luận văn thạc sĩ Thực hiện pháp luật về người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay. - Pdf 13

thùc hiÖn ph¸p luËt vÒ ngêi khuyÕt tËt
ë ViÖt Nam hiÖn nay
hµ néi - 2009
MC LC
Trang
M U
1
Chơng 1: cơ sở lý luận của việc thực hiện pháp luật Về
ngời khuyết tật
8
1.1
Khái nim, c im, các hình thc v vai trò th c hin pháp
lut v ngi khuyt tt 8
1.2. Yêu cầu và điều kiện đảm bảo thực hiện pháp luật về ngời
khuyết tật 21
1.3. Kinh nghiệm quốc tế trong hoạt động xây dựng pháp luật và
thực hiện pháp luật về ngời khuyết tật 25
Chơng 2: thực trạng ngời khuyết tật và thực hiện pháp
luật về ngời khuyết tật ở Việt Nam 45
2.1 Tình hình ngời khuyết tật ở Việt Nam hiện nay 45
2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về ngời khuyết tật ở Việt Nam
hiện nay 54
Chơng 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp
luật về ngời khuyết tật 73
3.1.
Quan điểm trong thực hiện pháp luật về ngời khuyết tật ở Việt
Nam hiện nay 73
3.2.
Các giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật về ngời
khuyết tật ở nớc ta hiện nay 75
KT LUN

Nhà nớc ta. Cơng lĩnh xây dựng đất nớc thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(6-1991) khẳng định: "Chính sách xã hội bảo đảm và không ngừng nâng cao
đời sống vật chất của mọi thành viên trong xã hội về ăn, ở, đi lại, học tập, nghỉ
ngơi, chữa bệnh Chăm lo đời sống những ngời già cả neo đơn, tàn tật, mất
sức lao động và trẻ mồ côi" [17]. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VI chỉ rõ Từng bớc xây dựng chính sách bảo trợ xã hội đối với toàn dân, theo
phơng châm Nhà nớc và nhân dân cùng làm, mở rộng và phát triển sự nghiệp
bảo trợ xã hội, tạo lập nhiều hệ thống và hình thức bảo trợ xã hội cho những
ngời có công với cách mạng và những ngời gặp khó khăn. Nghiên cứu bổ sung
chính sách, chế độ bảo trợ xã hội phù hợp với quá trình đổi mới và cơ chế
quản lý kinh tế, quản lý xã hội [15].
Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980, 1992 đều khẳng định ngời tàn tật
là công dân - thành viên của xã hội, đợc hởng đầy đủ các quyền lợi và nghĩa
vụ của công dân, đợc chung hởng thành quả xã hội. Vì tàn tật, ngời tàn tật có
quyền đợc xã hội trợ giúp để thực hiện đợc quyền bình đẳng và tham gia tích
cực vào các hoạt động của xã hội, đồng thời vì tàn tật, họ đợc miễn trừ một số
nghĩa vụ công dân. Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) khẳng định:
Nhà nớc và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em khuyết tật đợc học văn hoá và học
nghề phù hợp(Điều 59), Ngời già, ngời tàn tật, trẻ em mồ côi không nơi n-
ơng tựa đợc Nhà nớc và xã hội giúp đỡ (Điều 67) [29].
Thể chế hoá các quan điểm của Đảng, quy định của Hiến pháp, nhiều văn
bản pháp luật đã đợc ban hành tạo hành lang và cơ sở pháp lý để ngời khuyết
tật thực hiện những quyền cơ bản của con ngời, tham gia vào đời sống và sự
phát triển của xã hội. Ngày 30 tháng 7 năm 1998, Uỷ ban thờng vụ quốc hội
thông qua Pháp lệnh về ngời tàn tật. Pháp lệnh quy định trách nhiệm của gia
đình, nhà nớc và xã hội đối với ngời tàn tật, quyền và nghĩa vụ của ngời tàn tật
trên các lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ và hỗ trợ nuôi dỡng, học văn hoá, học
nghề và việc làm, hoạt động văn hoá, thể dục thể thao và sử dụng công trình
công cộng đối với ngời tàn tật. Nhà nớc khuyến khích và tạo điều kiện thuận
lợi cho ngời tàn tật thực hiện bình đẳng các quyền về chính trị, kinh tế, văn

Đất nớc ta đang trong tiến trình tạo lập nền kinh tế thị trờng, xây dựng
nhà nớc pháp quyền XHCN, với mục tiêu tăng trởng kinh tế đi đôi với tiến bộ
xã hội và công bằng xã hội chăm lo cho con ngời, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mọi ngời; tạo điều kiện khơi dậy mọi nguồn lực, nhân lực để tiến
hành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc vì mục tiêu Dân giàu,
nớc mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Hơn lúc nào hết cần phải tổ
chức tốt hoạt động thực hiện pháp luật về ngời khuyết tật với hệ thống pháp
luật đồng bộ, không rào cản đối với ngời khuyết tật nói riêng và hoạt động
thực hiện hệ thống pháp luật nói chung.
Xuất phát từ những cơ sở nêu trên, việc nghiên cứu: Thc hin phỏp lut
v ngi khuyt tt Vit Nam hin nay đang là vấn đề cấp thiết cả về mặt
lý luận và thực tiễn. Chọn đề tài này làm luận văn thạc sĩ tôi hy vọng sẽ góp
phần nhỏ bé vào việc phát triển, hoà nhập đời sống cộng đồng xã hội và bảo
đảm thực hiện các quyền của ngời khuyết tật.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề thực hiện pháp luật về ngời khuyết tật liên quan đến nhiều Bộ,
ngành, nhiều cấp chính quyền, nhiều lĩnh vực do vậy trong quá trình tổ chức
và thực hiện pháp luật cũng nh thực hiện chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nớc,
nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của các cơ quan trong bộ máy nhà nớc đã có
một số công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến vấn đề này. Cụ thể
- Dự án: Dự án phân tích, đánh giá chính sách pháp luật chăm sóc và
bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, năm 1999 của Bộ Lao động, thơng binh
và xã hội.
- Đánh giá việc thực hiện Bộ luật lao động đối với lao động là ngời tàn
tật và pháp lệnh ngời tàn tật- Nguyễn Diệu Hồng- Bộ Lao động, thơng binh và
xã hội .
- Nội dung và phơng pháp giáo dục trẻ em có tật ở Việt nam- Viện
Khoa học giáo dục thuộc Bộ Giáo dục.
- Đề tài: Các biện pháp tổ chức giáo dục hoà nhập giúp trẻ em khuyết tật
thính giác vào lớp 1, Luận án Tiến sĩ giáo dục học của Nguyễn Thị Hoàng Yến.

pháp luật về ngời khuyết tật ở nớc ta hiện nay, trên cơ sở đó đa ra những giải
pháp khả thi nhằm nâng cao hoạt động thực hiện pháp luật về ngời khuyết tật,
góp phần bảo đảm việc thực hiện các quyền của ngời khuyết tật, tạo cơ hội cho
ngời khuyết tật bình đẳng và hoà nhập cộng đồng xã hội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Để đạt đợc mục đích nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ sau đây:
Một là: Hệ thống hoá, khái lợc hoá một số nội dung cả về lý luận và thực
tiễn liên quan đến ngời khuyết tật, tàn tật. Trên cơ sở đó hình thành cơ sở lý
luận về thực hiện pháp luật về ngời khuyết tật ở nớc ta hiện nay, phân tích các
hình thức và vai trò thực hiện pháp luật về ngời khuyết tật đồng thời luận văn
giới thiệu khái quát kinh nghiệm quốc tế trong lĩnh vực xây dựng văn bản
pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về ngời khuyết tật.
Hai là: Phân tích đánh giá thực trạng ngời khuyết tật và hoạt động thực
hiện pháp luật về ngời khuyết tật, trong đó phân tích, đánh giá những thành
tựu và hạn chế, nguyên nhân của thực trạng thực hiện pháp luật về ngời khuyết
tật hiện nay.
Ba là: Khẳng định các quan điểm và đề xuất giải pháp bảo đảm hoạt
động thực hiện pháp luật về ngời khuyết tật ở nớc ta hiện nay. Những giải
pháp cần đợc xây dựng mang tính chất tổng thể và phù hợp với hoạt động
quản lý nhà nớc cũng nh hoạt động thực hiện pháp luật ở nớc ta hiện nay.
4. Phạm vi nghiên cứu
Thực hiện pháp luật về ngời khuyết tật có phạm vi rất rộng có liên quan
đến nhiều văn bản luật khác nhau cũng nh nhiều hoạt động của các cơ quan
trong bộ máy nhà nớc. Luận văn xác định phạm vi nghiên cứu là qúa
quantrình thực hiện pháp luật mà chủ yếu là từ khi có Pháp lệnh về ngời tàn tật
năm 1998. Để có căn cứ khoa học khi đa ra các giải pháp nâng cao chất lợng
thực hiện pháp luật về ngời khuyết tật, luận văn đánh giá thực trạng hoạt động
thực hiện pháp luật dựa trên những báo cáo tổng kết của cơ quan chịu trách
nhiệm thực hiện hoạt động quản lý nhà nớc về ngời khuyết tật là Bộ Lao động-
Thơng binh và Xã hội.

sách liên quan đến ngời khuyết tật.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm 3 chơng, 7 tiết.
Chơng 1
cơ sở lý luận của việc thực hiện pháp luật
về ngời khuyết tật ở việt nam hiện nay
1.1. Khái niệm, đặc điểm, các hình thức và vai trò thực
hiện pháp luật về ngời khuyết tật
1.1.1. Khái niệm thực hiện pháp luật về ngời khuyết tật
Để tìm hiểu khái niệm thực hiện pháp luật về ngời khuyết tật, trớc hết
cần làm rõ khái niệm thực hiện pháp luật.
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do
cơ quan nhà nớc có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Hệ thống các quy phạm này tạo khuôn khổ cho hoạt động xã hội, chứa đựng các
quy tắc cấm đoán hoặc bắt buộc chung và tác động, điều chỉnh tới các quan hệ
xã hội Vì vậy hoạt động thực hiện pháp luật không chỉ là sự quan tâm của Nhà n-
ớc mà còn là của mỗi cá nhân bởi kết quả của quá trình đó tác động mạnh mẽ tới
mọi mặt của đời sống xã hội. Việc tự giác thực hiện các quy phạm pháp luật gắn
chặt với yêu cầu của các cơ quan trong bộ nhà nớc, là mục tiêu và là đòi hỏi các
tổ chức, cá nhân trong xã hội tôn trọng, thực hiện chính xác, đầy đủ pháp luật.
Nh vậy, thực hiện pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) của
con ngời phù hợp với quy định của luật pháp.
Thực hiện pháp luật là bớc tiếp theo sau khi văn bản pháp luật đợc ban
hành để đa các quy phạm pháp luật trở thành các quy tắc xử sự của các chủ
thể pháp luật làm cho các yêu cầu, quy định của văn bản pháp luật trở thành
hiện thực.
Về pháp lý thì thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp, hành vi đó
không trái, không vợt ra ngoài các quy định của pháp luật. Thực hiện pháp
luật có thể là hành vi của mỗi cá nhân nhng cũng có thể là hoạt động của các

quyền của ngời khuyết tật với quyền của các chủ thể khác nhau khi tham gia
quan hệ pháp luật.
Với t cách chủ thể quản lý, nhà nớc đã sử dụng pháp luật làm phơng
tiện quan trọng nhất để tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội. khi ban
hành các văn bản quy phạm pháp luật nhà nớc mong muốn các văn bản đó
phải đợc tôn trọng và thực thi có hiệu quả trong thực tế. Thực hiện pháp luật là
quá trình hoạt động có mục đích, định hớng nhằm hiện thực hoá nội dung các
quy định của pháp luật bằng các hành vi thực tế của các chủ thể khi tham gia
vào quan hệ pháp luật.
Dới góc độ pháp lý, chỉ những hành vi xử sự phù hợp với các quy định
của pháp luật về ngời khuyết tật của các chủ thể có đầy đủ khả năng nhận thức
đợc yêu cầu của quy phạm pháp luật, có khả năng tự chịu trách nhiệm và gánh
chịu những hậu quả bất lợi do hành vi của họ gây ra thì đợc coi là quá trình
thực hiện pháp luật về ngời khuyết tật.
Nh vậy, thực hiện pháp luật về ngời khuyết tật là hoạt động có mục đích
của các chủ thể mà các chủ thể đó có thể là cá nhân, cơ quan nhà nớc, tổ chức
xã hội, các cá nhân đợc nhà nớc trao quyền nhằm làm cho các quy định của
pháp luật về ngời khuyết tật trở thành những hành vi trong thực tế bảo vệ và
bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp đối với ngời khuyết tật.
1.1.2. Đặc điểm thực hiện pháp luật về ngời khuyết tật
Thực hiện pháp luật về ngời khuyết tật mang đầy đủ đặc điểm của quá
trình thực hiện pháp luật nói chung. Với bản chất là hoạt động xã hội của con
ngời, thực hiện pháp luật về ngời khuyết tật hàm chứa những đặc điểm chung
của các hoạt động xã hội khác đồng thời với bản chất pháp lý của mình, thực
hiện pháp luật về ngời khuyết tật đã tạo nên những đặc điểm nổi trội và đặc
thù sau đây:
Thứ nhất: Thực hiện pháp luật về ngời khuyết tật bao giờ cũng thông
qua những hành vi cụ thể của con ngời. Đời sống xã hội của con ngời bao giờ
cũng đợc bộc lộ thông qua các hành vi cụ thể trong các mối quan hệ xã hội.
Hành vi cũng chính là các phơng thức tồn tại của con ngời, chính vì lẽ đó, việc

các hoạt động đó phải có mục đích, mục tiêu cụ thể.
Các hoạt động cụ thể đó bao gồm: Chủ thể tìm hiểu các quy định của
pháp luật có nội dung cụ thể nh thế nào? Xem xét vị trí, chức năng vai trò của
bản thân, ra các quyết định về cách thức, thời gian hoạt động cụ thể. Tất cả
các hoạt động đó phải cần thiết xác định mục tiêu cụ thể là bảo vệ và bảo đảm
quyền và lợi ích hợp pháp của ngời khuyết tật thông qua việc thực hiện các
quy phạm cụ thể.
Tích mục đích có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong quá trình thực hiện
pháp luật nói chung. Đối với quá trình thực hiện pháp luật về ngời khuyết tật
có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi ngời khuyết tật là đối tợng yếu thế trong xã
hội. Nh vậy, đòi hỏi tích mục tiêu, mục đích không chỉ có ý nghĩa trong việc
thiết lập, xây dựng các quy phạm pháp luật cụ thể mà còn là đòi hỏi đối với
các chủ thể trong quá trình thực hiện pháp luật về ngời khuyết tật.
Thứ t: Quá trình thực hiện pháp luật về ngời khuyết tật đợc bảo đảm
bằng các biện pháp của nhà nớc.
Để pháp luật thật sự đi vào đời sống xã hội thì quá trình thực hiện pháp
luật cần thiết phải đợc bảo đảm từ phía nhà nớc chính đặc điểm này tạo ra sự
khác biệt cơ bản giữa pháp luật với đạo đức. Đối với nớc ta pháp luật về ngời
khuyết tật thể hiện ý chí của nhà nớc nhằm bảo vệ và bảo đảm cho ngời
khuyết tật tiếp cận với đời sống xã hội do vậy thực hiện pháp luật về ngời
khuyết tật không chỉ là mong muốn của quản lý hành chính nhà nớc mà còn là
nguyện vọng chung của đa số nhân dân lao động. Chính sự bảo đảm của nhà
nớc mới làm cho pháp luật về ngời khuyết tật đợc thực thi trong môi trờng
thực hiện bình đẳng bảo đảm cho việc việc thụ hởng các lợi ích hợp pháp của
ngời khuyết tật. Trong trờng hợp các chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật
liên quan tới ngời khuyết tật không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các
yêu cầu thì nhà nớc bằng quyền lực của mình sử dụng các biện pháp bắt buộc
hoặc các biện pháp cỡng chế nhằm yêu cầu các chủ thể thực hiện hành vi hợp
pháp với ngời khuyết tật. Nhà nớc sử dụng các hình thức bảo đảm pháp lý, sử
dụng các tổ chức xã hội hoặc các thiết chế khác nhau phù hợp với từng nhóm

luật về ngời khuyết tật, trong đó các chủ thể thực hiện pháp luật tự kiềm chế
để không tiến hành những hoạt động mà những văn bản pháp luật chứa đựng
các quy phạm điều chỉnh những quan hệ pháp lý liên quan đến ngời khuyết tật
ngăn cấm. Thực tiễn cho thấy đang tồn tại khoảng hai mơi văn bản luật điều
chỉnh những vấn đề liên quan đến ngời khuyết tật, những văn bản này quy
định những biện pháp, giải pháp nhằm bảo vệ và bảo đảm quyền tiếp cận đối
với ngời khuyết tật trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Tuân thủ
pháp luật về ngời khuyết tật vừa là hành vi không thực hiện những hành vi
nguy hiểm đối với ngời khuyết tật mà còn thực hiện hành vi bắt buộc hoặc làm
việc bắt buộc nào đó do pháp luật quy định nhằm bảo vệ đối với ngời khuyết
tật trong những điều kiện và hoàn cảnh mà các quy phạm pháp luật cụ thể đã
dự liệu.
- Thi hành pháp luật về ngời khuyết tật.
Thi hành pháp luật về ngời khuyết tật là hình thức thực hiện pháp luật
trong đó các chủ thể thực hiện nghĩa vụ pháp lý bằng hành động tích cực.
Điều này có nghĩa rằng những quy phạm pháp luật liên quan đến ngời khuyết
tật bao giờ cũng xác định trách nhiệm của các chủ thể khi tham gia quan hệ
pháp luật cụ thể. Việc thi hành đó mang tính chất tự nguyện bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của ngời khuyết tật. Trong một số trờng hợp, nếu các chủ thể
không thực hiện hành vi phù hợp sẽ bị các cơ quan chức năng của nhà nớc
thực hiện biện pháp cỡng chế và việc thực hiện đó cũng chính là quá trình thi
hành pháp luật về ngời khuyết tật.
- Sử dụng pháp luật về ngời khuyết tật.
Sử dụng pháp luật về ngời khuyết tật là hình thức thực hiện pháp luật
mà trong đó các chủ thể thực hiện pháp luật sử dụng các quyền năng về mặt
pháp lý, công cụ pháp lý để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của ngời
khuyết tật. Trong nội dung này bao hàm cả hoạt động mà bản thân ngời
khuyết tật sử dụng các công cụ pháp lý nhằm bảo vệ chính bản thân mình.
Trong quá trình sử dụng pháp luật đối với ngời khuyết tật, biểu hiện là những
hoạt động nh sử dụng quyền khiếu nại, quyền tố cáo, quyền khởi kiện hoặc

luật ở trạng thái đó vẫn là trạng thái tĩnh nó có thể tác động đến trật tự pháp
luật, thúc đẩy quá trình phát triển của các quan hệ xã hội nhng mức độ rất
hạn chế và chủ yếu mới chỉ là thông qua ý thức pháp luật của công dân ở
một bộ phận không đáng kể. Pháp luật chỉ có thể phát huy hết tác dụng khi
nó đợc tổ chức thực hiện tốt trong đời sống xã hội, khi các quy định của
pháp luật trở thành những hành vi, cách xử sự thực tế của các cá nhân, tập
thể trong cuộc sống hằng ngày.
Trong đời sống xã hội có rất nhiều lĩnh vực khác nhau, đòi hỏi Nhà
nớc phải xây dựng và ban hành nhiều văn bản pháp luật để đáp ứng yêu cầu
điều chỉnh các quan hệ xã hội đó. Thực tiễn cho thấy có rất nhiều văn bản
pháp luật phát huy tác dụng tốt, đem lại hiệu quả thiết thực trong công tác
quản lý, nhng vẫn còn không ít văn bản luật cha phát huy đợc hiệu lực thi
hành, không mang lại hiệu quả nh mong muốn. Mặt tồn tại đó có nhiều
nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân là do cha tổ chức tốt việc thực hiện
pháp luật. Khi giữa hoạt động xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật có
một khoảng cách lớn, tức là pháp luật đợc ban hành với khối lợng lớn mà ít
đi vào cuộc sống, thì sẽ dẫn đến tình trạng pháp luật bị coi thờng, không hiệu
quả. Vì vậy, thực hiện pháp luật có vai trò to lớn trong việc chuyển văn bản
pháp luật của Nhà nớc đợc thực thi trong đời sống thực tiễn.
Để nhà nớc quản lý xã hội bằng pháp luật thì phải có phơng thức
thực hiện tốt các hoạt động về pháp luật từ khâu xây dựng pháp luật, phổ
biến, giáo dục pháp luật, thực hiện pháp luật, kiểm tra, xử lý những hành
vi vi phạm pháp luật nhằm bảo vệ pháp luật. Để pháp luật phát huy hiệu
lực, đạt hiệu quả trong quá trình điều chỉnh các quan hệ xã hội, thì Nhà
nớc ngoài việc tạo lập môi trờng chính trị - xã hội thuận lợi, nâng cao
trình độ pháp lý cho cán bộ và nhân dân, xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật, đòi hỏi phải xác lập cơ chế thực hiện pháp luật một cách
có hiệu quả.
Nh vậy có thể khẳng định rằng, thực hiện pháp luật có vai trò và tầm
quan trọng đặc biệt trong toàn bộ các hoạt động về pháp luật. Thực hiện

bảo đảm. Sự ổn định xã hội cũng nh bản chất tốt đẹp của nhà nớc cũng đ-
ợc thể hiện sinh động. Trật tự xã hội đợc bảo đảm là điều kiện ổn định xã
hội nhằm phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế của đất nớc. đồng thời
góp phần ổn định xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Thực hiện pháp luật chính là quá trình đua pháp luật về ngời khuyết tật
vào thực tiễn cuộc sống. Để những quy phạm đó đi vào thực tiễn nh thế nào
liên quan tới vấn đề quan niệm của cả xã hội về ngời khuyết tật. Trên thế giới
hiện nay cha có quan niệm thống nhất về ngời khuyết tật. Quan niệm về mặt y
tá cho rằng ngời khuyết tật bị khiếm khuyết bộ phận cơ thể hoặc chức năng,
nh vậy những khiếm khuyết nh vậy có thể nhận thấy và dùng biện pháp giám
định có thể xác định đợc mức độ khuyết tật. Trên cơ sở đó xây dựng chính
sách phù hợp với từng nhóm đối tợng. Quan niệm này rõ ràng cha tiếp cận dới
góc độ xã hội và quyền của ngời khuyết tật và cha xác định trách nhiệm xã hội
đối với ngời khuyết tật. Dới góc độ quyền có thể nhận thấy, mặc dù khiếm
khuyết về bộ phận cơ thể hoặc chức năng nhng nếu xã hội tạo cho họ điều
kiện tiếp cận thì họ hoàn toàn có thể tiếp cận vào đời sống xã hội. Một ngời
khuyết tật nhìn hoặc khuyết tật vận động thực tế tham gia giao thông là rất
khó khăn nhng nếu nhà nớc cung cấp các công cụ và phơng tiện về hớng dẫn
thâm gia giao thông hoặc bảo đảm các điều kiện tiếp cận thì những cá nhân đó
không còn khó khăn nữa và nh vậy họ không còn là ngời khiếm khuyết và
không khuyết tật nữa.
Phần lớn các quốc gia trên thế giới đều phân dạng và phân hạng ngời
khuyết tật để có chính sách đi kèm tuy nhiên phân hạng khuyết tật dựa vào
tiêu chí nào hiện nay ở nớc ta cha có câu trả lời chính xác.
- Thực hiện pháp luật chính là tạo điều kiện bảo đảm tiếp cận với các
hoạt động xã hội của ngời khuyết tật là không tách rời với môi trờng hoà nhập.
Hoạt động học văn hoá, học nghề, vui chơi giải trí không thể tạo môi trờng
tách biệt cộng đồng xã hội.
1.1.4.2. Pháp luật về ngời khuyết tật chi phối đến việc thực hiện hệ
thống pháp luật về an sinh xã hội

Chúng ta đều biết rằng pháp chế xã hội chủ nghĩa là một chế độ đặc
biệt của đời sống chính trị - xã hội, trong đó tất cả các cơ quan nhà nớc, tổ
chức kinh tế, tổ chức xã hội, nhân viên nhà nớc, nhân viên các tổ chức xã
hội và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách
nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác.
Pháp chế trong lĩnh vực ngời khuyết tật là bộ phận của pháp chế xã hội
chủ nghĩa. Pháp chế xã hội chủ nghĩa là chế độ đặc biệt của đời sống chính trị
- xã hội, trong đó tất cả các cơ quan nhà nớc, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội,
cán bộ, công chức nhà nớc, nhân viên của các tổ chức xã hội và mọi công dân
đều phải tôn trọng và thực hiện đầy đủ pháp luật về ngời khuyết tật. Theo đó,
để bảo đảm và tăng cờng pháp chế trong lĩnh vực ngời khuyết tật: Một mặt,
đòi hỏi phải xây dựng đợc hệ thống pháp luật về ngời khuyết tật đầy đủ, đồng
bộ; ; mặt khác, yêu cầu mọi chủ thể tham gia quan quan hệ pháp luật phải
thực hiện nghiêm chỉnh, triệt để đầy đủ hệ thống pháp luật này. Có nh vậy mới
hiện thực hoá đợc pháp luật về ngời khuyết tật vào đời sống xã hội. đây cũng
chính là biện pháp tăng cờng pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực ngời
khuyết tật.
1.2. Yêu cầu và điều kiện đảm bảo thực hiện pháp luật về
ngời khuyết tật
1.2.1. Yêu cầu của thực hiện pháp luật về ngời khuyết tật
Thứ nhất, Thực hiện pháp luật về ngời khuyết tật cần thiết và trên
nguyên tắc căn cứ nội dung của các văn bản pháp lý hiện hành. Hiện nay
những vấn đề liên quan tới ngời khuyết tật có 20 mơi văn bản luật và khoảng
200 văn bản của các Bộ, Ngành hớng dẫn thi hành. Thực tế trong nhiều văn
bản, tính thống nhất và chặt chẽ cha đợc bảo đảm, tuy nhiên không thể thực
hiện pháp luật nếu không dựa trên cơ sở là những văn bản pháp lý quy định
những vần đề bảo đảm quyền tiếp cận của ngời khuyết tật trong các lĩnh vực
chăm sóc sức khoẻ, học nghề và việc làm, tham gia giao thông, công nghệ
thông tin
Thứ hai, Thực hiện pháp luật về ngời khuyết tật đòi hỏi sự phối hợp của

Pháp luật là tiền đề, là cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ
thể pháp luật. Hệ thống pháp luật về ngời khuyết tật l cơ sở pháp lý cho cơ
quan, tổ chức, cán bộ, công chức có thẩm quyền tiến hành hoạt động bảo vệ và
bảo đảm quyền tiếp cận đời sống xã hội của ngời khuyết tật.
Thực tiễn hoạt động quản lý nhà nớc cho thấy nếu nh hệ thống pháp
luật về lĩnh vực nào đó không hoàn chỉnh thì không thể có hiệu quả trong hoạt
động quả lý nhà nớc cũng nh hoạt động thực hiện pháp luật. Trong những năm
vừa qua, mặc dù Pháp lệnh ngời tàn tật tác động mạnh mẽ tới nhận thức của cả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status