũng nh hiện nay chúng ta thấy
cha đáp ứng đợc tiêu chí này. Một số quy phạm pháp luật khi đặt ra cha tính
hết khả năng thực thi và những hậu quả tiêu cực xảy ra trong thực tế. Đây
23
cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng pháp luật CBCC của chúng ta vừa
thừa nhng lại thiếu.
Một khía cạnh nữa của tính khoa học trong hệ thống pháp luật CBCC
là tất cả các VBQPPL về CBCC từ thấp đến cao đều đợc xây dựng với
phong cách biểu đạt ngôn ngữ trong sáng, đại chúng, dễ hiểu và phải đ ợc
hiểu một cách thống nhất.
Tiêu chí về tính khoa học là một tiêu chí cần thiết khi đánh giá hệ thống
pháp luật CBCC ở bất cứ giai đoạn lịch sử nào và nó phải đợc quán triệt sâu
sắc trong quá trình đổi mới, hoàn thiện pháp luật CBCC để tránh khuynh hớng
chủ quan, tùy tiện, duy ý chí. Tiêu chí về tính khoa học có tác dụng khắc
phục những nhợc điểm của chủ nghĩa kinh nghiệm, phát huy những thành
tựu của nhiều lĩnh vực khoa học vào quá trình xây dựng luật, làm cho pháp
bảo đảm về mặt chức nghiệp. Công chức thuộc cơ quan chính quyền địa ph-
ơng không đợc coi là công chức nhà nớc và không trực thuộc chính quyền
Trung ơng.
Nền hành chính Pháp mang nặng tính quan liêu, do đó công chức Pháp
chỉ chịu trách nhiệm trớc cấp trên, lấy việc tuân mệnh lệnh làm chính, chú
trọng hình thức, quy định, trình tự làm việc đúng thủ tục, giấy tờ, sách vở.
Công chức của nớc Pháp chia thành 4 loại A, B, C, D.
Loại A: là ngời có bằng đại học đợc bổ nhiệm làm lãnh đạo hay chức vụ
cao.
Loại B: là ngời đã qua bậc trung học, họ là những công chức trung cấp
nh thanh tra viên, th ký.
Loại C: là công chức có bằng tốt nghiệp sơ cấp nh tốc ký đánh máy.
Loại D: là công chức có trình độ văn hoá bậc tiểu học, làm những công
việc không có chuyên môn.
Hàng năm Chính phủ yêu cầu mỗi công chức phải làm bản tự kiểm
điểm để đa ra nhận xét, đánh giá khả năng nghiệp vụ của họ. Việc thăng cấp
cho công chức chia làm 2 loại: Nâng bậc và đề bạt. Có hai hình thức tiến hành
đề bạt chức vụ: Một là: Hình thức lựa chọn, đối với những ngời có thời gian
công tác khá lâu thì lãnh đạo căn cứ vào nhận xét của các công chức trong
khoảng thời gian 3 năm. Sau đó Hội đồng hành chính lập hội đồng đề bạt,
xem xét trình độ, nghiệp vụ, bậc lơng của từng ngời, Hội đồng đa ra ý kiến đề
xuất lãnh đạo quyết định. Hai là: Thi nghiệp vụ do Hội đồng thi sát hạch đánh
giá, phân loại lên danh sách chon ngời xuất sắc để đề bạt trong năm. Hình
thức đề bạt nói chung tơng đơng nh đợc tăng lơng.
Vấn đề kỷ luật công chức ở Pháp nếu phạm tội hình sự do toà án hình
sự xét xử, phạm luật hành chính do toà án hành chính xét xử, vi phạm kỷ luật
lao động do ngời bổ nhiệm công chức tiến hành kỷ luật. Đối với các tội nh
tham nhũng, hối lộ thì có các hình thức kỷ luật nh: cách chức, đình chỉ lĩnh
tiền lơng hu, hoặc không đợc ghi tên vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Công
25