Mục lục
Trang
Mở đầu
1
Chơng 1: những vấn đề lý luận về quá trình phát triển
và phơng hớng hoàn thiện pháp luật cán bộ,
công chức ở Việt Nam
10
1.1. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật cán bộ, công chức ở Việt Nam 10
1.2. Vai trò và tiêu chí đánh giá pháp luật cán bộ, công chức 19
1.3. Pháp luật cán bộ, công chức của một số nớc trên thế giới và
những thành tựu có thể vận dụng đợc ở Việt Nam 29
Chơng 2: quá trình phát triển, thực trạng và phơng h-
ớng, giải pháp hoàn thiện pháp luật cán bộ,
công chức ở Việt Nam
49
2.1. Quá trình phát triển của pháp luật cán bộ, công chức ở Việt Nam 49
2.2. Đánh giá thực trạng pháp luật cán bộ, công chức ở Việt Nam
hiện nay 76
2.3. Quan điểm và phơng hớng, giải pháp hoàn thiện pháp luật cán
bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay 84
kết luận
101
danh mục tài liệu tham khảo
103
1
Danh mục các chữ viết tắt trong luận văn
BMNN : Bộ máy nhà nớc
CB, CC : Cán bộ, công chức
CNH, HĐH : Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ĐCSVN : Đảng Cộng sản Việt Nam
kỷ luật công chức hành chính. Quy định các chế độ đào tạo, tuyển
dụng, sử dụng công chức. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà
nớc vừa có trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp cao, vừa
giác ngộ về chính trị có tinh thần trách nhiệm, tận tuỵ, công tâm,
vừa có đạo đức liêm khiết khi thi hành công vụ [13, tr.132].
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX lại tiếp tục khẳng định:
Hoàn thiện chế độ công vụ, quy chế cán bộ, công chức, bảo đảm
tính nghiêm túc, trung thực trong thi tuyển cán bộ, công chức
trớc hết là cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý về đờng lối, chính sách,
về kiến thức và kỹ năng quản lý hành chính nhà nớc. Sắp xếp đội
ngũ cán bộ, công chức theo đúng chức danh tiêu chuẩn. Định kỳ
3
kiểm tra, đánh giá chất lợng cán bộ, công chức kịp thời thay thế cán
bộ, công chức yếu kém, thoái hoá. Tăng cờng cán bộ, có chế độ
chính sách đào tạo, bồi dỡng, đãi ngộ đối với cán bộ xã, phờng, thị
trấn [14, tr.135].
Điều đó khẳng định tầm quan trọng và vai trò to lớn của pháp luật
CBCC. Trên cơ sở định hớng từ các văn bản, nghị quyết của Đảng, nhà nớc ta
đã ban hành nhiều VBQPPL tạo thành một hệ thống pháp luật CBCC mà bớc
đột phá đầu tiên là việc UBTVQH ban hành pháp lệnh CBCC ngày
26/02/1998. Sau một thời gian thực hiện pháp lệnh CBCC năm 1998 bộc lộ
một số hạn chế trong quá trình quản lý, sử dụng đội ngũ CBCC. Do đó,
UBTVQH đã ban hành pháp lệnh sửa đổi, bổ sung năm 2002 và hiện nay là
pháp lệnh CBCC sửa đổi, bổ sung năm 2003.
Trong suốt cả quá trình từ khi thành lập nớc VNDCCH cho đến hiện
nay pháp luật CBCC nói chung và pháp lệnh CBCC nói riêng đã phần nào bám
sát các nhiệm vụ chính trị, đã cụ thể hoá đợc chủ trơng, đờng lối, chính sách
của Đảng và nhà nớc về công tác cán bộ.
Ngay sau khi thành lập nớc VNDCCH Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc
lệnh 76/SL ban hành quy chế công chức Việt Nam mặc dù do hoàn cảnh chiến
của công cuộc xây dựng, phát triển đất nớc.
Một trong những mục tiêu cụ thể của chơng trình là hoàn thiện hệ thống
thể chế hành chính, cơ chế, chính sách phù hợp với thời kỳ công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nớc. Vì thế, việc đổi mới hoàn thiện pháp luật, cơ chế, chính
sách về cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách nền hành
chính nhà nớc là một yêu cầu cần thiết. Mặt khác, chúng ta đang trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế, là thành viên của tổ chức thơng mại Thế giới
đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức ngoài phẩm chất, năng lực chuyên môn
nghiệp vụ còn phải có trình độ quản lý nhà nớc, ngoại ngữ, tin học, am hiểu
luật pháp và thông lệ quốc tế đợc trang bị kiến thức về hội nhập đòi hỏi pháp
luật cán bộ, công chức phải đợc hoàn thiện theo xu hớng đó.
Xuất phát từ những lý do nh trên mà tác giả đã chọn đề tài Lịch sử
phát triển và phơng hớng hoàn thiện pháp luật cán bộ, công chức ở Việt
Nam hiện nay, để nghiên cứu, viết luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề pháp luật CBCC, hoàn thiện pháp luật CBCC đã đợc một số tác
giả quan tâm nghiên cứu. Trên thực tế hiện nay đã có các công trình khoa học
nghiên cứu và đề cập đến vấn đề này nh sau:
5
- Đổi mới và hoàn thiện pháp luật cán bộ, công chức nhà n ớc ở nớc ta
của tác giả Nguyễn Văn Tâm, luận án PTS luật học, Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh, 1997.
Đây là một công trình khoa học tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và
thực tiễn của việc đổi mới và hoàn thiện pháp luật về công chức nhà nớc nhằm
tạo môi trờng pháp lý ổn định cho chế độ công chức nhà nớc phù hợp với tình
hình, đặc điểm của hệ thống chính trị nớc ta.
- Pháp luật về công chức Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, luận văn
thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Kim Oanh, bảo vệ tại Viện Nhà nớc pháp luật
năm 2005.
Đây là một công trình trình bày cơ sở lý luận về công chức, pháp luật về
Thang Văn Phúc và TS Nguyễn Minh Phơng (đồng chủ biên) Nxb Chính trị
guốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2005.
- Công chức và vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay
của tác giả Tô Tử Hạ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003.
- Tiếp tục hoàn thiện thể chế quản lý cán bộ, công chức nhà nớc của
Thang Văn Phúc, Tạp chí Cộng sản, số 22+23 - 2003.
- Đổi mới, hoàn thiện về cán bộ, công chức nhà n ớc của tác giả Trịnh
Xuân Toản, Tạp chí Nhà nớc và pháp luật, số 4 - 2003.
- Vài suy nghĩ về công tác quản lý đội ngũ, cán bộ công chức trong bộ máy
nhà nớc của Ngọc Giang và Phạm Thắng của Tạp chí Quản lý nhà nớc.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức đáp ứng yêu cầu của Nhà nớc
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của TS Nguyễn Minh Phơng, Tạp chí Lý luận
chính trị, tháng 1 - 2006.
- Đội ngũ cán bộ, công chức ở n ớc ta của tác giả Nguyễn Văn Vinh.
Tạp chí Hoạt động khoa học, số 4 - 2002.
- Về xây dựng cơ cấu ngạch công chức trong các cơ quan hành chính
nhà nớc của tác giả Vũ Đăng Minh, Tạp chí Quản lý nhà nớc.
- Hoàn thiện pháp luật về công vụ, công chức và trách nhiệm pháp lý
của công chức của tác giả Thái Vĩnh Thắng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số
2 - 2005.
- Công tác kế hoạch, đào tạo bồi dỡng cán bộ công chức hiện nay của
tác giả Ngô Thành Can, Tạp chí Tổ chức nhà nớc, số 12 - 2002.
- Những điểm mới của pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp
lệnh cán bộ cán bộ, công chức của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà, Tạp chí Quản
lý nhà nớc.
- Những quan điểm cơ bản xây dựng đội ngũ công chức hành chính Nhà
nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của tác giả Chu Văn Thành và Hà Quang
Ngọc, Tạp chí Cộng sản, số 19 - 2003.
7
Trên đây là những công trình, tài liệu làm nguồn t liệu tham khảo có giá
máy hành chính nhà nớc mà cả trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã
hội, trong các tổ chức đảng, đoàn thể. Luận văn đề cập đến các vấn đề có liên
quan đến CBCC ở tất cả các cơ quan hành chính nhà nớc từ Trung ơng đến cơ
8
sở trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức đảng,
đoàn thể.
5. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu của luận văn
Đề tài đợc nghiên cứu trên cơ sở lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác -
Lênin, t tởng Hồ Chí Minh về nhà nớc và pháp luật. Cùng với các quan điểm
của Đảng và nhà nớc ta về xây dựng, hoàn thiện nhà nớc và pháp luật nói
chung và pháp luật về CBCC nói riêng.
Các phơng pháp đợc sử dụng trong luận văn là các phơng pháp của
truyền thống của khoa học xã hội: Phơng pháp kết hợp lý luận và thực tiễn,
phơng pháp phân tích và tổng hợp, phơng pháp lịch sử cụ thể, phơng pháp hệ
thống, phơng pháp so sánh, phơng pháp xã hội học.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Luận văn làm sáng tỏ vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật CBCC ở Việt Nam.
- Khái quát đợc quá trình phát triển của pháp luật CBCC qua các thời kỳ
cách mạng ở Việt Nam, đồng thời đa ra những nhận xét, đánh giá về hệ thống
pháp luật CBCC hiện hành.
- Đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện pháp luật CBCC Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay.
7. ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý
luận có liên quan đến pháp luật CBCC nh: Phân tích để làm rõ khái niệm pháp
luật CBCC; phân tích các đặc điểm cũng nh đa ra tiêu chí đánh giá pháp luật
CBCC đồng thời, tổng kết đánh giá pháp luật CBCC qua các thời kỳ lịch sử ở
Việt Nam cũng nh pháp luật CBCC hiện hành trên cơ sở đó để đa ra phơng h-
ớng, giải pháp hoàn thiện pháp luật CBCC. Kết quả nghiên cứu của luận văn
có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy, giúp các cơ
do dân, vì dân điều đó đặt ra cho chúng ta những nhiệm vụ to lớn và cấp bách
trong tổ chức và hoạt động của BMNN. Đó là cải cách nền hành chính theo h-
ớng xây dựng một nền hành chính dân chủ trong sạch, vững mạnh chuyên
nghiệp, hiện đại hoá hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Muốn thực hiện đợc điều
đó, chúng ta phải xây dựng, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của
đội ngũ CBCC và xây dựng thể chế, cơ chế để quản lý CBCC phù hợp với xu
hớng cải cách, hoàn thiện BMNN hiện nay thông qua các quy phạm pháp luật
về CBCC.
Pháp luật CBCC có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm cho việc xây
dựng, phát triển và vận hành của chế độ CBCC. Vì vậy, hầu hết các nớc trên
thế giới đều quan tâm, coi trọng việc xây dựng pháp luật CBCC. Sự ra đời của
10
Nhà nớc gắn liền với chức năng tổ chức nhân sự, phải có một lớp ngời đặc biệt
chuyên làm chức năng quản lý và thực thi quyền lực để duy trì cho hoạt động
của BMNN.
Hiện nay đang có nhiều quan điểm khác nhau về pháp luật CBCC. Có ý
kiến cho rằng: Pháp luật CBCC là những chính sách về CBCC của Nhà nớc. Có
ngời lại cho rằng: Pháp luật CBCC bao gồm các văn kiện có tính quy phạm liên
quan đến việc quản lý nhân sự trong chính sách của chế độ công chức nhà nớc
[8, tr.41].
Theo một số tác giả các nớc xã hội chủ nghĩa trớc đây do đặc điểm về
chính trị, một số văn bản của Đảng quy định về vấn đề CBCC cũng có hiệu lực
nh các quy phạm pháp luật CBCC mà các cơ quan Đảng, chính quyền nhà nớc
cấp dới có trách nhiệm phải thi hành trong thực tiễn quản lý nhà nớc.
Các quan điểm trên cha đi sâu nghiên cứu ý nghĩa, nội dung, bản chất
cũng nh hình thức của pháp luật CBCC nên cha đa ra đợc quan niệm có tính
khái quát nhất về vấn đề này.
Trên thực tế, đội ngũ CBCC là những con ngời, những nhân vật đợc nhà
nớc lựa chọn, giao cho họ một nhiệm vụ cụ thể để họ hoàn thành chức năng
quản lý nhà nớc. Đội ngũ này nhận sự "uỷ thác", "uỷ quyền" của Nhà nớc, họ
do hoạt động nhiệm vụ, công vụ của họ mang lại nh: CBCC đợc hởng tiền l-
ơng và các chế độ chính sách khác; Có quyền tham gia các hoạt động chính trị
- xã hội; Đợc tạo điều kiện để học tập nâng cao trình độ. Xét ở một góc độ
nhất định quyền hạn của CBCC bao gồm các quyền gắn với nghĩa vụ của
CBCC, nhng không phải bất cứ quyền và nghĩa vụ nào cũng là quyền hạn mà
quyền hạn của CBCC chỉ bao hàm những quyền và nghĩa vụ mang tính chất
quyền lực và có giá trị bắt buộc đối với các chủ thể khác. CBCC không đợc tự
ý mở rộng, thu hẹp hay không thực hiện quyền hạn đó mà buộc phải thực hiện
quyền hạn của mình một cách tích cực để hoàn thành tốt nhiệm vụ, công vụ đ-
ợc giao.
- Các quy định về điều kiện phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ về
quyền hạn, trách nhiệm của CBCC. Đó là các vấn đề về tuyển dụng, bổ nhiệm
CBCC, thăng chức, cách chức, thuyên chuyển, điều động CBCC, khen thởng,
kỷ luật, hu trí và sa thải
Đây là những vấn đề rất quan trọng trong pháp luật CBCC vì nó là
những yếu tố để nhà nớc có thể lựa chọn đợc những CBCC có đủ điều kiện,
tiêu chuẩn theo quy định và bố trí họ vào một vị trí công việc thích hợp mà họ
có đủ khả năng để hoàn thành những nhiệm vụ mà nhà nớc giao phó.
- Các quy định về tổ chức quản lý, sử dụng CBCC, cơ quan quản lí
CBCC, các quy định về chế độ đào tạo, bồi dỡng phân loại, xếp hạng, đánh giá
CBCC.
12
Trong điều kiện xây dựng Nhà nớc pháp quyền XHCN dới sự lạnh đạo
của Đảng thì vấn đề quản lý sử dụng CBCC là một vấn đề quan trọng nhằm
xây dựng đợc một đội ngũ CBCC trong sạch vững mạnh. Sử dụng CBCC
không chỉ là vấn đề có tính kỹ thuật, khoa học mà là cả một nghệ thuật. Việc
sử dụng CBCC có hiệu quả đòi hỏi các nhà tổ chức, quản lý phải thực sự sáng
tạo vì tiềm năng của con ngời, của nhân loại là vô hạn còn khả năng của mỗi
cá nhân lại là hữu hạn. Đây là vấn đề quan trọng trong công tác cán bộ của
Đảng và Nhà nớc ta, việc sử dụng CBCC cần kết hợp hai yếu tố đó là các tiêu
luật CBCC có các đặc điểm sau:
Thứ nhất: Pháp luật CBCC ra đời từ rất sớm và không ngừng phát triển
theo sự phát triển của xã hội.
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, nhân dân ta đã đập tan bộ
máy thực dân phong kiến và bãi bỏ những trật tự bất công, vô lý đồng thời
cũng thực hiện sự tách biệt giữa CBCC với các tầng lớp lao động khác. Mặc dù
trong những năm đầu chính quyền còn non trẻ, đứng trớc vô vàn khó khăn nh-
ng quán triệt t tởng của Bác Hồ là vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, Chính
phủ cách mạng lâm thời đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghiên cứu để
thiết lập một chế độ công chức mới bắt nguồn từ hiến pháp 1946 và các văn
bản pháp luật khác. Đây chính là cơ sở pháp luật CBCC đầu tiên ở nớc ta và
nó là cơ sở cho việc hình thành các VBQPPL CBCC về sau.
Trong giai đoạn vừa kháng chiến vừa kiến quốc Chính phủ cũng đã
ban hành các VBQPPL làm cơ sở để quản lý đội ngũ CBCC. Trong giai đoạn
này tuy PLCBCC mới hình thành nhng đã thực sự góp phần làm tăng thêm
hiệu lực hoạt động của BMNN, củng cố chính quyền cách mạng, thúc đẩy
công cuộc kháng chiến kiến quốc đi đến thắng lợi.
Sau khi hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất nớc nhà
dới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân ta tiến hành công cuộc xây dựng CNXH
trên phạm vi cả nớc. Nh vậy, khi cách mạng chuyển sang một giai đoạn mới,
pháp luật CBCC đã tạo thành một hệ thống VBQPPL điều chỉnh các nội dung
có liên quan đến: Quyền lợi, trách nhiệm, kỷ luật cho toàn bộ cán bộ, công
nhân, viên chức là lực lợng lao động thờng xuyên. Do đó, tạo nên một đội ngũ
cán bộ, công nhân, viên chức đông đảo phấn đấu cho mục tiêu chiến lợc của
cách mạng cả nớc.
Có thể khẳng định rằng, pháp luật CBCC ở nớc ta ra đời từ rất sớm, phát
triển cùng thời gian đã có những đổi mới nhất định. Qua các thời kỳ khác
nhau của lịch sử pháp luật CBCC đã kịp thời thể chế hoá đờng lối, chủ trơng
chính sách của Đảng và Nhà nớc phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã
hội của đất nớc. Pháp luật CBCC hiện hành đã theo kịp tiến trình đổi mới toàn
chức, viên chức áp dụng trong cơ quan, đơn vị.
Nh vậy, pháp luật CBCC nằm trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau
do cơ quan lập pháp, hành pháp, cơ quan nhà nớc ở Trung ơng cũng nh địa ph-
ơng ban hành.
Thứ ba: Phạm vi điều chỉnh của pháp luật CBCC rất rộng.
15
Do đặc điểm của hệ thống chính trị nớc ta, hoạt động do các cán bộ,
công chức, viên chức thực hiện không chỉ trong bộ máy của nhà nớc mà cả
trong các tổ chức Đảng, trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
và nhiều tổ chức xã hội khác thực hiện. Do đó, phạm vi điều chỉnh của pháp
luật CBCC là rất rộng, điều chỉnh hoạt động của các đối tợng làm việc công
nghĩa là hoạt động của mọi cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong các tổ
chức cấu thành của hệ thống chính trị phục vụ các công việc chung của xã hội.
Pháp lệnh CBCC sửa đổi, bổ sung năm 2003 đã phân định rõ đối tợng
điều chỉnh là cán bộ công chức hành chính, cán bộ viên chức sự nghiệp, bổ
sung cán bộ chuyên trách cấp xã và quy định thêm đối tợng là công chức dự bị
trong các cơ quan nhà nớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
Thứ t: Pháp luật CBCC có nội dung phong phú, quy định nhiều vấn đề
về CBCC.
Nội dung của pháp luật CBCC bao gồm rất nhiều các quy định có liên
quan đến hoạt động công vụ của CBCC nh: Tổ chức, tuyển dụng, sử dụng,
quản lý CBCC; quy định về điều kiện phát sinh thay đổi, chấm dứt quan hệ về
quyền nghĩa vụ, trách nhiệm của CBCC; địa vị pháp lý của CBCC; các chế độ
đãi ngộ, khen thởng, kỷ luật, truy cứu trách nhiệm CBCC.
Tuyển dụng CBCC đợc coi là nội dung quan trọng, là khâu đầu tiên xác
lập mối quan hệ giữa CBCC với nhà nớc. Do đó, vấn đề tuyển dụng phải bao
quát hết các nội dung: Điều kiện tuyển dụng, hình thức tuyển dụng và nội
dung tuyển dụng. Thông qua tuyển dụng lựa chọn đợc những ngời có đủ điều
kiện, tiêu chuẩn theo quy định để bố trí cho CBCC vào một vị trí công việc
thích hợp.
ta đặc biệt quan tâm trong công cuộc đổi mới hiện nay đó là việc tiếp tục xây
dựng và hoàn thiện nhà nớc XHCN Việt Nam trong sạch, vững mạnh, hoạt
động có hiệu lực, hiệu quả. Trong BMNN, CBCC phải thật sự là công bộc, tận
tụy phục vụ nhân dân. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đã
khẳng định: "Phải xây dựng và ban hành văn bản pháp quy về chế độ công vụ
và công chức". Điều đó khẳng định tầm quan trọng và vai trò to lớn của pháp
luật CBCC vì nó là một trong những phơng tiện để tổ chức và quản lý nhà nớc.
Đặc biệt, trong điều kiện chúng ta đang xây dựng Nhà nớc pháp quyền XHCN
của dân, do dân, vì dân, Nhà nớc lấy pháp luật làm công cụ chủ yếu để điều
hành và quản lý đất nớc. Trong đó, CBCC đóng vai trò rất quan trọng là thực
thể và yếu tố cấu thành của BMNN và CBCC trong quá trình hoạt động cũng
phải dựa trên cơ sở pháp luật. Do đó, pháp luật CBCC đóng vai trò hết sức
quan trọng trong đời sống xã hội ở nớc ta hiện nay
* Pháp luật CBCC là một phơng tiện quan trọng trong tổ chức và hoạt
động quản lý nhà nớc.
Quản lý nhà nớc là lĩnh vực có quy mô và phạm vi hoạt động rất rộng,
bao gồm nhiều mối quan hệ cần điều chỉnh, trong đó quan hệ nhân sự là một
17
trong những vấn đề quan trọng. Pháp luật CBCC là tổng hợp các quy phạm
pháp luật liên quan đến hoạt động công vụ của BMNN.
Đội ngũ cán bộ, công chức đóng vai trò quan trọng trong xây
dựng, hoàn thiện bộ máy nhà nớc, trong hoạt động công vụ. Hiệu
quả của bộ máy nhà nớc nói riêng và của toàn bộ hệ thống chính trị
nói chung xét đến cùng đợc quyết định bởi phẩm chất, năng lực,
hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ, công chức. Có thể nói đây là
vấn đề cực kỳ quan trọng đợc Đảng và Nhà nớc ta quan tâm trong
suốt quá trình từ khi xây dựng nhà nớc dân chủ nhân dân cho đến
nay [41, tr.33].
Các VBQPPL về CBCC quy định phạm vi, quyền hạn, nghĩa vụ và trách
nhiệm của CBCC, điều đó nói lên rằng, pháp luật CBCC đã tạo ra một hành
Trong khi thực thi nhiệm vụ, công vụ phải đề cao trách nhiệm trong bảo
vệ quyền tự do, lợi ích chính đáng của công dân, không đợc xâm phạm đến
quyền tự do, lợi ích hợp pháp nào của công dân, phải tôn trọng, lắng nghe ý
kiến của nhân dân, không quan liêu cửa quyền, có trách nhiệm. Các quy định của
pháp luật CBCC cũng nh các quy định của các ngành luật khác đều nhằm bảo
đảm các quyền tự do của con ngời. Đội ngũ CBCC thực thi công vụ, thực thi
pháp luật suy đến cùng là để bảo đảm công bằng, tự do hợp pháp của con ngời.
Pháp luật CBCC trao quyền hạn, nghĩa vụ cho CBCC thể hiện ở hai ph-
ơng diện là:
- Quan hệ giữa CBCC với Nhà nớc.
Pháp luật quy định các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm, các bảo đảm pháp
lý, các việc CBCC không đợc làm là tạo hành lang pháp lý, điều kiện cho
CBCC hoàn thành chức trách, nhiệm vụ của mình. Khi đợc xác định rõ ràng
bằng pháp luật các nghĩa vụ của mình thì ngời CBCC có trách nhiệm phải thực
hiện các chức trách và bổn phận để bảo vệ danh dự, uy tín của Nhà nớc. Quan
hệ giữa CBCC với Nhà nớc thể hiện nghĩa vụ trung thành, phục vụ nhà nớc,
phục vụ nhân dân đều đợc quy định trong các văn bản pháp luật có tầm quan
trọng. Ngợc lại để CBCC hoàn thành tốt nhiệm vụ pháp luật phải bảo đảm các
quyền cho CBCC để họ có thể yên tâm hoàn thành nhiệm vụ của mình. Tóm
lại, trong mối quan hệ này pháp luật có vai trò xác định trách nhiệm của
CBCC đối với nhà nớc.
- Quan hệ giữa CBCC với công dân.
Trong Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì
dân, nhân dân là cội nguồn của quyền lực nhà nớc, nhân dân là chủ thể
tối cao và duy nhất của quyền lực nhà nớc. Khi dân là chủ, dân làm
chủ địa vị cao nhất trong xã hội là dân, quyền lực nhà nớc thuộc về
19
nhân dân thì cán bộ, công chức nhà nớc không còn là phụ mẫu chi dân
(cha mẹ của dân) mà là những công bộc của dân [41, tr.50].
Trong mối quan hệ này pháp luật xác định CBCC là công bộc của dân,
Định kỳ kiểm tra, đánh giá chất lợng CBCC, kịp thời thay thế những
20
CBCC yếu kém và thoái hoá. Tăng cờng cán bộ cho cơ sở. Có chế
độ chính sách đào tạo, bồi dỡng đãi ngộ đối với cán bộ xã, phờng,
thị trấn [14, tr.135].
Nh vậy, đờng lối, chính sách của Đảng muốn đi vào thực tiễn cuộc sống
phải thông qua việc nhà nớc xây dựng, hoàn thiện hệ thống các VBQPPL về
CBCC. Việc thể chế hoá các quan điểm, đờng lối, chính sách của Đảng về
công tác cán bộ tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng đội ngũ CBCC có phẩm
chất và năng lực, thực sự là công bộc của dân, tận tụy phục vụ nhân dân đáp
ứng yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nớc và xây dựng
Nhà nớc pháp quyền XHCN Việt Nam.
Trên cơ sở định hớng từ các văn bản, nghị quyết của Đảng, Nhà nớc ta
đã ban hành nhiều VBQPPL. Bớc đột phá đầu tiên là việc UBTVQH ban hành
pháp lệnh CBCC ngày 26/2/1998. Đây là sự thể chế hoá đờng lối của Đảng
trong tình hình mới, là cơ sở pháp luật để xây dựng đội ngũ CBCC. Sau đó
Chính phủ ban hành các nghị định điều chỉnh các vấn đề cụ thể Nh vậy,
chính hệ thống các VBQPPL CBCC đã đóng góp vai trò trong việc đa các chủ
trơng, đờng lối của Đảng vào thực tiễn của cuộc sống, góp phần vào việc nâng
cao vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ, đồng thời góp phần xây
dựng đợc một đội ngũ CBCC có phẩm chất, năng lực, có bản lĩnh chính trị
vững vàng đủ về số lợng, đồng bộ về cơ cấu.
Chúng ta đang tiến hành cải cách nền HCNN cho nên đòi hỏi phải phát
huy tốt vai trò của pháp luật nói chung và pháp luật CBCC nói riêng trong việc
duy trì, bảo vệ sự thông suốt của nền hành chính hiện đại. Pháp luật CBCC
góp phần quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong
quá trình quản lý nhà nớc và các vấn đề khác liên quan đến hoạt động công
vụ. Pháp luật CBCC tạo hành lang pháp lý cho CBCC thông qua việc quy định
cụ thể trách nhiệm, quyền hạn, nghĩa vụ cho CBCC thông qua đó góp phần
bảo đảm pháp chế, kỷ luật trong quản lý nhà nớc.
cha đáp ứng đợc. Đem đến hậu quả là hoạt động của CBCC nhà nớc cha đợc
bảo đảm về mặt pháp lý và gây ra những khó khăn cho việc xác lập kỷ c-
ơng, trật tự trong cơ quan tổ chức và nhất là trong hoạt động công vụ, giải
quyết công việc của CBCC. Khi nào mà trên thực tế hoạt động xây dựng
pháp luật cho ra các "sản phẩm" mang tính đồng bộ, bao quát toàn diện các
vấn đề liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động công vụ, đến CBCC thì
tiêu chí về tính toàn diện của hệ thống pháp luật mới đợc đáp ứng.
Tóm lại, tiêu chí về tính toàn diện của hệ thống pháp luật CBCC là phải
xây dựng đợc một hệ thống các VBQPPL quy định tơng đối toàn diện các vấn
đề về CBCC.
* Tính đồng bộ:
22
Tính đồng bộ của hệ thống pháp luật về CBCC đòi hỏi phải xem xét
đánh giá xem giữa các văn bản, các quy định có thống nhất với nhau không,
có mâu thuẫn, trùng lặp, chồng chéo với nhau không. Có thể khẳng định đây
là một tiêu chí rất quan trọng vì nó thể hiện trình độ lập pháp của các cơ quan
có thẩm quyền xây dựng và ban hành pháp luật của bất kỳ một quốc gia nào.
Tính đồng bộ là một tiêu chí quan trọng và không thể thiếu để đánh giá
một hệ thống pháp luật. Tính đồng bộ còn thể hiện thông qua việc quy định
thống nhất trong các VBQPPL mà thờng là đối tợng của nó có liên quan đến
nhiều ngành luật khác nhau, có tính đan xen với nhau mà điển hình là pháp
luật CBCC. Nếu không bảo đảm đợc tính thống nhất, đồng bộ trong các
VBQPPL CBCC sẽ dẫn tới hiện tợng xung đột pháp luật, làm giảm hoặc
triệt tiêu hiệu lực pháp lý của các văn bản. Bảo đảm tính đồng bộ sẽ góp
phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và điều hành của BMNN và cả hệ
thống chính trị đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH đất nớc.
Một hạn chế dễ nhận thấy nhất của hệ thống pháp luật về CBCC nhà nớc ở
nớc ta là hệ thống pháp luật CBCC còn cha đồng bộ, thiếu tính thống nhất,
còn có sự mâu thuẫn chồng chéo: "Các chế định cha đợc lợng hoá cụ thể
nên trong quá trình triển khai còn nhiều khó khăn, vớng mắc hoặc có nhiều
phải đợc xây dựng ban hành căn cứ vào thực tiễn khách quan của cuộc sống,
phải đặt trong mối liên hệ giữa sự phát triển của kinh tế - xã hội với xây dựng
pháp luật. Do đó, khi xây dựng, ban hành các VBQPPL phải: nghiên cứu kỹ
thực tiễn xã hội; các quá trình kinh tế - chính trị của đất nớc; phải xuất phát
từ thực trạng và những đòi hỏi khách quan của việc xây dựng đội ngũ
CBCC; phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, đặc điểm lịch sử, t tởng, văn
hoá, truyền thống dân tộc và chủ trơng, đờng lối, chính sách của Đảng về
đổi mới hệ thống chính trị; xuất phát từ thực tiễn xây dựng Nhà nớc pháp
quyền XHCN của dân, do dân, vì dân và công cuộc cải cách nền hành chính
nhà nớc.
Nhìn chung, pháp luật CBCC của chúng ta qua các thời kỳ lịch sử đã
bám sát các nhiệm vụ chính trị của đất nớc do ĐCSVN đề ra, góp phần xây
dựng đợc đội ngũ CBCC ngày càng trởng thành, củng cố tăng cờng hiệu lực,
hiệu quả của BMNN. Hệ thống pháp luật CBCC đã phần nào đáp ứng đợc tiêu
chí về tính khả thi, do vậy, đã đi vào thực tế cuộc sống. Pháp luật hiện hành đã
phần nào phản ánh đợc tiến trình đổi mới toàn diện của đất nớc. Việc điều
chỉnh của pháp luật đối với các lĩnh vực có liên quan đến CBCC đều đã gắn
với việc thực hiện cải cách nền hành chính nhà nớc. Pháp lệnh CBCC là cơ sở
pháp lý quan trọng để thực hiện chế độ CBCC trong công cuộc đổi mới; là cơ
sở cho việc xây dựng đội ngũ CBCC có phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực
24
góp phần xây dựng nhà nớc Cộng hoà XHCN Việt Nam trong sạch, vững
mạnh.
Nh vậy, pháp luật nói chung cũng nh pháp luật CBCC nói riêng phải
luôn luôn xuất phát từ thực tiễn, từ đòi hỏi của cuộc sống đa vào thực tiễn
kiểm nghiệm để rút ra "chân lý" đúng đắn và nó không chỉ phù hợp với hiện
tại mà còn vợt cả thời gian để thích ứng với tơng lai. Điều này đòi hỏi khả
năng của các nhà làm luật là phải nắm bắt đợc bản chất và quy luật của vấn
đề.
* Tính khoa học: