MỞ ĐẦU
1. Tnh cấp thiết của đề tài
Giám đốc xét xử là việc toà án cấp trên theo quy định của pháp luật,
thực hiện việc kiểm tra hoạt động xét xử của toà án cấp dưới, qua đó có thể
phát hiện ra những thiếu sót, sai lầm của bản án, quyết định của toà án cấp
dưới đã có hiệu lực pháp luật và cách thức để sửa chữa, khắc phục những
thiếu sót, sai lầm đó. Giám đốc xét xử bao gồm nhiều hoạt động cụ thể như
kiểm tra, phát hiện những thiếu sót, sai lầm trong bản án, quyết định của toà
án đã có hiệu lực pháp luật; giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan nhà
nước, tổ chức xã hội, công dân đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật; tổng kết kinh nghiệm xét xử; hướng dẫn toà án các cấp áp dụng
thống nhất pháp luật; kháng nghị các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật, nhưng bị phát hiện có sai lầm nghiêm trọng hoặc có tình tiết mới làm
thay đổi cơ bản nội dung vụ án, để yêu cầu toà án có thẩm quyền xem xét lại
vụ án theo thủ tục tố tụng đặc biệt: xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ
án mà bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị người
có thẩm quyền kháng nghị.
Trong hệ thống Toà án của nước ta, Toà án nhân dân tối cao
(TANDTC) là cơ quan xét xử cao nhất, có nhiệm vụ giám đốc việc xét xử của
các Toà án khác theo quy định của pháp luật [ ]. Toà dân sự TANDTC là một
toà chuyên trách thuộc TANDTC, có nhiệm vụ giám đốc thẩm, tái thẩm
những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị
theo quy định của pháp luật tố tụng [ ].
Để tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động tố tụng dân sự, kinh tế, lao
động, ngày 15/6/2004, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá XI đã thông qua Bộ
luật Tố tụng dân sự (BLTTDS). Đây là BLTTDS đầu tiên của nước ta [ ] và
1
việc ra đời bộ luật này đã chấm dứt hiệu lực của một loạt các văn bản quy
phạm pháp luật tố tụng đơn lẻ trước đó là: Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các
vụ án dân sự năm 1989 (PLTTGQCVADS) [ ], Pháp lệnh Thủ tục giải quyết
các vụ án kinh tế năm 1994 (PLTTGQCVAKT) [ ], Pháp lệnh Thủ tục giải
lầm đó ); phạm vi giám đốc thẩm chưa rõ ràng; không có quy định về việc
thu thập chứng cứ tại giai đoạn giám đốc thẩm Những nguyên nhân nêu trên
trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động giám đốc thẩm vụ án dân sự của
Toà dân sự TANDTC, ảnh hưởng không nhỏ tới việc bảo vệ quyền và lợi Ých
hợp pháp của các đương sự, làm giảm sút uy tín của ngành Toà án.
Bên cạnh đó, đội ngũ thẩm phán, thẩm tra viên, chuyên viên của Toà
dân sù TANDTC hiện nay còn thiếu về số lượng và chưa thật sự đáp ứng yêu
cầu về chất lượng, nên đã tạo ra tình trạng giải quyết không kịp thời, thiếu
đúng đắn, thiếu nhất quán trong việc giám đốc thẩm các vụ án dân sự; cơ sở
vật chất, điều kiện làm việc của Toà dân sự TANDTC chưa đáp ứng yêu cầu
công việc; chế độ tiền lương và thu nhập khác chưa đảm bảo giúp cho các cán
bộ, công chức Toà dân sự TANDTC yên tâm công tác.
Tình trạng đơn khiếu nại, kiến nghị giám đốc thẩm tăng nhanh qua từng
năm, số đơn tồn đọng từ năm trước chuyển qua năm sau không có dấu hiệu
giảm; số lượng các vụ án dân sự mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật bị Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC kháng nghị và yêu cầu
Toà dân sự TANDTC xét xử giám đốc thẩm cũng tăng nhanh theo thời gian,
vượt quá khả năng giải quyết của Toà dân sự TANDTC; chất lượng giải quyết
khiếu nại, kiến nghị giám đốc thẩm và chất lượng xét xử giám đốc thẩm của
Toà dân sự TANDTC còn chưa cao. Thực tế nêu trên đã được lãnh đạo ngành
Toà án nghiêm túc thừa nhận là: “Tỷ lệ giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm,
tái thẩm còn thấp, cá biệt có trường hợp đã trả lời không có căn cứ kháng
3
nghị nhưng sau đó Chánh án lại kháng nghị vì phát hiện có sai lầm nghiêm
trọng hoặc có những trường hợp khi phát hiện có sai lầm nghiêm trọng
nhưng đã hết thời hạn kháng nghị” [ ].
Những tồn tại trên đặt ra yêu cầu cấp thiết là phải hoàn thiện các quy
định về thủ tục giám đốc thẩm, nâng cao hơn nữa chất lượng giám đốc thẩm
các vụ án dân sự, bảo vệ quyền và lợi Ých hợp pháp của các chủ thể khi tham
gia giao lưu dân sự. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của
dân sự, như: Chế định giám đốc thẩm, tái thẩm và những vấn đề đặt ra trong
việc thi hành, của thạc sĩ Trần Anh Tuấn, Tạp chí Luật học, số đặc san về Bộ
luật Tố tụng dân sự, năm 2005; Tìm hiÓu các quy định của pháp luật về thủ
tục giám đốc thẩm vụ án dân sự, của thạc sĩ Dương Thị Thanh Mai, Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia, năm 2005 Tuy nhiên, các công trình này mới chỉ tập
trung nghiên cứu về những vấn đề riêng biệt; chưa có công trình nào nghiên
cứu một cách hệ thống về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự, đặc biệt là áp
dụng pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự tại Toà dân sự
TANDTC.
Xuất phát từ những lý do trên đây, cùng với một sè kinh nghiệm thực
tiễn có được trong thời gian công tác tại Toà dân sự TANDTC, tác giả mạnh
dạn lựa chọn đề tài “Áp dụng pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân
sự của Toà dân sự TANDTC ở Việt Nam hiện nay” làm luận văn thạc sĩ luật
học, nhằm nêu ra những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác giám đốc
thẩm các vụ án dân sự của Toà dân sự TANDTC; qua đó đề xuất tháo gỡ
những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động áp dụng pháp luật về thủ tục
5
giám đốc thẩm vụ án dân sự nói chung, cũng như tại Toà dân sự TANDTC
nói riêng.
3. Mục đch và nhiệm vụ của nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn: Trên cơ sở làm sáng tỏ những vẫn
đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân
sự của Toà dân sự TANDTC trong giai đoạn hiện nay, tác giả sẽ đề xuất một
số giải pháp nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động áp dụng pháp luật về thủ tục
giám đốc thẩm vụ án dân sự tại Toà dân sự TANDTC, bao gồm các nhóm giải
pháp về hoàn thiện các quy định pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm vụ án
dân sự, trong đó có các quy định liên quan đến hoạt động giám đốc xét xử vụ
án dân sự tại Toà dân sự TANDTC; hoàn thiện về tổ chức và điều kiện làm
việc tại Toà dân sự TANDTC; tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng
chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất chính trị cho cán bộ, công chức Toà dân
Luận văn cũng được tiến hành nghiên cứu bằng nhiều phương pháp
khác, như: Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh, khảo sát,
đánh giá thực trạng giám đốc thẩm các vụ án dân sự; phỏng vấn, trao đổi với
các thẩm phán và thẩm tra viên; khảo cứu các tài liệu có liên quan đến công tác
kháng nghị, xét xử giám đốc thẩm các vụ án dân sự.
Tác giả cũng lựa chọn một số vụ án đã được Toà dân sự TANDTC
xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm để bình luận minh hoạ; đồng thời có tham
khảo số liệu thống kê của ngành TAND, để việc nghiên cứu được toàn diện
và sâu sắc hơn.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Qua kết quả nghiên cứu đề tài, tác giả đóng góp những điểm mới sau đây:
7
- Luận văn chỉ ra những quy định hiện hành của pháp luật về thủ tục
giám đốc thẩm vụ án dân sự không phù hợp với thực tiễn, cần sửa đổi; đồng
thời đề xuất hướng sửa đổi.
- Luận văn nêu rõ những quy định còn có những cách hiểu khác nhau,
nên cần có hướng dẫn của cấp có thẩm quyền để áp dụng thống nhất.
- Luận văn cũng chỉ ra những quy định còn thiếu, cần phải bổ sung để có
căn cứ áp dụng trên thực tiễn và đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương, 7 tiết:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc áp dụng pháp luật về thủ tục giám
đốc thẩm vụ án dân sự
Chương 2: Thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về thủ tục
giám đốc thẩm vụ án dân sự của Toà dân sự Toà án nhân dân tối cao
Chương 3: Giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật về thủ tục giám đốc
thẩm vụ án dân sự của Toà dân sự Toà án nhân dân tối cao
8
Chương 1
động, kinh tế, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của
pháp luật, để bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ
nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập
thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân.
Thông qua hoạt động của mình, Toà án giáo dục công dân trung thành với Tổ
quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc
sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, các vi phạm
pháp luật khác [ , Điều 1]. Do đó, khi chủ thể yêu cầu Toà án bảo vệ quyền
và lợi Ých hợp pháp của họ, trong trường hợp họ cho rằng quyền, lợi Ých hợp
pháp của mình (hoặc của người khác) bị chủ thể khác xâm phạm, cản trở, hạn
chế hoặc có nguy cơ bị xâm phạm, cản trở, hạn chế, thì Toà án phải căn cứ
vào các quy định của pháp luật để xem xét, thô lý giải quyết yêu cầu đó. Tuỳ
theo nhóm quan hệ pháp luật bị chủ thể thực hiện hành vi xâm phạm mà vụ án
do Toà án thụ lý giải quyết là vụ án hình sự, vụ án dân sự, vụ án hôn nhân và
gia đình, vụ án lao động, vụ án hành chính hay vụ án kinh tế.
Thuật ngữ “vụ án dân sự” là một thuật ngữ pháp lý chuyên ngành.
Trong các cuốn Từ điển phổ thông đang lưu hành, như Từ điển Tiếng Việt
của Viện ngôn ngữ học [ ], Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam [ ], Đại từ
điển tiếng Việt [ ], đều không đề cập thuật ngữ “vụ án dân sự”; ngay cả cuốn
Từ điển chuyên ngành luật học duy nhất của nước ta cho đến thời điểm này là
cuốn Từ điển Luật học, do Nhà xuất bản Từ điển bách khoa và Nhà xuất bản
Tư pháp phối hợp phát hành năm 2006 [ ] cũng không đề cập thuật ngữ này.
10
Hiện tại, duy nhất chỉ có cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ luật học (thực ra
đây chỉ có thể coi là sổ tay tham khảo dành cho việc học tập và giảng dạy
Luật học), do Trường đại học luật Hà Nội biên soạn và Nhà xuất bản Công an
nhân dân phát hành năm 1999 [ ] là có đưa ra giải thích về thuật ngữ “vụ án
dân sự”, theo đó: “Vụ án dân sự là việc phát sinh tại Toà án, thuộc thẩm
quyền xét xử về dân sự của Toà án, do cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ
hợp tác, tổ chức xã hội khởi kiện, Viện kiểm sát khởi tố yêu cầu Toà án bảo
tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, tranh chấp về chia tài sản
chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tranh chấp về thay đổi người trực
tiếp nuôi con sau khi ly hôn, tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác
định con cho cha mẹ, tranh chấp về cấp dưỡng); quan hệ pháp luật kinh
doanh, thương mại (bao gồm tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh
thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có
mục đích lợi nhuận về mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, phân phối, đại
diện, đại lý, ký gửi, thuê, cho thuê, thuê mua, xây dựng, tư vấn kỹ thuật, vận
chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường sắt, dường bộ, đường thuỷ nội địa,
vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, mua
bán cổ phiếu, trái phiếu và các giấy từ có giá khác, đầu tư tài chính, ngân
hàng, bảo hiểm, thăm dò khai thác; tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển
giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận;
tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên
của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sát
nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức của công ty) và quan hệ pháp
luật lao động (bao gồm tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với
người sử dụng lao động mà Hội đồng hoà giải lao động cơ sở, hoà giải viên
12
lao động của cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp huyện hoà giải không
thành hoặc không giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định, trừ các tranh
chấp không phải hoà giải tại cơ sở, gồm: về xử lý kỷ luật lao động theo hình
thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động,
về bồi thường thiệt hại giữa người lao động và người sử dụng lao động, về trợ
cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động, giữa người giúp việc gia đình với người
sử dụng lao động, về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về lao động
và về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp xuất khẩu lao
động; tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể lao động với người sử dụng lao
động đã được Hội đồng trong tài lao động cấp tỉnh giải quyết mà tập thể người
lao động hoặc người sử dụng lao động không đồng ý với quyết định của hội
mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam, yêu cầu công nhận và cho thi
hành tại Việt Nam quyết định kinh doanh, thương mại của Trọng tài nước
ngoài) và về lao động (bao gồm yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt
Nam bản án, quyết định về lao động của Toà án nước ngoài hoặc không công
nhận bản án, quyết định về lao động của Toà án nước ngoài mà không có yêu
cầu thi hành tại Việt Nam, yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
quyết định về lao động của Trọng tài nước ngoài) được Toà án thụ lý, giải
quyết.
Như vậy, so với quan niệm trước đây là tất cả những vụ việc được Toà
án thụ lý giải quyết đều là “vụ án”, thì quan niệm hiện tại về “vụ án dân sự”
đã có sự thay đổi đáng kể :
Thứ nhất, phải là những tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên
đương sự mới là “vụ án dân sự”; còn những yêu cầu của đương sự chỉ nhằm
14
xác nhận sự kiện pháp lý nhất định mà không có tranh chấp về quyền và nghĩa
vụ thì không phải vụ án dân sự mà là “việc dân sự”.
Thứ hai, “vụ án dân sự” phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự theo
nghĩa rộng (bao gồm quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh
doanh, thương mại và lao động).
Từ phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm vụ án dân sự như sau: Vụ án
dân sự là tranh chấp giữa các đương sự về quyền và nghĩa vụ, phát sinh
trong quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương
mại và lao động, do người có quyền khởi kiện và được Toà án thụ lý, giải quyết.
Tuy nhiên, theo mô hình tổ chức của ngành TAND hiện nay, thì ở
TAND cấp tỉnh và ở TANDTC vẫn tồn tại các toà chuyên trách giải quyết các
loại vụ việc về dân sự và hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động
theo nghĩa hẹp, tương ứng là Toà dân sự, Toà kinh tế và Toà lao động. Vì
vậy, nhóm “vụ án dân sự” thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà dân sự
TANDTC chỉ bao gồm những tranh chấp về quyền và nghĩa vụ phát sinh
từ quan hệ pháp luật dân sự và quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình,
thích đáng (báo cáo cấp trên đề nghị kháng cáo hay xin xử lại hoặc đặt vấn
đề điều tra, xác minh lại )” [ ]. Phải đặt ra yêu cầu trên là do thực tiễn giai
đoạn này có nhiều đơn khiếu nại oan sai về các bản án chung thẩm, chứ
không phải xuất phát từ quá trình nghiên cứu lý luận và tham khảo kinh
nghiệm lập pháp của nước ngoài. Chính vì vậy, thời kỳ này chưa có một thủ
tục cụ thể để giải quyết vấn đề xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có
hiệu lực pháp luật. Sau đó, tại Luật tổ chức TAND năm 1960 [ ] và Pháp
16
lệnh quy định cụ thể về tổ chức của TANDTC và tổ chức của các TAND địa
phương năm 1961 [ ] thì việc xử lại những vụ án do TAND cấp dưới đã xử
mà bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng Chánh án
TANDTC hoặc Viện trưởng VKSNDTC kháng nghị đã được quy định cụ thể
hơn. Theo các quy định này, việc xử lại thuộc thẩm quyền của TANDTC
nhưng nếu thấy cần thiết, TANDTC có thể giao cho TAND cấp tỉnh thực hiện
thẩm quyền xử lại đối với những vụ án mà toà án cấp này hoặc cấp dưới đã
xử mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Như vậy, trong giai đoạn
này, giám đốc thẩm được hiểu là việc Toà án có thẩm quyền (có thể là
TANDTC hoặc chính Toà án đã ban hành bản án, quyết định bị kháng nghị)
xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định bị kháng nghị. Quy định này khác với
thủ tục giám đốc thẩm hiện nay là sau khi có kháng nghị giám đốc thẩm, Toà
án giám đốc thẩm sẽ xem xét vụ án trên cơ sở bản án, quyết định đã có hiệu
lực bị kháng nghị và nếu có căn cứ thì huỷ bản án và giao hồ sơ vụ án cho
Toà án có thẩm quyền xét xử lại. Thủ tục để xem xét kháng nghị mới là thủ
tục giám đốc thẩm chứ không phải là thủ tục xét lại vụ án như quy định của
giai đoạn này.
Thuật ngữ “giám đốc thẩm” lần đầu tiên được quy định trong Luật tổ
chức TAND năm 1981 và sau đó được quy định trong PLTTGQCVADS năm
1989. Theo đó, nếu phát hiện thấy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
của Toà án có sai lầm, thì những người có thẩm quyền (Viện trưởng, Phó
Viện trưởng VKSNDTC, Chánh án, Phó Chánh án TANDTC, Viện trưởng
Như trên đã phân tích, giám đốc thẩm là việc xét lại bản án, quyết định
của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, nhưng bị người có thẩm quyền kháng
18
nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ
án. Vì vậy có thể hiểu là để thực hiện được hoạt động giám đốc thẩm, tất yếu
phải trải qua một chuỗi các công đoạn với những việc cụ thể, bao gồm từ việc
phát hiện ra sù vi phạm pháp luật trong việc giải quyết vụ án –> người có
thẩm quyền thực hiện quyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật –> Toà án cấp giám đốc thẩm mở phiên toà giám đốc thẩm –> Hội
đồng giám đốc thẩm ban hành quyết định giám đốc thẩm.
Như vậy, cũng như thủ tục sơ thẩm hay thủ tục phúc thẩm, thủ tục
giám đốc thẩm là mét giai đoạn của tố tụng dân sự, bao gồm toàn bộ quy
trình từ khi phát hiện sai lầm trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật, kháng nghị, phiên toà giám đốc thẩm đến việc ra phán quyết của Toà
án cấp giám đốc thẩm, được tuân theo một trình tự chặt chẽ.
Có thể chia thủ tục giám đốc thẩm làm hai thủ tục cơ bản là thủ tục
kháng nghị giám đốc thẩm và thủ tục phiên toà giám đốc thẩm. Trong đó:
- Thủ tục kháng nghị giám đốc thẩm bao gồm những quy định về việc
phát hiện sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án trên cơ sở
khiếu nại, kiến nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức; về căn cứ kháng
nghị giám đốc thẩm; về thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm;
- Thủ tục phiên toà giám đốc thẩm bao gồm những quy định về thẩm
quyền giám đốc thẩm, về thủ tục phiên toà giám đốc thẩm, về phạm vi
giám đốc thẩm và về thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm.
1.1.1.2. Khái niệm áp dụng pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự
Áp dụng pháp luật, hiểu theo cách khái quát nhất là một hình thức thực
hiện pháp luật, trong đó Nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền hoặc cá nhân người có chức vụ, quyền hạn, tổ chức cho các chủ thể pháp
luật thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào các quy
19
chủ thể tham gia quan hệ pháp luật mà các bên không thể tự giải quyết được. Ví
dụ: Khi nhiều người tranh chấp với nhau về quyền thừa kế tài sản, không tự thoả
thuận được và có đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết. Toà án sẽ căn cứ vào
các quy định của pháp luật để quyết định việc thụ lý vụ án, sau đó tiến hành các
hoạt động tố tụng, cuối cùng là xét xử vụ án và ra phán quyết để giải quyết tranh
chấp về quyền thừa kế tài sản giữa các đương sự.
- Thứ tư: Khi Nhà nước thấy cần thiết kiểm tra, giám sát hoạt động của
các chủ thể. Ví dụ: Sau khi Toà án giải quyết một vụ án dân sự nhất định và bản
án của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, tuy nhiên đương sự trong vụ án có đơn
khiếu nại cho rằng việc giải quyết vụ án có dấu hiệu không vô tư khách quan và
vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến quyền và lợi Ých hợp pháp của họ. Nhận
được đơn khiếu nại của đương sự, Toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm sẽ thực
hiện các hoạt động kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án đã có
hiệu lực pháp luật, trên cơ sở xem xét, đánh giá lại toàn bộ các chứng cứ, tài liệu
có trong hồ sơ vụ án. Nếu xét thấy việc khiếu nại của đương sự là không có căn
cứ thì Toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm sẽ trả lời đơn khiếu nại cho đương
sự; còn nếu thấy việc khiếu nại là có cơ sở thì Toà án có thẩm quyền giám đốc
thẩm sẽ đề xuất người có thẩm quyền kháng nghị bản án đã có hiệu lực pháp luật
theo thủ tục giám đốc thẩm. Sau khi có kháng nghị giám đốc thẩm của người có
thẩm quyền, Toà án cấp giám đốc thẩm sẽ thực hiện việc xét xử giám đốc thẩm
và sẽ ra phán quyết để quyết định về tình trạng pháp lý của bản án bị kháng nghị.
Ở nước ta và nhiều quốc gia khác, thực hiện chế độ hai cấp xét xử là một
nguyên tắc cơ bản trong quá trình tiến hành tố tụng của Toà án nói chung, trong
21
tiến hành tố tụng vụ án dân sự nói riêng. Theo nguyên tắc này thì trong một thời
hạn nhất định bản án, quyết định dân sự sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị
để xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm; bản án, quyết định dân sự phúc thẩm có
hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, vì hoạt động xét xử là một hoạt động áp dụng
pháp luật rất phức tạp, phụ thuộc vào sù đầy đủ, hoàn thiện, phù hợp xã hội của
hệ thống quy phạm pháp luật, vào trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ý thức thực
giám đốc thẩm vụ án dân sự là việc Toà án, Viện kiểm sát có thẩm quyền
thực hiện việc kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp của bản án, quyết
định dân sự của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, theo một trình tự và
trong một khoảng thời gian do pháp luật tố tụng dân sự quy định; trong
trường hợp phát hiện ra những sai lầm, thiếu sót trong bản án, quyết định
dân sự của Toà án đã có hiệu lực pháp luật thì thực hiện việc khắc phục,
sửa chữa những sai lầm, thiếu sót đó.
1.1.2. Đặc điểm áp dụng pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân
sự
Từ khái niệm áp dụng pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự
ở trên, có thể rót ra những đặc điểm áp dụng pháp luật về thủ tục giám đốc
thẩm vụ án dân sự như sau:
- Áp dụng pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự là hoạt
động chỉ do những chủ thể mang quyền lực Nhà nước tiến hành:
Sau khi bản án, quyết định dân sự có hiệu lực pháp luật, đương sự trong
vụ án hoặc cá nhân, tổ chức khác có quyền khiếu nại, kiến nghị cho rằng việc
xét xử vụ án có sai lầm nghiêm trọng hoặc vi phạm pháp luật. Cơ quan có
thẩm quyền tiếp nhận và giải quyết khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm đối
23
với bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật là TANDTC và
VKSNDTC (đối với bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của
TAND các cấp) hoặc TAND cấp tỉnh và VKSND cấp tỉnh (đối với bản án,
quyết định của TAND cấp huyện đã có hiệu lực pháp luật). Trong trường hợp
sau khi kiểm tra phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải
quyết vụ án, TAND, VKSND phải báo cáo với người có thẩm quyền (là
Chánh án Toà án hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát) xem xét kháng nghị bản
án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật đó theo thủ tục giám đốc thẩm.
Sau khi người có thẩm quyền ra quyết định kháng nghị, thì Hội đồng giám
đốc thẩm của Toà án cấp có thẩm quyền thực hiện việc xét lại bản án, quyết
định dân sự bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm và Hội đồng giám đốc
tiến hành tố tụng, về thời gian, cách thức tiến hành các hoạt động tố tụng cụ
thể, , nên việc xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm đối với từng vụ án là
không thể giống nhau, càng không thể chỉ xét lại một hoặc một số vụ án và
cho đó là điển hình để từ đó đưa ra kết luận về nhiều vụ án khác. Pháp luật tố
tụng Việt Nam hiện hành không thừa nhận án lệ là một hình thức của quy
phạm pháp luật, nên các quyết định giám đốc thẩm của Toà án có thẩm quyền
chỉ có giá trị tham khảo đối với Toà án các cấp, chứ không thể có giá trị áp
đặt phải tuân theo. Toà dân sự TANDTC có thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết
khiếu nại, kiến nghị đối với bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật
của TAND các cấp trên toàn quốc và có thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm
đối với bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực của các TAND cấp tỉnh trên
toàn quốc; tuy nhiên, trong thực tiễn công tác giám đốc thẩm thì không thể sử
dụng kết quả giải quyết vụ án này để giải quyết vụ án khác, mà phải căn cứ
vào các quy định của pháp luật.
25