luận văn thạc sĩ áp dụng pháp luật về phân chia di sản thừa kế theo pháp luật của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao ở Việt Nam. - Pdf 13

¸p dông ph¸p luËt
vÒ ph©n chia di s¶n thõa kÕ theo ph¸p luËt
cña tßa phóc thÈm tßa ¸n nh©n d©n tèi cao
ë viÖt nam
HÀ NỘI – 2009
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ
PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ CỦA TÒA PHÚC THẨM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO Ở VIỆT NAM
6
1.1. Khái niệm, đặc điểm áp dụng pháp luật về phân chia di sản
thừa kế theo pháp luật của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân
tối cao 6
1.2. Vai trò áp dụng pháp luật về phân chia di sản thừa kế theo
pháp luật của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao 23
1.3. Các giai đoạn và yếu tố đảm bảo áp dụng pháp luật về phân
chia di sản thừa kế theo pháp luật của Tòa phúc thẩm Tòa án
nhân dân tối cao 25
Chương 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ PHÂN CHIA DI
SẢN THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT CỦA TÒA PHÚC THẨM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO Ở VIỆT NAM
37
2.1. Kết quả và thực tiễn áp dụng pháp luật về phân chia di sản
thừa kế theo pháp luật của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân
tối cao ở Việt Nam 37
2.2. Áp dụng pháp luật về phân chia di sản thừa kế theo pháp luật
của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao ở Việt Nam -
những tồn tại và nguyên nhân 67

xã hội; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, trong thời gian qua, việc xét xử các
vụ án về phân chia di sản thừa kế theo pháp luật vẫn còn để xảy ra nhiều sai sót,
xét xử thiếu thống nhất, hoặc lúng túng khi vận dụng pháp luật, các vụ kiện gặp
nhiều khó khăn, thời gian giải quyết kéo dài. Một trong những nguyên nhân cơ
bản của thực trạng này là do nhận thức chưa đầy đủ về pháp luật của cá nhân và
do sự áp dụng pháp luật không thống nhất giữa các cấp toà án.
Thực tiễn áp dụng pháp luật trong hoạt động giải quyết các vụ án về phân
chia di sản thừa kế đã và đang đặt ra những yêu cầu mới vừa cấp bách và lâu dài,
đòi hỏi không ngừng nâng cao chất lượng xét xử, góp phần đáp ứng quá trình
thực hiện cải cách tư pháp xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ
nghĩa của dân, do dân, vì dân. Do đó, việc nghiên cứu lý luận về áp dụng pháp
luật trong hoạt động xét xử nói chung và áp dụng pháp luật trong hoạt động giải
quyết các vụ án của toà án nhân dân là một nhiệm vụ cần thiết.
Trong bối cảnh đó, việc nhận thức lại những vấn đề lý luận về áp dụng
pháp luật và nghiên cứu áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ án
về phân chia di sản thừa kế theo pháp luật của toà án nhân dân là nhằm góp
phần không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động áp dụng trong
hoạt động xét xử; Vì vậy, học viên chọn đề tài: Áp dụng pháp luật về phân
chia di sản thừa kế theo pháp luật của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối
cao ở Việt Nam làm luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở nước ta, vấn đề áp dụng pháp luật nói chung và áp dụng pháp luật
trong trong hoạt động giải quyết các vụ án về phân chia di sản thừa kế đã
được giới khoa học pháp lý và đặc biệt là những người làm công tác xét xử
của ngành toà án quan tâm. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề trên
đây với những khía cạnh và mức độ khác nhau: Áp dụng pháp luật trong hoạt
động xét xử của Toà án nhân dân ở Việt Nam hiện nay- Lê Xuân Thân, Luận
án tiến sỹ luật (2004); Cơ sở lý luận và thực tiễn của những qui định chung về
thừa kế trong Bộ luật dân sự- Nguyễn Minh Tuấn, Luận án tiến sỹ luật

giá thực trạng áp dụng pháp luật trong hoạt động giải quyết các vụ án dân sự
về phân chia di sản thừa kế theo pháp luật của Toà án nhân dân tối cao. Từ
đó, luận văn đề xuất các quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng áp
dụng pháp luật trọng hoạt động giải quyết các vụ án về phân chia di sản thừa
kế theo pháp luật của Toà án nhân dân tối cao ở Việt nam hiện nay.
- Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Nghiên cứu để làm rõ cơ sở lý luận áp dụng pháp luật trong hoạt động
giải quyết các vụ án về phân chia di sản thừa kế theo pháp luật dưới góc độ lý
luận Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật; làm rõ những đặc trưng và vai
trò của hoạt động áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án về phân chia di
sản thừa kế theo pháp luật của toà án nhân dân hiện nay.
+ Phân tích thực trạng áp dụng pháp luật trong hoạt động giải quyết các vụ
án về phân chia di sản thừa kế theo pháp luật của Toà án nhân dân tối cao
trong thời gian qua, cũng như làm rõ các nguyên nhân của những tồn tạị
+ Đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả
áp dụng pháp luật trong hoạt động giải quyết các vụ án về phân chia di sản
thừa kế theo pháp luật; góp phần vào công cuộc cải cách tư pháp hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu việc áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết các vụ án
về phân chia di sản thừa kế theo pháp luật của Toà án nhân dân tối cao.
- Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi là một luận văn thạc sỹ luật học thuộc chuyên ngành lý
luận và lịch sử về Nhà nước và pháp luật, luận văn tập trung nghiên cứu
những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật, thực tiễn liên quan đến vấn đề áp
dụng pháp luật trong hoạt động giải quyết các vụ án phân chia di sản thừa kế
theo pháp luật của Toà án nhân dân tối cao.
Về mốc thời gian nghiên cứu, luận văn nghiên cứu hoạt động áp dụng
pháp luật trong việc giải quyết các vụ án về phân chia di sản thừa kế theo
pháp luật của Toà án nhân dân tối cao từ năm 2005 (sau khi Bộ luật dân sự

cứu, giảng dạy, tổng kết thực tiễn về áp dụng pháp luật nói chung và áp dụng
pháp luật trong hoạt động xét xử toà án nhân dân nói riêng.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương, 6 tiết.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
VỀ PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT CỦA
TOÀ PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO Ở VIỆT NAM
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ PHÂN CHIA DI SẢN
THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT CỦA TOÀ PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
1.1.1. Khái niệm áp dụng pháp luật về phân chia di sản thừa kế
theo pháp luật của Toà phúc thẩm toà án nhân dân tối cao ở Việt Nam
1.1.1.1. Khái niệm áp dụng pháp luật
Pháp luật xã hội chủ nghĩa là hệ thống quy phạm pháp luật thể
chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân,
được nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện trên cơ sở giáo dục,
thuyết phục nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã
hội chủ nghĩa [12, tr.143].
Pháp luật xã hội chủ nghĩa là tổng hợp các quy tắc xử sự chung do các
cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền ban hành theo một trình tự thể
hiện dưới một hình thức nhất định nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội
trong quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng. Xét bình
diện chung nhất, pháp luật là phương tiện thể chế hoá đường lối, chủ trương
của Đảng, bảo đảm các đường lối, chủ trương đó được triển khai và thực hiện
có hiệu quả trên quy mô toàn xã hội, để nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xã
hội; để nhân dân phát huy thực hiện quyền dân chủ, các quyền, lợi ích hợp
pháp của nhân dân.
Pháp luật với tư cách là phương tiện điều chỉnh các quan hệ xã hội, tác

Tuân thủ (tuân theo) pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong
đó các chủ thể pháp kiềm chế, không tiến hành những hoạt động mà pháp luật
cấm. Chủ thể thực hiện hình thức tuân thủ pháp luật là tất cả các cơ quan nhà
nước, nhân viên nhà nước, các cá nhân, tổ chức và mọi công dân trong xã hội.
Thi hành (chấp hành) pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong
đó các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành
động tích cực. Ví dụ việc thực hiện các quy phạm pháp luật hôn nhân gia
đình về nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con cái của cha mẹ… Chủ thể thực
hiện hình thức thi hành pháp luật này là tất cả các cơ quan nhà nước, nhân
viên nhà nước, các cá nhân, tổ chức và mọi công dân trong xã hội.
Sử dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ
thể pháp luật thực hiện quyền, tự do pháp lý của mình (những hành vi mà
pháp luật cho phép chủ thể thực hiện). Chủ thể thực hiện hình thức thi hành
pháp luật này là tất cả các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước, các cá
nhân, tổ chức và mọi công dân trong xã hội. Đương nhiên, vì quyền và tự do
pháp lý là những hành vi mà pháp luật cho phép chủ thể thực hiện nên chủ
thể pháp luật có thể thực hiện hoặc không thực hiện các quyền, tự do tuỳ
theo ý chí của mình, chứ không bắt buộc phải thực hiện.
Áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước
thông qua các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền tổ chức
cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự
mình căn cứ vào các quy định của pháp luật để ra các quyết định làm phát
sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể. Thông
qua hình thức này ý chí của nhà nước được trở thành hiện thực, nhà nước
được thực hiện các chức năng tổ chức, quản lý các lĩnh vực của đời sống xã
hội, đảm bảo cho việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, các công
chức nhà nước trong khuôn khổ pháp luật.
Nếu như tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật mà
mọi chủ thể pháp luật đều có thể thực hiện thì áp dụng pháp luật là hình thức
thực hiện pháp luật chỉ dành cho các cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có

định làm phát sinh, thay đổi, hay chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể.
1.1.1.2. Khái niệm áp dụng pháp luật về phân chia di sản thừa kế
theo pháp luật của Toà phúc thẩm toà án nhân dân tối cao ở Việt Nam
Áp dụng pháp luật về phân chia di sản thừa kế theo pháp luật của Toà
phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao liên quan đến các khái niệm có tính chất
công cụ: di sản; thừa kế; quyền thừa kế; thừa kế theo pháp luật và xét xử phúc
thẩm vụ án dân sự. Vì vậy, để xây dựng khái niệm áp dụng pháp luật về phân
chia di sản thừa kế theo pháp luật của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao
cần phải làm rõ các khái niệm trên.
a, Di sản: Theo Từ điển tiếng Việt: Di sản là của cải, tài sản của người
chết để lại [41].
Điều 634 BLDS năm 2005 quy định: "Di sản bao gồm tài sản riêng của
người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác" [31].
Di sản được Điều 634 BLDS quy định một cách ngắn gọn nhưng khá
đầy đủ và có tầm khái quát cao, không dùng phương pháp liệt kê bao gồm
những tài sản gì như những quy định trước đây. Bởi lẽ, quyền tài sản đã nằm
trong khái niệm tài sản được quy định tại Điều 163 Bộ luật dân sự: "Tài sản
bao gồm vật, giấy tờ có giá và các quyền tài sản" .
b, Thừa kế: Theo Từ điển tiếng Việt, thừa kế được hiểu là hưởng của
người khác để lại cho, hay được hiểu là: “Việc dịch chuyển tài sản của người
đã chết cho những người còn sống” [10, tr.216]. Khái niệm này đã phản ánh
chính xác bản chất cũng như nội dung thừa kế.
Thừa kế luôn gắn với quan hệ sở hữu, xuất hiện đồng thời với quan hệ
sở hữu và sự phát triển của xã hội loài người. Thừa kế và sở hữu là hai phạm
trù kinh tế cùng tồn tại song song trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất
định, chúng có mối liên hệ biện chứng với nhau, chỉ đạo, chi phối lẫn nhau,
cùng phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người.
Thừa kế với ý nghĩa là một phạm trù kinh tế có mầm mống và xuất hiện
ngay trong thời kỳ sơ khai của xã hội loài người - chế độ cộng sản nguyên
thuỷ. Trong thời kỳ này, quan hệ thừa kế chỉ đơn thuần là một quan hệ xã hội,

hưởng di sản thừa kế Trong các quan hệ về thừa kế, các chủ thể chủ động hiện
thực hoá những quyền năng đó để biến nó thành những quyền dân sự cụ thể qua
đó đáp ứng được nhu cầu và thực hiện được lợi ích cho bản thân mình.
d, Thừa kế theo pháp luật: Ở mỗi một chế độ khác nhau, tuỳ thuộc vào
tính chất của chế độ sở hữu, thông qua pháp luật, nhà nước quy định một chế
định thừa kế và coi đó là một phương tiện để bảo vệ quyền lợi cho các cá
nhân cũng như quyền lợi của giai cấp lãnh đạo xã hội.
Trong nhà nước chủ nô, quyền để lại thừa kế về nô lệ của giai cấp chủ
nô là sự chuyển lại quyền sở hữu đối với những "công cụ biết nói" và cũng
chính là sự truyền lại quyền lực chính trị để duy trì sự áp bức bóc lột của giai
cấp chủ nô đối với nô lệ.
Trong nhà nước phong kiến và nhà nước tư sản, giai cấp bóc lột sở
hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội và di sản mà họ để lại cho con
cháu cũng chính là những di sản ấy, việc thừa kế chỉ là sự thay thế kẻ thống
trị này bằng kẻ thống trị khác trong cùng một giai cấp mà thôi.
Pháp luật thừa kế ở nước ta trước hết nhằm đảm bảo quyền lợi cho
người lao động, tôn trọng thành quả lao động do họ làm ra cũng như chuyển
thành kết quả đó cho những người thừa kế sau khi họ chết. Mặt khác, quyền
thừa kế ở nước ta là một trong những phương tiện để củng cố và phát triển
các quan hệ hôn nhân gia đình, bảo vệ quyền lợi chính đáng của các chủ
thể trong quan hệ thừa kế, đặc biệt bảo vệ lợi ích của người chưa thành
niên hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động. Qua đó góp
phần bảo đảm quyền sở hữu cho mọi cá nhân trong xã hội.
Pháp luật hiện hành quy định “Cá nhân có quyền lập di chúc để
định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo
pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật” (Điều 631 Bộ
Luật Dân sự).
“Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và
trình tự thừa kế do pháp luật quy định” (Điều 674, Bộ Luật Dân sự). Thừa kế
theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây: không có di

kế theo pháp luật trên cơ sở những vụ án về phân chia di sản thừa kế mà bản
án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp dưới trực
tiếp bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng; việc xét xử
của toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao về phân chia di sản thừa kế theo
pháp luật phải tuân thủ nghiêm ngặt các qui định của pháp luật tố tụng dân sự
và phải trải qua các giai đoạn cụ thể như: Chuẩn bị khai mạc tiên toà và thủ
tục bắt đầu phiên toà phúc thẩm; thủ tục xét hỏi tại phiên toà và tranh luận tại
phiên toà phúc thẩm; nghị án và tuyên án. Hội đồng xét xử phúc thẩm của
Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao có thể ra một trong các quyết định
sau: giữ nguyên bán án sơ thẩm; sửa bản án sơ thẩm; huỷ bản án sơ thẩm và
chuyển hồ sơ vụ án cho toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án dân sự hoặc
huỷ bản án dân sự và đình chỉ giải quyết vụ án.
Từ những vấn đề lý luận được phân tích (ở mục 1.1.1.2) có thể đi đến
khái niệm áp dụng pháp luật về phân chia di sản thừa kế theo pháp luật của
Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao như sau: Áp dụng pháp luật về phân
chia di sản thừa kế theo pháp luật của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối
cao là việc thực hiện pháp luật của Hội đồng xét xử phúc thẩm của Toà phúc
thẩm Toà án nhân dân tối cao trên cơ sở bản án, quyết định sơ thẩm chưa có
hiệu lực pháp luật của toà án cấp tỉnh về phân chia di sản thừa kế theo pháp
luật bị kháng cáo, kháng nghị để ra một trong các quyết định tạm đình chỉ xét
xử phúc thẩm vụ án; đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hoặc đưa vụ án ra xét
xử bảo đảm quyền định đoạt về tài sản và quyền thừa kế của công dân, không
ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
1.1.2. Đặc điểm áp dụng pháp luật về phân chia di sản thừa kế theo
pháp luật của Toà phúc thẩm toà án nhân dân tối cao ở Việt Nam
1.1.2.1. Đặc điểm áp dụng pháp luật
Thứ nhất: Áp dụng pháp luật mang tính tổ chức, thực hiện quyền lực
của nhà nước trong thực tế, cụ thể là:
Hoạt động áp dụng pháp luật chỉ do những cơ quan nhà nước có thẩm
quyền hoặc nhà chức trách có thẩm quyền tiến hành thông qua cán bộ công

không đòi hỏi phải có cản một quá trình tiến hành tố tụng của các cơ quan
Công an điều tra, Viện kiểm sát và Toà án.
Thứ ba: Nếu quy phạm pháp luật là những khuôn mẫu chung, là những
tiêu chuẩn chung cho những xử sự giữa người với người trong mối quan hệ xã
hội thì thì hoạt động áp dụng pháp luật luôn mang tính cụ thể (tính cá biệt).
Tính cụ thể của hoạt động áp dụng pháp luật thể hiện ở chỗ các quan hệ xã
hội, các chủ thể bị áp dụng pháp luật được xác định chính xác; gồm cả sự
việc, con người, tập thể, thời gian, không gian, các quy định áp dụng pháp
luật được ban hành luôn mang tính cá biệt, cụ thể đối với các quan hệ xã hội
đã xác định.
Thứ tư: Áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính sáng tạo (sự sáng
tạo trong phạm vi quy định của pháp luật). Khi áp dụng pháp luật, các cơ
quan nhà nước hay nhà chức trách có thẩm quyền áp dụng pháp luật phải
nghiên cứu kỹ lưỡng vụ việc, cần làm sáng tỏ cấu thành pháp lý của nó để
từ đó lựa chọn quy phạm pháp luật, ra văn bản áp dụng pháp luật và tổ
chức thi hành một cách nghiêm chỉnh. Để đạt được điều đó, đòi hỏi các nhà
chức trách phải có ý thức pháp luật cao, có tri thức tổng hợp, có đạo đức
nghề nghiệm và có kinh nghiệm.
Ở nước ta, trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay, đòi
hỏi phải đề cao vai trò của hoạt động áp dụng pháp luật bảo đảm trật tự xã
hội, kỷ cương pháp luật đồng thời bảo vệ quyền tự do dân chủ của công dân.
1.1.2.2. Đặc điểm áp dụng pháp luật về phân chia di sản thừa kế theo
pháp luật của Toà phúc thẩm toà án nhân dân tối cao ở Việt Nam
Áp dụng pháp luật về phân chia di sản thừa kế theo pháp luật của Toà
phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao là một hình thức cụ thể của áp dụng pháp
luật nên khi thực hiện người áp dụng pháp luật phải tuân theo những nguyên
tắc chung và quy trình chung. Bên cạnh đó áp dụng pháp luật về phân chia di
sản thừa kế theo pháp luật của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao có
những đặc điểm riêng:
Thứ nhất: Áp dụng pháp luật về phân chia di sản thừa kế theo pháp luật

nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản,
tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân.
Bằng hoạt động của mình, Toà án góp phần giáo dục công dân trung
thành với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những quy
tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, các
vi phạm pháp luật khác.
Toà án thực hiện chế độ hai cấp xét xử. Bản án, quyết định sơ thẩm của
Toà án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng.
Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do
pháp luật quy định thì có hiệu lực pháp luật. Đối với bản án, quyết định sơ
thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm. Bản án,
quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật.
Toà án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cơ cấu tổ chức của Toà án nhân dân tối cao gồm
có: Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; Toà án quân sự trung
ương, Toà hình sự, Toà dân sự, Toà kinh tế, Toà lao động, Toà hành chính và
các Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao; trong trường hợp cần thiết, Uỷ
ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập các Toà chuyên trách khác theo
đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao; Bộ máy giúp việc.
Toà án nhân dân tối cao có thẩm quyền xét xử:
Giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu
lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng;
Phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực
pháp luật của Toà án cấp dưới trực tiếp bị kháng cáo, kháng nghị theo quy
định của pháp luật tố tụng.
Thứ hai: Áp dụng pháp luật về phân chia di sản thừa kế theo pháp luật
của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao căn cứ trên cơ sở những vụ án
mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của toà án cấp
dưới trực tiếp bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng,
được gọi là nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử. Việc Toà phúc thẩm

- Giải quyết khiếu nại đối với các quyết định của Toà án nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương về tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật;
- Giải quyết khiếu nại đối với các quyết định của Toà án nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương về việc giải quyết các cuộc đình công theo
quy định của pháp luật.
Thứ ba: Áp dụng pháp luật về phân chia di sản thừa kế theo pháp luật
của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao được tiến hành chủ yếu tại phiên
toà phúc thẩm
Khác với hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước khác,
việc Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao phúc thẩm bản án, quyết định sơ
thẩm về phân chia di sản thừa kế theo pháp luật của toà án nhân dân cấp tỉnh
được tiến hành tại phiên toà. Phiên toà xét xử với các nghi thức trang trọng,
các thủ tục chặt chẽ thể hiện quyền uy của Nhà nước cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam và được tiến hành một cách công khai. Phiên toà xét xử là
nơi diễn ra hoạt động áp dụng pháp luật của cơ quan Toà án với Quốc huy của
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn luôn là biểu tượng không thể
thiếu được để chứng minh cho quyền nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khi tiến hành xét xử các vụ án. Các vị trí, các chỗ ngồi được
bố trí một cách phù hợp với tư cách của những người tiến hành tố tụng và
người tham gia tố tụng. Các thủ tục công bố quyền và nghĩa vụ, thủ tục xét
hỏi, tranh luận, nghị án, công bố bản án… được luật tố tụng dân sự quy định
chặt chẽ, chi tiết và yêu cầu những người áp dụng pháp luật phải tuân thủ
tuyệt đối và nghiêm ngặt.
Thứ tư: Áp dụng pháp luật về phân chia di sản thừa kế theo pháp luật
của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tuân theo những qui định chặt
chẽ về trình tự và thủ tục theo thủ tục phúc thẩm được quy định trong Bộ luật
tố tụng dân sự
Khi không đồng ý với bản án hoặc quyết định của Toà án cấp sơ thẩm,
trong thời hạn luật định đương sự hoặc người đại diện của đương trong vụ án
đó có quyền kháng cáo đối với bản án hoặc quyết định đó; Viện kiểm sát có

hoặc quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm. Pháp luật tố tụng dân sự quy
định bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị phần nào thì chỉ
phần đó chưa được thi hành và sẽ bị đưa ra xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Phần còn lại của bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị, sẽ phát
sinh hiệu lực pháp luật và có hiệu lực thi hành. Trong trường hợp bản án,
quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị toàn bộ thì toàn bộ bản án, quyết
định bị xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Pháp luật tố tụng dân sự quy định thủ tục tiến hành phiên toà phúc
thẩm, về căn bản được tiến hành giống thủ tục phiên toàn sơ thẩm, bao gồm
các bước: chuẩn bị khai mạc phiên toà phúc thẩm và thủ tục bắt đầu phiên
toà; thủ tục xét hỏi tại phiên toà; tranh luận tại phiên toà; nghị án và tuyên án.
Hội đồng xét xử phúc thẩm Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao có
thể giữ nguyên bản án sơ thẩm; sửa bản án sơ thẩm; huỷ bản án sơ thẩm và
chuyển hồ sơ vụ án cho toà án cấp tỉnh giải quyết lại vụ án dân sự hoặc huỷ
bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.
1.2. VAI TRÒ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ
THEO PHÁP LUẬT CỦA TOÀ PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân được pháp
luật bảo vệ. Điều 58 Hiến pháp năm 1992 của Việt Nam quy định "Nhà nước
bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân"[29].
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, sau Hiến pháp 1992, Bộ luật dân
sự chiếm vị trí đặc biệt quan trọng, đã tạo lập hành lang pháp lý cho các cá
nhân khi thực hiện quyền thừa kế. Được quy định tại phần thứ tư, bao gồm 4
chương, 56 điều, từ Điều 631 đến Điều 687 của Bộ luật dân sự năm 2005 chế
định thừa kế đã tạo chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các chủ thể khi
tham gia quan hệ thừa kế, góp phần làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội.
Chế định quyền thừa kế trong Bộ luật dân sự kết tinh những thành tựu của
khoa học pháp lý nhân loại góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, kế thừa
và phát huy những phong tục tập quán truyền thống tốt đẹp đã ăn sâu vào tiềm
thức và lưu truyền qua bao đời của dân tộc Việt Nam.

của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao góp phần bảo vệ và không ngừng
tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Những hành vi, tranh chấp liên quan
đến quan hệ về phân chia di sản thừa kế theo pháp luật đều được Toà án xem


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status