ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM CAO THÁI
PHÁP LUẬT VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT
TRONG HOẠT ĐỘNG LỮ HÀNH, HƯỚNG DẪN DU LỊCH
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Du lịch
(Chương trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
2.1.1. Luật Du lịch 2005
2.1.2. Nghị định 92/2007/NĐ-CP ngày 01/6/2007
2.1.3. Nghị định 149/2007/NĐ-CP ngày 09/10/2007
2.1.4. Thông tư 89/2008/TT-BVHTTDL ngày 30/12/2008
2.1.5. Một số quy định pháp luật khác có nội dung liên quan
2.2. Quy định pháp luật về lữ hành, hướng dẫn du lịch
2.2.1. Quy định pháp luật về lữ hành
2.2.2. Quy định pháp luật về hướng dẫn du lịch
2.3. Quy định pháp luật về lữ hành, hướng dẫn du lịch
của một số quốc gia
3
4
9
9
9
11
13
13
13
17
19
21
21
21
31
32
33
35
38
pháp luật về lữ hành, hướng dẫn du lịch
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
50
52
53
56
57
59
59
61
68
69
70
71
72
75
75
78
82
82
86
91
Tổng cục Du lịch
WTO
Tổ chức Thương mại thế giới
4 MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt
động du lịch ở nước ta đã và đang diễn ra với quy mô lớn, tăng trưởng với tốc
độ cao. Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương chính sách phát triển Du
lịch khá mạnh mẽ. Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng đã nêu: “Phát
triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn…”. Luật Du lịch 2005
ra đời trở thành công cụ hữu ích góp phần tăng cường công tác quản lý nhà
nước trong lĩnh vực du lịch. Tuy nhiên, sau khi Luật Du lịch có hiệu lực, việc
chậm ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành luật đã có ảnh hưởng không
nhỏ đến việc thực thi luật. Qua thực tiễn áp dụng đã có một số những quy
quan nhà nước cũng là đối tượng chấp hành pháp luật trong quá trình thực
hiện quản lý hoạt động du lịch. Trong khi đó, chưa có công trình nghiên cứu
nào đề cập cụ thể đến những tồn tại, bất cập giữa các văn bản pháp luật với
thực tiễn thi hành. Mặt khác, những nội dung nghiên cứu trên là nghiên cứu
hoạt động quản lý nhà nước trong phạm vi những quy định pháp luật về du
lịch (Pháp lệnh Du lịch 1999 hoặc Luật Du lịch 2005 và các văn bản hướng
dẫn) chứ không nghiên cứu về vấn đề thực thi pháp luật trong hoạt động lữ
hành, hướng dẫn du lịch.
Vì vậy, nội dung nghiên cứu đề tài này tập trung vào những quy định
pháp luật về lữ hành, hướng dẫn du lịch và một số quy định pháp luật liên
quan có nội dung điều chỉnh hoạt động lữ hành, hướng dẫn du lịch; thực trạng
việc thi hành pháp luật trong hoạt động lữ hành và hướng dẫn du lịch ở Việt
6
Nam hiện nay, từ việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, những tồn tại,
bất cập giữa những quy định so với thực tiễn đến những vấn đề mới nảy sinh
trong quá trình diễn ra hoạt động lữ hành và hướng dẫn du lịch đòi hỏi có sự
điều chỉnh của pháp luật; những đề xuất nhằm tăng cường thực thi pháp luật
trong hoạt động lữ hành, hướng dẫn du lịch và điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện
những quy định pháp luật về du lịch.
Như vậy, việc nghiên cứu "Pháp luật và thực thi pháp luật trong
hoạt động lữ hành, hướng dẫn du lịch ở Việt Nam hiện nay" là một việc
làm vừa có ý nghĩa khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn, là một đòi hỏi cấp
bách hiện nay.
Bên cạnh ý nghĩa khoa học nêu trên, đề tài đặc biệt có ý nghĩa thực
tiễn. Là một đề tài ứng dụng, góp phần cùng ngành Du lịch vận dụng lý luận
khoa học nhà nước - pháp luật vào thực tiễn, thực hiện công cuộc cải cách
hoàn thiện hệ thống pháp luật, sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước trong lĩnh vực du lịch.
Về thời gian: Những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn từ khi Luật Du lịch
2005 ra đời và có hiệu lực thi hành cho đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí
Minh về nhà nước pháp luật, luận văn sử dụng những phương pháp sau:
Phương pháp chuyên gia; Phương pháp tổng hợp; Phương pháp so sánh;
Phương pháp hệ thống.
5. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết luận,
kết cấu của Luận văn gồm 3 chương, cụ thể là:
Chương 1: Pháp luật về lữ hành, hướng dẫn du lịch ở Việt Nam
8
Chương 2: Thực thi pháp luật trong hoạt động lữ hành, hướng dẫn du
lịch ở Việt Nam
Chương 3: Những đề xuất tăng cường thực thi pháp luật trong hoạt
động lữ hành, hướng dẫn du lịch ở Việt Nam
1.1. Pháp luật
1.1.1. Khái niệm
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do
nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai
cấp thống trị trong xã hội, được nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm mục đích
điều chỉnh các quan hệ xã hội. Pháp luật là công cụ để thực hiện quyền lực
nhà nước và là cơ sở pháp lý cho đời sống xã hội có nhà nước.
Như vậy pháp luật được hình thành bằng hai con đường: Thứ nhất nhà
nước thừa nhận các quy phạm xã hội - phong tục, tập quán chuyển chúng
thành pháp luật, thứ hai, bằng hoạt động xây dựng pháp luật định ra những
quy phạm mới.
Pháp luật cũng giống như mọi hiện tượng xã hội, có các hình thức thể
hiện và hình thức tồn tại riêng. Hình thức pháp luật gồm: hình thức bên ngoài
(nguồn của pháp luật) và hình thức bên trong của pháp luật (cấu trúc của pháp
luật).
Khi nói đến hình thức bên ngoài của pháp luật là nói đến sự biểu hiện
ra bên ngoài của pháp luật. Đó là văn bản quy phạm pháp luật. Văn bản quy
phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo
thủ tục, trình tự luật định, trong đó có các quy tắc xử sự chung, được nhà
nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng
xã hội chủ nghĩa và được áp dụng nhiều lần trong thực tế đời sống. Văn bản
quy phạm pháp luật chia làm 2 loại: văn bản luật và văn bản dưới luật.
10
Hình thức bên trong của pháp luật là hình thức cấu trúc của pháp luật.
Pháp luật có các bộ phận cơ cấu, bao gồm: quy phạm pháp luật, chế định pháp
luật, ngành luật.
Từ định nghĩa trên rút ra những nhận xét sau:
- Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm
quyền ban hành. Nghĩa là chỉ có những văn bản nào được cơ quan nhà nước
đổi Hiến pháp). Hiến pháp quy định những vấn đề cơ bản nhất của Nhà nước
như: Hình thức và bản chất của Nhà nước, chế độ chính trị, chế độ kinh tế,
văn hoá, xã hội, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, hệ thống tổ chức,
nguyên tắc hoạt động và thẩm quyền của các cơ quan nhà nước. Trong hệ
thống văn bản quy phạm pháp luật, Hiến pháp là luật cơ bản của nhà nước, có
hiệu lực pháp lý cao nhất. Mọi văn bản pháp luật khác đều phải phù hợp với
các quy định của Hiến pháp.
- Luật (bộ luật, luật), nghị quyết của Quốc hội có chứa đựng các quy
phạm pháp luật là những văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất ban hành để cụ thể hoá Hiến pháp, nhằm điều
chỉnh các quan hệ xã hội trong các lĩnh vực hoạt động của nhà nước.
Trong lĩnh vực du lịch, Luật Du lịch 2005 là văn bản luật điều chỉnh
các quan hệ xã hội trong các hoạt động du lịch. Luật Du lịch có giá trị pháp lý
cao chỉ sau Hiến pháp, vì vậy khi xây dựng các văn bản dưới luật quy định về
du lịch phải dựa trên cơ sở các quy định thể hiện trong Luật Du lịch 2005,
không được trái với các quy định đó.
1.1.3. Văn bản dưới luật
Văn bản dưới luật là những văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan
nhà nước ban hành theo trình tự, thủ tục và hình thức được pháp luật quy
định.
12
Theo Hiến pháp năm 1992 và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp
luật, hiện nay ở nước ta có những loại văn bản dưới luật sau:
- Pháp lệnh do Uỷ ban thường vụ quốc hội ban hành quy định những
vấn đề được Quốc hội giao. Thẩm quyền ban hành Pháp lệnh của Uỷ ban
thường vụ quốc hội được quy định trong Điều 91 và Điều 93 của Hiến pháp
năm 1992.
- Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ quốc hội được ban hành để giải
thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh, giám sát việc thi hành Hiến pháp, văn bản
lịch là gì, tuy nhiên trên cơ sở lý luận về pháp luật và hệ thống pháp luật, với
cách tiếp cận nhìn từ hình thức bên ngoài của pháp luật thì đó chính là những
văn bản quy phạm pháp luật quy định về du lịch. Pháp luật về du lịch là một
bộ phận cấu thành không thể tách rời trong một chỉnh thể thống nhất hệ thống
pháp luật Việt Nam. Trong đó, khi nói đến pháp luật về lữ hành, hướng dẫn
du lịch tức là chỉ nói đến những quy định cụ thể trong những văn bản quy
phạm pháp luật điều chỉnh những mối quan hệ nảy sinh trong hoạt động lữ
hành, hướng dẫn du lịch
Như vậy, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, về mặt nội dung
không đi sâu nghiên cứu toàn bộ pháp luật về du lịch mà đi sâu nghiên cứu
những quy định pháp luật về du lịch được quy định trong Luật Du lịch 2005,
các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành Luật Du lịch. Trong đó tập trung
vào những nội dung quy định về lữ hành, hướng dẫn du lịch.
1.2. Thực thi pháp luật
Thực thi pháp luật, theo quan niệm chung nó là một quá trình làm cho
những quy định pháp luật được áp dụng trong thực tiễn mà biểu hiện của nó là
việc thực hiện pháp luật của các tổ chức, cá nhân trong cuộc sống xã hội và
việc áp dụng pháp luật (hay còn gọi là thi hành pháp luật) của các cơ quan,
14
người có thẩm quyền, nhằm thực hiện trong thực tế các quy phạm pháp luật
trong mọi tình huống cụ thể của cuộc sống.
Nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm xác định
những khả năng xử sự của mọi cá nhân, tổ chức. Khả năng đó chỉ trở thành
hiện thực trong đời sống khi các chủ thể pháp luật thực hiện nghiêm chỉnh
pháp luật. Thực hiện đúng đắn và nghiêm chỉnh pháp luật là một yêu cầu
khách quan của quản lý nhà nước và xã hội bằng pháp luật. Pháp luật được
ban hành nhiều nhưng ít đi vào cuộc sống thì điều đó chứng tỏ công tác quản
lý nhà nước kém hiệu quả. Chính vì vậy, xây dựng pháp luật và thực hiện
pháp luật là hai hoạt động có quan hệ chặt chẽ với nhau. Nhà nước sử dụng
chủ thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình (thực hiện những hành vi
mà pháp luật cho phép).
Hình thức này khác với các hình thức trên ở chỗ chủ thể pháp luật có
thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật cho phép theo ý chí
của mình chứ không bị bắt buộc phải thực hiện, chẳng hạn như khách du lịch
thực hiện quyền kiến nghị, khiếu nại.
Áp dụng pháp luật: Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà
nước thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ
chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc
tự mình căn cứ vào những quy định của pháp luật để tạo ra các quyết định làm
phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể.
Nếu tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật là những
hình thức thực hiện pháp luật mà mọi chủ thể pháp luật đều có thể thực hiện
thì áp dụng pháp luật là hình thức luôn luôn đòi hỏi phải có sự tham gia của
các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền. Áp dụng pháp luật
16
là một hình thức rất quan trọng của thực hiện pháp luật liên quan đến hiệu quả
hoạt động của bộ máy nhà nước vì thế cần thiết phải đi sâu nghiên cứu.
Thi hành pháp luật - việc áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước: Áp
dụng pháp luật là một hoạt động có tổ chức mang tính quyền lực nhà nước
của các cơ quan, người có thẩm quyền, nhằm thực hiện trong thực tế các quy
phạm pháp luật trong mọi tình huống cụ thể của cuộc sống.
Hoạt động áp dụng pháp luật được tiến hành trong các trường hợp sau:
- Khi những quan hệ pháp luật với những quyền và nghĩa vụ cụ thể
không mặc nhiên phát sinh nếu thiếu sự can thiệp của nhà nước;
- Khi xảy ra tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý giữa các
bên tham gia vào quan hệ pháp luật mà các bên đó không tự giải quyết được;
- Khi cần áp dụng các biện pháp chế tài được nhà nước quy định trong
các quy phạm pháp luật nhằm bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm
quy phạm, ra văn bản áp dụng pháp luật và tổ chức thi hành.
Như vậy, thi hành pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện
quyền lực nhà nước, được thực hiện thông quan những cơ quan nhà nước có
thẩm quyền, nhà chức trách, hoặc các tổ chức xã hội khi được nhà nước trao
quyền, nhằm cá biệt hoá những quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể
đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể.
1.3. Quan niệm pháp luật về du lịch
Sự ra đời, tồn tại và phát triển của hoạt động du lịch với tính chất là
một hoạt động kinh tế - xã hội là cơ sở thực tiễn cho sự ra đời và phát triển
của pháp luật về du lịch. Về cơ sở lý luận, cho đến nay chưa có một định
nghĩa thống nhất pháp luật về du lịch. Tuy nhiên, từ góc độ lý luận, xuất phát
18
từ đối tượng điều chỉnh của pháp luật về du lịch để tiếp cận khái niệm này
theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng, đối tượng điều chỉnh của pháp luật về du lịch là các
quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình diễn ra các hoạt động du lịch. Hoạt
động du lịch có thể làm nảy sinh nhiều quan hệ xã hội thuộc các lĩnh vực khác
nhau, trên thực tế khó có thể liệt kê đầy đủ. Như việc quy hoạch phát triển du
lịch, quản lý tài nguyên du lịch liên quan đến lĩnh vực đầu tư xây dựng, nông
nghiệp Việc tổ chức, thành lập các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh du
lịch làm phát sinh quan hệ quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp, các cá
nhân hành nghề hướng dẫn, đội ngũ nhân viên phục vụ cho hoạt động du lịch.
Đây chính là cơ sở làm phát sinh nhiều nhóm quan hệ xã hội khác nhau về du
lịch, trong đó có thể kể đến: quan hệ giữa nhà nước với doanh nghiệp kinh
doanh du lịch, quan hệ giữa người chịu trách nhiệm trước pháp luật của doanh
nghiệp lữ hành với người điều hành du lịch, quan hệ giữa người điều hành với
đội ngũ hướng dẫn viên, quan hệ giữa doanh nghiệp với khách du lịch, giữa
hướng dẫn viên với khách. Các quan hệ này rất khác nhau về cả tính chất nội
dung và thành phần chủ thể. Với đối tượng điều chỉnh như vậy, pháp luật về
luật về du lịch nói chung hay pháp luật về lữ hành, hướng dẫn du lịch nói
riêng dù được xác định trên nguyên tắc nào đi chăng nữa thì cũng luôn có mối
liên hệ chặt chẽ với nhau về mặt nội dung.
1.4. Thực thi pháp luật về lữ hành, hướng dẫn du lịch
Thực thi pháp luật về lữ hành, hướng dẫn du lịch được đề cập đến ở
đây bao gồm:
- Là quá trình các tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh lữ hành, bao
gồm các doanh nghiệp trong nước, các văn phòng đại diện doanh nghiệp du
20
lịch nước ngoài tại Việt Nam và các tổ chức, cá nhân liên quan thực hiện,
chấp hành những quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam trong hoạt động
lữ hành; là quá trình các doanh nghiệp lữ hành, các cá nhân tham gia vào hoạt
động hướng dẫn du lịch chấp hành những quy định pháp luật về hướng dẫn du
lịch;
- Là quá trình các cơ quan nhà nước về du lịch, từ Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch đến Tổng cục Du lịch, các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
cho đến các cơ quan liên quan áp dụng những quy định pháp luật về lữ hành,
hướng dẫn du lịch trong thực tiễn cuộc sống như: Việc cấp phép kinh doanh
lữ hành quốc tế của Tổng cục Du lịch; việc cấp thẻ hướng dẫn viên của Sở
Văn hóa, Thể thao và Du lịch; việc thanh tra, kiểm tra hoạt động kinh doanh
lữ hành, hướng dẫn du lịch và áp dụng các quy định pháp luật xử phạt hành
chính đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm
Điều đặc biệt của Luật Du lịch là đã quán triệt ngay quan điểm của
Đảng và Nhà nước về định hướng phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi
nhọn của đất nước, đó là những quy định về chính sách phát triển du lịch
trong đó Nhà nước có cơ chế, chính sách huy động mọi nguồn lực và tăng đầu
tư để phát triển du lịch, và có chính sách khuyến khích, ưu đãi về đất đai, tài
chính, tín dụng đối với tổ chức, cá nhân đầu tư vào một số lĩnh vực trong du
lịch. Ở đây có sự phân biệt rõ giữa các lĩnh vực nhà nước thực hiện và những
22
lĩnh vực Nhà nước hỗ trợ để phát triển du lịch, trong đó Nhà nước chú trọng
công tác quy hoạch, đồng thời chú trọng hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch,
công tác xúc tiến, quảng bá quốc gia, bảo vệ tài nguyên du lịch và môi trường
du lịch, nghiên cứu ứng dụng công nghệ vào hoạt động du lịch và công tác
đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch. Luật Du lịch cho phép thành lập
quỹ hỗ trợ phát triển du lịch, và quy định Chính phủ trên cơ sở những chính
sách cơ bản này sẽ ban hành những chính sách cụ thể, đặc thù, áp dụng trong
từng giai đoạn nhất định để phát triển du lịch. Đó có thể là những quy định về
ưu đãi thuế đối với việc nhập khẩu phương tiện cao cấp phục vụ cho vận
chuyển khách du lịch, các trang thiết bị chuyên dùng hiện đại cho cơ sở lưu
trú du lịch hạng cao cấp. Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch để hỗ trợ cho việc phát
triển du lịch trên cơ sở huy động các nguồn đóng góp của tổ chức, cá nhân
khác nhau. Quỹ được hình thành từ nguồn đóng góp của các chủ thể hưởng
lợi từ hoạt động du lịch (các tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng
dân cư, các cơ quan nhà nước ), nguồn đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá
nhân trong nước và nước ngoài.
Các nội dung về quản lý nhà nước đối với du lịch có nhiều điểm mới,
đã thể hiện các yêu cầu của công tác quản lý nhà nước về du lịch, đó là yêu
cầu quản lý đối với một ngành kinh tế độc lập trong nền kinh tế quốc dân, từ
việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật về du lịch đến quy
hoạch, kế hoạch, chiến lược, chính sách phát triển du lịch, vấn đề về tổ chức
của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể (tài nguyên du lịch
nhân văn). Về chế độ quản lý, bảo vệ, tài nguyên du lịch thuộc sự quản lý của
các ngành, các cấp khác nhau, đối với mỗi loại tài nguyên du lịch đã có Luật
riêng điều chỉnh như Luật Di sản văn hóa, Luật Bảo vệ và phát triển rừng,
Luật Thủy sản, Luật Khoáng sản Vì vậy, Luật Du lịch chỉ đưa ra các nguyên
24
tắc chung và quy định trách nhiệm cụ thể của các bộ, ngành, chính quyền các
cấp, nghĩa vụ của các cơ quan chủ quản và chủ sở hữu tài nguyên du lịch
trong việc bảo vệ, tôn tạo và phát triển tài nguyên du lịch, tạo điều kiện cho
khách du lịch đến tham quan, thụ hưởng tài nguyên du lịch. Luật Du lịch đã
khẳng định tài nguyên du lịch có thể thuộc sở hữu nhà nước, có thể thuộc tổ
chức, cá nhân. Đây là một nội dung mang tính pháp lý cao ảnh hưởng tích cực
đến việc phát triển du lịch khi đề cập đến một lĩnh vực nhạy cảm là “tài
nguyên du lịch” với việc xác định sở hữu cá nhân, tuy nhiên Luật xác định
cho dù nó thuộc sở hữu nào thì đều phải được bảo vệ, tôn tạo, khai thác hợp
lý để phát huy hiệu quả sử dụng và bảo đảm phát triển du lịch bền vững. Luật
quy định tổ chức, cá nhân sở hữu tài nguyên du lịch có trách nhiệm phối hợp
với cơ quan nhà nước về du lịch có thẩm quyền trong việc sử dụng và khai
thác tài nguyên du lịch cho các mục tiêu kinh tế khác nhưng bảo đảm không
làm giảm độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch. Theo Luật du lịch, quản lý tài
nguyên và bảo vệ môi trường du lịch gắn chặt với vai trò của UBND trong
công tác quản lý địa bàn, lãnh thổ. Như việc thành lập Ban quản lý Khu du
lịch do UBND tỉnh quyết định hoặc trong trường hợp khu du lịch được giao
cho một chủ đầu tư thì chủ đầu tư chịu trách nhiệm thành lập ban quản lý. Với
những quy định về việc thành lập ban quản lý khu du lịch thì trách nhiệm
quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường du lịch đã có chủ thể và được quan
tâm hơn, việc chỉ đạo của cơ quan quản lý nhà nước và phối hợp với chủ thể
quản lý sẽ hiệu quả hơn. Đặc biệt, khi đã gắn trách nhiệm của Ban quản lý thì
đi đôi với trách nhiệm là việc phát sinh quyền lợi của chủ thể quản lý, đó