ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT ĐỖ THỊ XUÂN BÌNH
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC
GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÀNH CHÍNH CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP QUYỀN
MÃ SỐ: 50501
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LUẬT
HÀ NỘI - 2004
HÀ NỘI - 2004
Mục lục
Trang
Phần mở đầu
1
Chương I: Một số vấn đề lý luận về thủ tục giải quyết các vụ án
hành chính
1.1 Sự cần thiết thành lập Toà án hành chính ở Việt nam
6
1.2 Khái niệm vụ án hành chính
11
1.3 Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính
19
1.4 Thẩm quyền của Tòa án nhân dân các cấp trong giải quyết vụ án
hành chính
26
1.5 Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng hành chính
31
1.6 Trình tự thủ tục giải quyết vụ án hành chính tại toà án nhân dân
34
Chương II: Thực trạng pháp luật về thủ tục giải quyết các vụ án
hành chính
2.1 Thực trạng pháp luật về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính
hiện hành
89
pháp luật
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện
93
3.2.1 Hệ thống hoá toàn bộ các văn bản pháp luật
93
3.2.2 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về thẩm quyền của toà án
về giải quyết khiếu kiện hành chính
95
3.2.3 Hoàn thiện các quy định về trình tự , thủ tục tố tụng hành chính
cho phù hợp với đặc điểm của vụ án hành chính.
102
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
1 PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Quyền khiếu nại, tố cáo là quyền cơ bản của công dân, được quy định
trong Hiến pháp Việt Nam [13]. Từ trước đến nay, việc giải quyết kịp thời và
hiệu quả các khiếu nại tố cáo của công dân luôn được Đảng và Nhà nước
quan tâm và coi đó là một trong những nhiệm vụ quan trọng, thể hiện bản
chất tốt đẹp của Nhà nước ta, Nhà nước của dân, do dân và vì dân, thể hiện
thủ tục giải quyết các vụ án hành chính. Các quy định pháp luật về thủ tục
giải quyết các vụ án hành chính còn mâu thuẫn, chưa đồng bộ, thống nhất,
chưa thể hiện được tính đặc thù của việc xét xử vụ án hành chính, mà mang
tính sao chép của thủ tục tố tụng dân sự. Nhiều quy định thiếu chặt chẽ, phức
tạp, khó hiểu làm cho không chỉ người dân mà ngay cả các cán bộ toà án,
thẩm phán hành chính cũng cảm thấy lúng túng khi áp dụng. Quyền khởi kiện
của công dân được quy định quá chặt chẽ, thiếu cởi mở, thẩm quyền xét xử
vụ án hành chính của toà án còn hạn hẹp, việc tổ chức và phân định thẩm
quyền của toà án nhân dân các cấp chưa đảm bảo được tính độc lập của toà
án.v.v.
Tất cả những vấn đề nêu trên đang là một thách thức của thực tiễn. Từ
một số vấn đề lý luận về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, và trên cơ
sở thực trạng pháp luật hiện hành về tố tụng hành chính, Luận văn đã đưa ra
các giải pháp hoàn thiện pháp luật thực định trong lĩnh vực này nhằm thúc
đẩy có hiệu quả việc giải quyết các vụ án hành chính tại toà án nhân dân.
Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài "Hoàn thiện pháp luật về thủ tục
giải quyết các vụ án hành chính” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Về tài phán hành chính ở nước ta có một số công trình nghiên cứu như:
Một số vấn đề về tài phán hành chính ở Việt nam, NXB. Chính trị quốc
gia,1994 của TS. Lê Bình Vọng: Thiết lập tài phán hành chính ở nước ta,
NXB.TP Hồ Chí Minh, 1996 của TS. Đinh Văn Mậu và TS. Phạm Hồng
Thái; Đề tài khoa học cấp bộ: Quyết định hành chính và hành vi hành chính -
đối tượng xét xử của toà án hành chính do TS. Phạm Hồng Thái làm chủ
3
nhiệm đề tài; Giáo trình Luật hành chính của Trường Đại học Luật Hà Nội,
Giáo trình Luật hành chính của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo
trình Luật hành chính và tài phán hành chính của Học viện Hành chính quốc
gia, các bài nghiên cứu trên Tạp chí Toà án nhân dân, Tạp chí Nhà nước và
Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các
vụ án hành chính 1996 và được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ
sung năm 1998, bao gồm các nguyên tắc xét xử vụ án hành chính, những
người tham gia tố tụng, thẩm quyền của toà án nhân dân trong việc giải quyết
khiếu kiện hành chính, trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án hành chính tại toà
án, từ thủ tục khởi kiện, thụ lý xét xử vụ án hành chính, thủ tục xét sử sơ
thẩm, thủ tục xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm đến vấn đề về thi
hành quyết định, bản án hành chính có hiệu lực, và thực tiễn xét xử các vụ án
hành chính tại toà án từ năm 1996 đến nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận và phương pháp luận cuả chủ
nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước
ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt nam.
Đề tài sử dụng các phương pháp: Phương pháp phân tích, phương pháp
tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh, phương pháp thống
kê, xã hội hoá pháp luật
6. Điểm mới của luận văn
- Đề tài làm rõ cơ sở khoa học của việc hoàn thiện pháp luật về trình tự
thủ tục giải quyết vụ án hành chính.
- Đề tài cũng đi sâu, phân tích thực trạng pháp luật về thủ tục giải
quyết vụ án hành chính.
- Đưa ra kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật thủ tục giải quyết
các vụ án hành chính nhằm góp phần thúc đẩy làm tốt hơn nữa thực tiễn giải
quyết các khiếu kiện hành chính tại toà án nhân dân.
7. Ý nghĩa khoa học của đề tài
5
Đề tài nghiên cứu góp phần nâng cao cơ sở lý luận của vấn đề giải quyết
vụ án hành chính, thúc đẩy hoàn thiện pháp luật tố tụng hành chính và hệ
thống pháp luật nói chung.
phù hợp còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chính trị, văn hoá, lịch sử,
truyền thống pháp lý, và tập quán của riêng mỗi nước.
Xét về phương diện dân chủ thì tài phán hành chính là một cơ chế bảo
đảm quyền dân chủ cho công dân khi họ cho rằng các cơ quan công quyền
trong quy trình thực hiện công vụ đã vi phạm pháp luật, xâm hại đến quyền
và lợi ích của họ. Xét về phương diện pháp chế thì tài phán hành chính là một
công cụ hữu hiệu để Nhà nước kiểm soát sự hoạt động của bộ máy quản lý,
đảm bảo sự nhất quán trong việc thực hiện đường lối, chính sách quyền lực
chính trị. Xuất phát từ quan điểm đó, Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương
Đảng lần thứ 8 (khoá VII) đã chỉ ra một trong những nội dung cơ bản của cải
cách hành chính nhà nước ta trong giai đoạn trước mắt là: “Đẩy mạnh việc
giải quyết các khiếu kiện của dân. Soát xét, bổ sung và thể chế hoá các chính
sách, trước hết đối với lĩnh vực mà dân khiếu kiện nhiều. Xúc tiến thiết lập hệ
thống Toà án hành chính để xét xử các khiếu kiện của dân đối với các quyết
định hành chính.” [10] 7
1.1.1.Việc thành lập Toà án hành chính và vấn đề xây dựng nhà
nước pháp quyền ở Việt nam.
Nhà nước pháp quyền là một kiểu nhà nước được xây dựng trên một xã
hội công dân, nhà nước dân chủ, một nhà nước được tổ chức và hoạt động
theo pháp luật, quản lý bằng pháp luật, trong đó quyền dân chủ, quyền con
người được quy định thành luật. Mỗi công dân có quyền, đồng thời được đảm
bảo khả năng thực hiện quyền đó và buộc người nắm giữ quyền hành pháp
phải tôn trọng và thực hiện đúng pháp luật. Điều đó có nghĩa là nếu pháp luật
đòi hỏi công dân phải có trách nhiệm với nhà nước, xã hội thì cũng đòi hỏi
Nhà nước có trách nhiệm với công dân [54;tr.28]. Trách nhiệm đó trước hết
là các bảo đảm pháp lý để thực hiện các quyền tự do, dân chủ nâng cao dân
vậy để giải quyết vấn đề này, đòi hỏi có một cơ quan chuyên thực hiện chức
năng tài phán hành chính, hoạt động theo nguyên tắc xét xử chỉ tuân theo
pháp luật. Cơ quan này có trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát, phán quyết việc
thực thi pháp luật của các cơ quan nhà nước, các cán bộ, công chức nhà nước.
Trong tiến trình lịch sử, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta đã
giành được nhiều thành tựu vẻ vang. Tuy nhiên, xét dưới góc độ quản lý, Nhà
nước ta còn bộc lộ một số nhược điểm. Cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước
cồng kềnh, hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả. Quyền dân chủ của người dân
ở góc độ nào đó chưa được thực sự được bảo đảm và tôn trọng, còn mang
nặng tính hình thức. Đại hội VI của Đảng năm 1996 đã đề ra đường lối đổi
mới toàn diện đất nước, xoá bỏ cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung quan
liêu bao cấp, phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của nhà nước, tiến tới xây dựng nhà nước XHCN gắn
liền với một xã hội công dân mà trong đó vấn đề đảm bảo quyền dân chủ của
công dân luôn được đặt ra như là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng. Tiếp đó
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã
đề ra phương hướng xây dựng CNXH ở nước ta: ”Xây dựng nhà nước xã hội
chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân… thực hiện đầy đủ quyền
làm chủ của nhân dân” [40;tr.34]. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII và lần
thứ IX tiếp tục khẳng định nhiệm vụ xây dựng nhà nước pháp quyền, trong
đó một yêu cầu bức xúc đặt ra là “xúc tiến việc thành lập Toà án hành chính
9
trong Toà án nhân dân, bổ sung thể chế làm căn cứ cho việc xét xử”"
[11;tr.243].
Trong khi đó, hầu hết các nước trên thế giới đều đã thành lập Toà án
hành chính, Toà án hành chính lâu đời nhất phải kể đến Cộng hoà Pháp được
thành lập từ cách đây hơn 200 năm, Cộng hoà Liên bang Đức, các nước châu
Âu, châu Mỹ, châu Á như Trung quốc, Thái Lan, Sinhgapore, có thể nói,
Toà án hành chính như sản phẩm tất yếu của sự phát triển của nền văn minh
khoa học, kinh tế của người dân ngày càng được nâng cao. Người dân càng
hiểu sâu sắc và biết sử dụng các quyền luật định tham gia vào bảo vệ quyền
lơị của mình. Hoạt động quản lý của cơ quan nhà nước đã có những thay đổi
cơ bản, vì dân hơn, phục vụ tốt hơn công cuộc đổi mới. Tuy nhiên trong quá
trình đổi mới, các cơ quan quản lý hành chính nhà nước, cán bộ công chức
nhà nước không tránh khỏi việc ra những quyết định hoặc hành vi trái pháp
luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích của hợp pháp của cơ quan, của cá nhân
tổ chức.
Trong những năm qua, tình hình giải quyết khiếu nại ở nước ta có diễn
biến tương đối phức tạp. Tình hình khiếu nại, tố cáo gia tăng, số vụ việc hàng
năm các cơ quan nhà nước phải thụ lý rất lớn, tình trạng khiếu kiện vượt cấp
ngày càng tăng, khiếu kiện tập thể phức tạp, gây bức xúc, ảnh hưởng đến an
ninh và trật tự xã hội (Xem phụ lục 1, 2)[31]. Tình hình đó phải kể đến một
số nguyên nhân sau:
- Chính sách pháp luật nước ta đang trong quá trình hoàn thiện nên
thiếu tính đồng bộ. Những quy định của Luật khiếu nại, tố cáo là luật khung
về luật nội dung nhưng cũng còn nhiều điểm mâu thuẫn.
- Về phía người khiếu kiện, nhiều người quá nặng vì lợi ích cá nhân, so
sánh lợi ích trước, sau cho rằng mình bị thiệt thòi nên khiếu kiện kéo dài.
Nhiều người không hiểu chính sách pháp luật, khiếu kiện thiếu căn cứ cố
chấp, không tôn trọng pháp luật.
-Về phía cơ quan nhà nước: nhiều vụ việc không giải quyết dứt điểm
khi mới phát sinh, nhiều ngành cấp đùn đẩy, né tránh, có trường hợp thiếu
trách nhiệm khi giải quyết, chất lượng giải quyết chưa cao, nhiều vụ việc giải
11
quyết không đúng chính sách, pháp luật. Nhiều cán bộ sai phạm, nhưng
không nhận thức đúng sai phạm của mình, thách đố với nhân dân.
-Cơ chế giải quyết khiếu nại theo con đường hành chính như hiện nay,
cơ quan hành chính vừa là người bị kiện lại vừa là người đưa ra các phán
Toà án nhân dân tối cao, ngày 21.5.1996, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã
thông qua Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, có hiệu lực thi
hành từ 1.7.1996. Sau 2 năm đưa pháp luật vào thực tiễn, ngày 25.12.1998,
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số
điều của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, (dưới đây gọi tắt
là Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung) điều chỉnh những vướng mắc trên thực tế, một
mặt để phù hợp với Luật Khiếu nại, tố cáo đã được Quốc hội thông qua ngày
2.12.1998 và có hiệu lực từ 1.1.1999.
Cũng như mô hình toà hành chính lần đầu tiên xuất hiện ở Việt nam,
vụ án hành chính cũng là một khái niệm hoàn toàn mới mẻ. Trước khi tìm
hiểu khái niệm vụ án hành chính, chúng ta sẽ bắt đầu từ một số khái niệm có
liên quan:
1.2.1 Khái niệm Khiếu nại hành chính
Khái niệm khiếu nại xuất phát từ tiếng Latinh “Complaint” nghĩa là
cầu cứu, kêu oan, nài xin. Thông thường khiếu nại thường được nảy sinh từ
mối quan hệ bất bình đẳng giữa người khiếu naị và người bị khiếu nại. Người
bị khiếu nại thường có quyền hạn nhất định đối với người bị khiếu nại và đã
sử dụng quyền hạn đó tác động vào người khiếu nại và bị người khiếu nại
phản đối. Dưới giác độ luật học thì khái niệm này thường được hiểu hẹp hơn
so với nghĩa của từ này. Theo Từ điển Pháp- Việt, công dân có “ quyền khiếu
nại với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về một quyết định hoặc một việc
làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc nhân viên nhà
nước trong hoạt động quản lý hành chính” [18;tr.246]. Theo khoản 1 Điều 2
của Luật Khiếu nại, tố cáo 1998 quy định: “khiếu nại là việc công dân, cơ
quan, tổ chức hoặc cán bộ công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề
nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành
chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có
căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm
quyền, lợi ích hợp pháp của mình”[25] Theo quy định của Luật này thì khái
và hoàn thiện Nhà nước cộng hoà XHCN Việt Nam, trọng tâm là cải cách
một bước nền hành chính, đã nhấn mạnh: đẩy mạnh việc giải quyết các khiếu
14
kiện của dân xúc tiến việc thiết lập hệ thống Toà án hành chính để xét xử
các khiếu kiện của dân đối với các quyết định hành chính. Như vậy có thể
nói, thuật ngữ “khiếu kiện” hay “ khiếu kiện hành chính” ra đời cùng với quá
trình đổi mới cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính và với sự ra đời của cơ
chế tài phán hành chính ở nước ta.
Trước khi thành lập Toà án hành chính 1996, việc giải quyết khiếu nại
ở nước ta hoàn toàn giao cho cơ quan hành chính nhà nước giải quyết. Trong
khi đó nhiều nước trên thế giới việc giải quyết tranh chấp hành chính được
thực hiện bằng cả hai con đường: giải quyết khiếu nại theo thủ tục hành chính
và giải quyết khiếu nại theo thủ tục tố tụng. Do đó, khái niệm khiếu kiện
hành chính là thuật ngữ có nội hàm rộng lớn hơn, chỉ việc cá nhân, tổ chức
phản đối lại một quyết định hành chính, hành vi hành chính, tại cơ quan nhà
nước có thẩm quyền theo thủ tục hành chính hoặc tại Toà án có thẩm quyền
theo thủ tục tố tụng tư pháp nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp cuả cá nhân, cơ
quan tổ chức nhằm hạn chế các vi phạm từ phía cơ quan hành chính nhà
nước.
1.2.3 Khái niệm vụ án hành chính: lần đầu tiên khái niệm này được
quy định tại Điều 1 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính: “ Cá
nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức theo thủ tục do pháp luật quy định có quyền
khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình”. Như vậy khi công dân, cơ quan nhà nước, tổ chức thực hiện
quyền khởi kiện của mình theo thủ tục do luật định, yêu cầu Toà án bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình mà họ cho rằng bị xâm phạm bởi quyết
định hành chính, hành vi hành chính và được Toà án thụ lý giải quyết thì khi
đó phát sinh vụ án hành chính.
Vụ án hành chính có những đặc điểm sau:
định của pháp luật về cán bộ, công chức. Theo quy định của pháp luật hiện
hành, không phải tất cả các quyết định kỷ luật buộc thôi việc đều có thể kiện
ra toà hành chính mà chỉ các quyết định buộc thôi việc đối với cán bộ công
chức từ vụ trưởng và tương đương trở xuống, nếu bị khiếu kiện mới thuộc
thẩm quyền xét xử của Toà hành chính.
Hành vi hành chính hay còn gọi là hành vi của cán bộ, công chức trong
hoạt động công vụ, là hành vi của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền
trong cơ quan nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật.
16
Theo quy định điều 2, điều 4, điều 12 của Pháp lệnh 1998 thì hành vi hành
chính là hành vi thực hiện hoặc không thực hiện công vụ của cán bộ, viên
chức nhà nước trong khi thực hiện công vụ. Cùng là đối tượng xét xử của toà
hành chính, nhưng hành vi hành chính không được thể hiện bằng văn bản, mà
hình thức biểu hiện dưới dạng không làm đúng, hoặc làm trái các quy định
của pháp luật, hay im lặng tức là không thực hiện một trách nhiệm, một nghĩa
vụ đáng lẽ phải làm.Tóm lại, “hành vi có thể được thực hiện dưới hình thức
hành động hoặc không hành động”[56;tr.401].Hành vi trái pháp luật này trực
tiếp gây ra thiệt hại hoặc xâm hại trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân, giữa hành vi này và thiệt hại có mối quan hệ nhân quả.
Giải quyết vụ án hành chính là việc Toà án xem xét và phán quyết tính
có căn cứ, tính hợp pháp đối với quyết định hành chính của cơ quan nhà nước
hoặc hành vi hành chính của nhân viên nhà nước khi thực hiện quyền lực
công bị khiếu kiện. Toà án không xác định các quyền dân sự của công dân,
pháp nhân như trong vụ án dân sự.
Theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, để đánh giá tính hợp
pháp của một văn bản quy phạm pháp luật thì phải xem xét những căn cứ về
nội dung, mục đích, thẩm quyền thể thức, trình tự thủ tục ban hành của văn
bản ấy. Đồng thời, các điều khoản, các chứng cứ, tài liệu được sử dụng làm
căn cứ để ban hành quyết định hành chính đó, cũng phải đảm bảo yêu cầu
quyết vụ án hành chính tại Toà án không khác nhau, khi cơ quan quản lý xem
xét giải quyết khiếu nại tức là cơ quan quản lý cũng đã thực hiện chức năng
hành chính tư pháp [19]. Cả hai cơ chế này đều nhằm mục đích cuối cùng là
giải quyết triệt để, dứt điểm các tranh chấp hành chính. Tuy nhiên, đây là hai
giai đoạn khác nhau trong quá trình giải quyết khiếu kiện hành chính. Cái
khác nhau chủ yếu của hai giai đoạn này là phương thức thực hiện, tiến hành
công việc đó.
Cơ chế giải quyết khiếu nại theo thủ tục hành chính gồm những đặc
điểm sau:
- Công dân, tổ chức có quyền khiếu nại trong mọi lĩnh vực nếu cho
rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà
nước, của người có thẩm quyền trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích của
mình.
-Trình tự thủ tục giải quyết trên những nguyên tắc của hoạt động hành
chính, đó là các khâu: thủ tục nhận đơn, thẩm tra, ban hành quyết định, trình
tự giải quyết theo thứ bậc hành chính
-Trong quá trình giải quyết vụ việc, ngoài việc đánh giá tính hợp pháp
của khiếu nại hành chính, hành vi hành chính các cơ quan có thẩm quyền còn
có thể xét đến tính hợp lý của các quyết định bị khiếu nại. Đồng thời, các cơ
quan nhà nước khi giải quyết khiếu kiện hành chính không chỉ quan tâm đến
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại mà còn quan tâm đến
việc bảo đảm tính liên tục cho hoạt động của các cơ quan hành chính nhà
nước không bị ách tắc, không ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý cũng như lợi
ích chung của toàn xã hội.
Việc giải quyết khiếu nại ở nước ta cho đến trước năm 1996 giao cho
cơ quan quản lý nhà nước thực hiện. Việc áp dụng cơ chế này cũng đã mang
lại nhiều tác dụng tích cực:
19
- Số lượng các vụ khiếu nại hàng năm và trên các lĩnh vực là rất lớn.
20
chữa và thông báo cho các bên có liên quan, thực hiện bồi thường thiệt hại
nếu có. Như vậy, tranh chấp được giải quyết ngay từ khi phát sinh.
Tuy nhiên, trên thực tế cho thấy, cơ chế giải quyết khiếu nại thông qua
con đường hành chính trong nhiều năm qua đã tỏ ra kém hiệu quả và thiếu
dân chủ. Thực chất giải quyết khiếu nại hành chính là việc giải quyết tranh
chấp, trong đó đối tượng bị kiện luôn là cơ quan nhà nước, nhân viên nhà
nước trong quá trình thực thi công vụ. Quy định giao quyền giải quyết tranh
chấp cho cơ quan hành chính đã biến cơ quan hành chính vừa là người bị
kiện, vừa là quan toà. Người dân trong mối quan hệ vốn đã bất bình đẳng với
các cơ quan hành chính, chỉ có quyền nộp đơn và chờ đợi, không được tham
gia vào quá trình giải quyết khiếu nại, không được thông báo công khai cách
giải quyết, lại càng yếu thế hơn, chỉ trông chờ vào thiện ý của cơ quan nhà
nước. Đã có nhiều cơ quan, cán bộ công chức coi việc giải quyết khiếu nại
như một sự ban ơn, do đó cũng là nguyên nhân nảy sinh tiêu cực, gây sách
nhiễu phiền hà cho người dân.
Thủ tục giải quyết khiếu nại thiếu chặt chẽ, dứt điểm nên nhiều vụ việc
bị kéo dài, chuyển lòng vòng, thiếu khách quan, công bằng. Nhiều cơ quan
còn bao che, né tránh làm cho tình hình càng thêm phức tạp.
Trong khi đó, cơ chế giải quyết khiếu kiện bằng con đường Toà án có
những ưu điểm:
-Với phương thức xét xử độc lập, chỉ tuân theo pháp luật, công khai,
nên việc giải quyết các khiếu kiện hành chính sẽ nhanh chóng, khách quan.
- Việc giải quyết tại Toà án tuân thủ theo một thủ tục tố tụng hành
chính chặt chẽ do luật quy định, đảm bảo công bằng, bình đẳng, trong việc
thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự.
- Pháp luật cũng quy định thời hạn bắt buộc phải giải quyết vụ án hành
chính nên tránh được tình trạng đùn đẩy, lòng vòng, kéo dài, bắt người dân
phải chờ đợi. Các vụ việc được Toà hành chính xét xử mang tính toàn diện,
đầy đủ, chính xác và triệt để.
để những người tham gia tố tụng nắm được và thực hiện dễ dàng, các bên
tham gia tố tụng hành chính đều có những quyền và nghĩa vụ rõ ràng theo
luật định. Họ bắt buộc phải thực hiện trách nhiệm của mình để việc xét xử
nhanh chóng, chính xác, khách quan, công minh và hiệu qủa.