mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, sự phát triển của khoa học và kỹ thuật đang diễn ra nhanh
chóng, đời sống kinh tế của con ngời đã v đang đ ợc cải thiện đáng kể nhng
chúng ta đang phải đối mặt với những thách thức của sự phát triển. Đó là nguy
cơ suy giảm từng ngày, từng giờ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và sự suy
thoái các yêu tố căn bản của môi trờng sống.
Tài nguyên rừng - một trong những nguồn tài nguyên có khả năng tự tái
tạo và có tính quyết định trong việc duy trì cân bằng sinh thái toàn cầu, đang
đứng trớc nguy cơ bị suy thoái nghiêm trọng cả về lợng và chất. Mỗi năm có
khoảng 17 triệu ha rừng bị t n phá v biến mất trên bề mặt trái đất. Tại Đông
Nam á, độ che phủ của rừng chỉ còn dới 20% vào năm 1982 và con số này
đang giảm theo tỷ lệ 0,6% mỗi năm. Các nhà khoa học đã cảnh báo, mất rừng
không chỉ đơn thuần là sự suy giảm một nguồn tài nguyên mà nó còn gây ra
những hậu quả nghiêm trọng nh quá trình sa mạc hoá; các thiên tai nh lũ lụt, lở
đất, hạn hán; và các tác hại về môi trờng sinh thái nh phá hoại sinh cảnh, tuyệt
chủng các loài sinh vật, ô mhiễm nguồn nớc [30, tr. 437].
Việt Nam trong quá trình hội nhập và phát triển cũng đang đứng trớc
những nguy cơ khủng hoảng về môi trờng sinh thái và tài nguyên thiên nhiên.
Cho đến nay, bên cạnh việc đem lại lợi ích kinh tế, chúng ta không thể phủ
nhận đợc vai trò cực kỳ quan trọng của rừng nớc ta trong việc giữ đất, giữ nớc,
điều hoà không khí và bảo vệ môi trờng sinh thái. Trớc những biến đổi về môi
trờng trong thời gian qua, chúng ta càng hiểu đợc tầm quan trọng của rừng.
Quản lý rừng bền vững đã đợc nhận thức nh một chiến lợc vì mục tiêu tồn tại
lâu dài của con ngời và thiên nhiên.
Tuy nhiên xuất phát từ những khó khăn về đất đai, t liệu sản xuất, tập
quán canh tác và cả nhận thức, hàng năm, hàng nghìn ha rừng vẫn bị chặt phá,
các sản phẩm từ rừng vẫn bị khai thác một cách bất hợp pháp. Đáng nghiêm
trọng là những vụ phá rừng tập thể nhằm chuyển đổi mục đích kinh doanh vì
mục tiêu trớc mắt, rồi những vụ buôn bán các sản vật từ rừng diễn ra với quy
mô lớn, bất chấp pháp luật về quản lý và bảo vệ rừng. Do nhu cầu phát triển
đề lý luận, thực trạng của pháp luật, của QLNN bằng pháp luật trong một số
lĩnh vực của đời sống xã hội, trong thời kỳ đổi mới của Việt Nam hiện nay, nh:
Luận án tiến sĩ Vai trò của pháp luật trong việc đảm bảo công bằng xã hội ở
Việt Nam hiện nay của Vũ Anh Tuấn, năm 2001; Pháp luật của nhà nớc
trong cơ chế thị trờng ở Việt nam hiện nay của PGS.TS. Trần Ngọc Đờng
(1992); luận văn thạc sĩ luật học Vai trò của pháp luật tố tụng hành chính ở
Việt nam hiện nay của Quách Trung Thành, năm 2005; luận án tiến sĩ luật học
Tăng cờng QLNN bằng pháp luật đối với đất đai ở Việt Nam hiện nay của
Nguyễn Cảnh Quý, năm 2003.
Một số công trình nghiên cứu đã hệ thống hoá đợc cơ sở lý luận về pháp
luật, bản chất của pháp luật, hoàn thiện pháp luật, về vấn đề pháp chế trong điều
kiện xây dựng nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Đồng thời đề xuất đợc các quan điểm và giải pháp xây dựng, hoàn thiện hệ
thống pháp luật trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện nhà nớc pháp quyền xã
hội chủ nghĩa.
Dự án VIE/94/003 Tăng cờng năng lực pháp luật Việt Nam do Chơng
trình Phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP) tài trợ về kỹ thuật và tài chính, Bộ
T pháp là chủ dự án, thời gian thực hiện từ 1994 đến 1998. Dự án tập trung
nghiên cứu khung pháp luật kinh tế trong nền kinh tế thị trờng ở Việt nam hiện
hành, đề xuất kiến nghị và biện pháp bảo đảm khung pháp luật kinh tế tại Báo
cáo kiến nghị về xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật kinh tế Việt Nam.
Đề tài KX 03.13 về Luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện và xây dựng
hệ thống pháp luật và quản lý kinh tế bằng pháp luật do Viện nghiên cứu khoa
học pháp lý, Bộ T pháp chủ trì, năm 1994. Đề tài đi sâu nghiên cứu vấn đề cơ
bản để nhằm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế và quản lý kinh
tế bằng pháp luật, đề xuất quan điểm xây dựng pháp luật kinh tế của Việt nam.
Nhóm 2: Những nghiên cứu về pháp luật và QLNN bằng pháp luật trong
lĩnh vực bảo vệ rừng
Báo cáo t vấn Xem xét năng lực thừa hành pháp luật và xác định nhu
cầu đào tạo của chủ thể quản lý khu rừng đặc dụng của PGS.TS. Lê Hồng
Tuy nhiên, những công trình nói trên chỉ nghiên cứu ở các khía cạnh hay
chỉ đề cập tới những vấn đề có liên quan tới vai trò của pháp luật trong QLNN
đối với lĩnh vực bảo vệ rừng, mà cha có công trình nào nghiên cứu một cách đầy
đủ, có hệ thống cả mặt lý luận và thực tiễn vai trò của pháp luật trong QLNN
đối với lĩnh vực bảo vệ rừng ở nớc ta hiện nay. Có thể nói, đây là lần đầu tiên
vai trò của pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng đợc tiếp cận dới
góc độ lý luận nhà nớc và pháp quyền một cách toàn diện, có hệ thống cả phơng
diện lý luận và thực tiễn.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận
về vai trò của pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng, từ đó đề xuất
đợc một số phơng hóng và giải pháp cơ bản về vai trò của pháp luật trong
QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hoá đợc cơ sở lý luận về pháp luật trong QLNN đối với lĩnh
vực bảo vệ rừng.
- Đánh giá đợc tình hình thực thi pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực
bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất đợc một số phơng hớng và giải pháp có tính khả thi nhằm nâng
cao vai trò của pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng.
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Trong luận văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu lý luận và thực trạng
vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nớc đối với lĩnh vực bảo vệ rừng trên cơ
sở phân tích, đánh giá nội dung cơ bản của pháp luật trong QLNN đối với lĩnh
vực bảo vệ rừng ở Việt Nam (các quy định về cơ cấu tổ chức của các cơ quan
QLBVR; hoạt động của các cơ quan trong QLBVR; các quy định về xã hội hoá
công tác bảo vệ rừng; các quy định về thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp
luật bảo vệ rừng). Trên cơ sở phân tích thực trạng vai trò của pháp luật trong
QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng, từ đó rút ra những kết luận làm cơ sở cho
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao
gồm 3 chơng, 10 tiết.
Chơng 1
Cơ sở lý luận về vai trò của pháp luật
trong quản lý nhà nớc đối với lĩnh vực bảo vệ rừng
1.1. Khái niệm, đặc điểm, nội dung của pháp luật trong
quản lý nhà nớc đối với lĩnh vực bảo vệ rừng
1.1.1. Rừng và quản lý nhà nớc trong lĩnh vực bảo vệ rừng
1.1.1.1. Rừng và các khái niệm liên quan đến rừng
Theo quy định khoản 1 Điều 3 Luật BV&PTR năm 1991 (sửa đổi bổ
sung năm 2004) đợc định nghĩa nh sau:
Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng,
vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trờng khác, trong đó cây gỗ, tre nứa
hoặc hệ thực vật đặc trng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1
trở lên. Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng
phòng hộ, đất rừng đặc dụng [11, tr. 63].
Nh vậy, theo khái niệm trên, rừng bao gồm các yếu tố: Thực vật rừng tự
nhiên hoặc do con ngời trồng mới hoặc khoanh nuôi tái sinh trên đất trồng rừng,
trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc thực vật đặc trng là những thực vật chính chiếm u
thế; động vật rừng sống hoang dã trong rừng; vi sinh vật rừng; quần xã thực vật
rừng phải có một diện tích đủ lớn để tạo ra hoàn cảnh rừng đặc trng và những
yếu tố tự nhiên, môi trờng do rừng tạo ra khác với hoàn cảnh bên ngoài, độ khép
tán của quần xã thực vật phải lớn hơn 0,1.
Đất lâm nghiệp bao gồm: đất có rừng tự nhiên, đất có rừng trồng và đất
cha có rừng đợc quy hoạch để gây trồng rừng; trong phạm vi QLNN về đất lâm
nghiệp, thì đất lâm nghiệp chỉ giới hạn ở lớp đất mặt với độ sâu nhất định phù
hợp với canh tác lâm nghiệp, không bao gồm những tài nguyên, khoáng sản và
những vật thể nằm sâu trong lòng đất.
Đến nay, cha có một khái niệm đầy đủ nào về bảo vệ rừng, theo quan
điểm của chúng tôi bảo vệ rừng là tổng thể các hoạt động nhằm bảo toàn,
đạt đợc một hoặc nhiều mục tiêu đợc xác định rõ ràng của công tác
quản lý trong vấn đề sản xuất liên tục các lâm phẩm và dịch vụ rừng
mà không làm giảm đi đáng kể những giá vốn có và khả năng sản
xuất sau này của rừng và không gây ra những ảnh hởng tiêu cực thái
quá đến môi trờng vật chất xã hội [40, tr. 7].
Theo định nghĩa này thì quản lý rừng bền vững bao gồm việc bảo vệ, phát
triển, khai thác và sử dụng sản phẩm của rừng một cách hợp lý, khai thác sử
dụng để đáp ứng các nhu cầu hiện tại nhng không làm cạn kiệt nguồn tài
nguyên cho tơng lai. Bảo vệ rừng là để cho rừng tiếp tục phát triển, ngợc lại
phát triển rừng cũng là cách để bảo vệ tài nguyên rừng. Do vậy, chúng có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau không tách rời, quản lý rừng bền vững là một mục
tiêu nằm trong chiến lợc "phát triển bền vững" toàn cầu. Nhng trong khuôn khổ
của luận văn thạc sĩ tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu khía cạnh bảo vệ rừng và vai
trò của pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng.
1.1.1.2. Quản lý nhà nớc trong lĩnh vực bảo vệ rừng
Trớc khi nghiên cứu pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng,
đòi hỏi phải làm rõ khái niệm "quản lý" và "QLNN". Quản lý là một hiện tợng
xã hội, xuất hiện từ lâu trong lịch sử loài ngời, đợc các nhà t tởng, các nhà triết
học và các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau tìm hiểu, nghiên cứu.
Có ngời cho quản lý là các hoạt động thực hiện nhằm bảo đảm sự hoàn thành
công việc qua nỗ lực của ngời khác. Có tác giả cho quản lý là công tác phối hợp
có hiệu quả hoạt động của các cộng sự khác cùng chung một tổ chức. Cũng có
tác giả lại cho rằng quản lý là hoạt động thiết yếu bảo đảm phối hợp những nỗ
lực cá nhân nhằm đạt đợc các mục đích của nhóm [29, tr. 99].
Tác giả thống nhất với quan điểm đã đợc nhiều ngời công nhận do các
nhà khoa học về điều khiển học đa ra: Quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ
thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc t-
ơng ứng để cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của ngời quản
lý nhằm đạt đợc những mục đích đã định trớc [32, tr. 19].
Đây có thể coi là một khái niệm chung về quản lý, vì khái niệm này thích
trong hoạt động QLNN nhằm đạt đợc yêu cầu, mục đích bảo vệ rừng nhà nớc đã
đặt ra.
QLNN trong lĩnh vực bảo vệ rừng có những đặc điểm sau:
Một là, rừng - đối tợng quản lý nhà nớc đặc thù.
Rừng là nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo và có tính quyết định trong
việc bảo vệ môi trờng sinh thái toàn cầu. Rừng bao gồm các yếu tố thực vật,
động vật, vi sinh vật, đất rừng, các yếu tố này có quan hệ liên kết cùng tạo nên
hoàn cảnh rừng đặc trng.
Rừng Việt Nam gắn bó chặt chẽ với đời sống của hàng triệu ngời dân
sống trong rừng và gần rừng. Diện tích rừng Quốc gia đợc chia thành 3 loại theo
chức năng và công dụng của các yếu tố để quản lý gồm: Rừng phòng hộ, rừng
đặc dụng và rừng sản xuất. Vì vậy, quản lý nhà nớc trong lĩnh vực bảo vệ rừng
phải áp dụng những cơ chế, chính sách, các quy định pháp luật khác nhau phù
hợp với mục đích chủ yếu đối với từng loại rừng. Quản lý nhà nớc trong lĩnh
vực bảo vệ rừng phải tiến hành đồng bộ các công cụ quản lý, phát huy sức mạnh
của cộng đồng để đạt đợc mục tiêu và chơng trình hành động bảo vệ rừng [60,
tr.19].
Hai là, đặc trng về chủ thể chịu sự quản lý.
Chủ thể chịu sự quản lý nhà nớc trong lĩnh vực bảo vệ rừng là các tổ
chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động bảo vệ rừng. Các chủ thể chịu sự quản
lý rất đa dạng, thuộc nhiều thành phần kinh tế và mỗi loại hình chủ thể có địa vị
pháp lý khác nhau. Trong đó, các chủ rừng là chủ thể chịu sự quản lý chủ yếu
bao gồm: các cộng đồng dân c, hộ gia đình, các nhân, các lâm trờng, công ty
lâm nghiệp, Ban quản lý các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ trong nớc, các
tổ chức, cá nhân nớc ngoài đợc nhà nớc giao, cho thuê rừng là chủ thể chịu sự
quản lý của nhà nớc trực tiếp và chủ yếu nhất.
Mỗi loại chủ thể nói trên có những đặc trng riêng nên quản lý nhà nớc
trong lĩnh vực bảo vệ rừng: Một mặt Nhà nớc phải chú trọng nghiên cứu, áp
dụng các biện pháp quản lý phù hợp với những đối tợng chủ thể cụ thể. Trong
quá trình tổ chức, xây dựng và thực hiện và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh
- Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và
kiểm soát buôn bán quốc tế các loài động thực vật rừng;
- Bảo đảm các điều kiện vật chất và các cân đối khác cho hoạt động quản
lý nhà nớc trong lĩnh vực bảo vệ rừng.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm, nội dung của pháp luật trong quản lý
nhà nớc đối với lĩnh vực bảo vệ rừng
1.1.2.1. Khái niệm
Theo học thuyết Mác - Lênin về nhà nớc và pháp luật, pháp luật là một
hiện tợng lịch sử vừa mang tính giai cấp, vừa mang tính xã hội, chỉ phát sinh,
tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp, do nhà nớc ban hành và bảo đảm
thực hiện, là công cụ để thực hiện quyền lực nhà nớc, nhằm duy trì địa vị và bảo
vệ lợi ích giai cấp thống trị.
Cũng giống nh bất kỳ một kiểu pháp luật nào trong lịch sử, pháp luật
XHCN cũng có chức năng tổ chức, điều chỉnh nhằm thiết lập, duy trì trật tự xã
hội và chức năng bảo vệ các quan hệ xã hội, giải quyết các tranh chấp và xung
đột xã hội, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật.
Pháp luật bảo vệ rừng là một bộ phận của hệ thống pháp luật, nó bao gồm
toàn bộ những hoạt động của cơ quan QLBVR, ngời đại diện cho cơ quan
QLBVR, những đối tợng tham gia vào quan hệ bảo vệ rừng: Bộ NN&PTNT, Sở
NN&PTNT, Cục Kiểm lâm, Hạt Kiểm lâm, Hạt Phúc kiểm lâm sản, những ngời
tham gia QLBVR. Giữa các đối tợng này có rất nhiều mối quan hệ, nh quan hệ
giữa cơ quan QLBVR cấp trên và cấp dới, giữa cán bộ kiểm lâm với ngời tham
gia bảo vệ rừng, giữa ngời đại diện của cơ quan QLBVR với những ngời có
hành vi vi phạm pháp luật. Theo Điều 2 của Nghị định số 23/2006/NĐ - CP quy
định nh sau:
Nghị định này áp dụng đối với cơ quan nhà nớc, tổ chức; cộng đồng dân
c thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, hoặc đơn vị tơng đơng (sau đây gọi tắt là
cộng đồng dân c thôn) hộ gia đình, cá nhân trong nớc, ngời Việt Nam định c ở
nớc ngoài, tổ chức, cá nhân nớc ngoài có liên quan đến việc bảo vệ rừng tại Việt
Nam [19, tr. 1].
nên các quy phạm pháp luật này ban hành để điều chỉnh những quan hệ xã hội
phát sinh trong quản lý nhà nớc về lĩnh vực bảo vệ rừng. Các quy phạm pháp
luật này do các cơ quan nhà nớc có thẩm quyền ban hành nh Quốc hội, Uỷ ban
thờng vụ quốc hội: Luật bảo vệ và phát triển rừng, Luật Đất đai, Luật Bảo vệ
môi trờng, Luật hình sự do Quốc hội ban hành; Nhng các văn bản quy phạm
pháp luật về lĩnh vực bảo vệ rừng khác chủ yếu do các cơ quan quản lý nhà nớc
ban hành nh Chính phủ, UBND các cấp, Bộ NN$PTNT để điều chỉnh các quan
hệ xã hội liên quan đến lĩnh vực này.
Thứ hai, pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng điều chỉnh
các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực bảo vệ rừng.
- Chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính là các cơ quan, tổ chức, cá
nhân có năng lực chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính, mang
quyền và nghĩa vụ nhất định với một bên có nhiệm vụ phục tùng theo quy định
của pháp luật hành chính.
Từ khái niệm đó, chúng ta có thể hiểu chủ thể của quan hệ pháp luật
trong lĩnh vực bảo vệ rừng là các cơ quan, tổ chức, cá nhân đợc Nhà nớc giao
quyền nhân danh nhà nớc tham gia vào quan hệ QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ
rừng với các tổ chức, cá nhân tham gia quan hệ bảo vệ rừng và những đối tợng
vi phạm pháp luật QLBVR. Chủ thể quan hệ pháp luật trong QLNN đối với lĩnh
vực bảo vệ rừng cụ thể là: Một bên là các cơ quan quản lý hành chính nhà nớc
thẩm quyền chung các cấp và các cơ quan QLNN có thẩm quyền chung môn
các cấp; cá nhân đợc Nhà nớc trao quyền quản lý về bảo vệ rừng theo quy định
của pháp luật, một bên là những đối tợng tham gia bảo vệ rừng hoặc những ngời
có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng. Theo quy định hiện hành của pháp
luật nớc ta hiện nay, các chủ thể này là: Chính phủ, UBND các cấp, Bộ
NN&PTNT, các bộ ngành có liên quan; hệ thống cơ quan quản lý chuyên ngành
tại địa phơng, hệ thống cơ quan kiểm lâm; công chức của cơ quan này đợc giao
nhiệm vụ thi hành công vụ trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng và các tổ
chức, cá nhân, hộ gia đình, buôn làng, bản, ấp tham gia bảo vệ rừng và những
ngời có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng.
đợc. Đó là các hệ sinh thái tối u và các nguồn gen mà thiên nhiên đã hoàn thành
qua hàng chục triệu năm phát triển và tiến hóa.
Với vai trò và tác dụng to lớn của rừng đối với môi trờng sống nói chung
và sự tồn vong của loài ngời nói riêng cho thấy việc bảo vệ rừng cần thiết hơn
bao giờ hết. Đòi hỏi Nhà nớc phải sử dụng đồng bộ các công cụ kế hoạch, chính
sách, pháp luật và các công cụ quản lý khác. Trong hệ thống các công cụ và
biện pháp nhà nớc sử dụng để quản lý hành chính nhà nớc trong lĩnh vực bảo vệ
rừng thì pháp luật là công cụ hữu hiệu nhất và không thể thiếu đợc ở bất kỳ
quốc gia nào.
1.1.2.3. Nội dung
Pháp luật bảo vệ rừng điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực
bảo vệ rừng, nhằm tạo ra cơ chế pháp lý để mở rộng dân chủ, bảo đảm cho cá
nhân, tổ chức, cơ quan nhà nớc cùng tham gia vào công tác bảo vệ rừng; đồng thời
bảo vệ đợc quyền và lợi ích hợp pháp của họ đối với tài nguyên rừng. Chính vì mục
đích đó pháp luật bảo vệ rừng có những nội dung cơ bản sau:
Một là, pháp luật bảo vệ rừng quy định một hệ thống chính sách trong
quản lý đối với lĩnh vực bảo vệ rừng, biểu hiện cụ thể nh sau:
- Nhà nớc có chính sách đầu t cho việc bảo vệ rừng gắn liền, đồng bộ với
các chính sách kinh tế - xã hội khác, u tiên đầu t xây dựng cơ bản cơ sở hạ tầng,
phát triển nguồn nhân lực, định canh, định c ổ định và cải thiện đời sống nhân
dân miền núi.
- Nhà nớc đầu t cho các hoạt động bảo vệ rừng đặc dụng, rừng phòng hộ,
rừng giống Quốc gia; bảo vệ các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp,
quý hiếm; nghiên cứu, ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công
nghệ và nguồn đào tạo nhân lực cho việc bảo vệ rừng; xây dựng hệ thống quản
lý rừng hiện đại, thống kê rừng, kiểm kê rừng và theo dõi diễn biến tài nguyên
rừng; xây dựng lực lợng phòng cháy rừng chuyên ngành; đầu t cơ sở vật chất,
kỹ thuật và trang thiết bị phơng tiện phục vụ chũa cháy rừng, phòng trừ sinh vật
gây hại rừng.
- Nhà nớc có chính sách hỗ trợ việc bảo vệ rừng sản xuất là rừng tự nhiên
khi nhà nớc có quyết định thu hồi rừng.
- Đợc hớng dẫn về kỹ thuật, hỗ trợ về vốn theo chính sách của nhà nớc
để bảo vệ rừng và đợc hởng lợi ích do các công trình công cộng bảo vệ, cải tạo
rừng mang lại.
- Đợc Nhà nớc bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp đối vói rừng đợc giao,
cho thuê.
Nghĩa vụ chung của chủ rừng:
- Bảo toàn vốn rừng và phát triển rừng bền vững; sử dụng rừng đúng mục
đích, đúng ranh giới đã quy định trong quyết định giao, cho thuê rừng và theo
quy chế quản lý rừng.
- Tổ chức bảo vệ rừng theo quy hoạch, kế hoạch, dự án, phơng án đã đợc
phê duyệt.
- Định kỳ báo cáo cơ quan nhà nớc có thẩm quyền về diễn biến tài
nguyên rừng và các hoạt động liên quan đến khu rừng cảu các cơ quan có trách
nhiệm thống kê, kiểm kê theo dõi diễn biến tài nguyên rừng.
- Giao lại rừng khi nhà nớc có quyết định thu hồi rừng hoặc khi hết thời
hạn sử dụng rừng.
- Thực hiện nghĩa vụ tài chính và các nghĩa vụ khác theo quy định của
pháp luật.
- Thực hiện quy định của Luật BV&PTR và các quy định khác của pháp luật;
không làm tổn hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân có liên quan.
Bốn là, pháp luật bảo vệ rừng quy định về thanh tra, kiểm tra và xử lý vi
phạm pháp luật về bảo vệ rừng (đợc trình bày ở mục 1.2 ở chơng 1 và mục 2.4 ở
chơng 2).
1.2. Vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nớc đối với
lĩnh vực bảo vệ rừng
Thực tiễn sản xuất và đời sống đòi hỏi phải có các chuẩn mực trong mọi
hành vi ứng xử, giao tiếp cho mọi thành viên trong xã hội tuân theo. Những văn
bản quy định những quy tắc xử sự chung đó đợc gọi là văn bản pháp luật, đợc
nhà nớc tạo mọi điều kiện bảo đảm việc thực hiện. Các văn bản quy phạm pháp
QLNN có thẩm quyền chuyên môn.
Hệ thống cơ quan QLNN có thẩm quyền chung trong lĩnh vực bảo vệ
rừng bao gồm Chính phủ và UBND các cấp. Chính phủ là cơ quan đứng đầu của
hệ thống cơ quan hành pháp, thống nhất quản lý thực hiện nhiệm vụ chính trị,
kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của nhà nớc. Chính
phủ có toàn quyền giải quyết, quyết định những vấn đề liên quan tới hoạt động
QLNN trên phạm vi toàn quốc trong quyền hạn của mình, trong đó có lĩnh vực
bảo vệ rừng; UBND là cơ quan có thẩm quyền chung, thông qua hoạt động chấp
hành - điều hành của mình thực hiện chức năng QLNN trên lĩnh vực kinh tế,
văn hoá, xã hội, hành chính - chính trị trong phạm vi địa phơng, là cơ quan giúp
việc chính phủ trong việc QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng.
Hệ thống cơ quan quản lý chuyên ngành trong lĩnh vực bảo vệ rừng bao
gồm: Bộ NN&PTNT, sở NN&PTNT, cục kiểm lâm.
Bộ NN&PTNT là cơ quan chỉ đạo chuyên ngành trong lĩnh vực bảo vệ
rừng, là cơ quan chịu trách nhiệm trớc chính phủ trong hoạt động QLBVR,
đứng đầu là Bộ trởng Bộ NN&PTNT. ở địa phơng có các Sở NN&PTNT, có các
giám đốc và phó giám đốc sở là ngời giúp việc cho Bộ trởng Bộ NN&PTNT
trong lĩnh vực bảo vệ rừng; bên cạnh đó có một hệ thống chuyên trách phụ trách
việc QLBVR, đó là lực lợng kiểm lâm, đợc coi là lực lợng nòng cốt giúp Bộ tr-
ởng Bộ NN&PTNT quản lý và bảo vệ rừng, cơ cấu tổ chức đợc thể hiện nh sau:
ở Trung ơng: Cục Kiểm lâm trực thuộc Bộ NN&PTNT.
ở cấp tỉnh nơi có rừng: Chi cục Kiểm lâm trực thuộc UBND tỉnh.
ở cấp huyện: Hạt Kiểm lâm trực thuộc Chi cục Kiểm lâm.
ở các đầu mối giao thông quan trọng: Hạt Phúc Kiểm lâm sản trực thuộc
Chi cục Kiểm lâm.
Nh vậy, pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng có một vai
trò quan trọng trong việc quy định cơ cấu tổ chức của ngành Kiểm lâm, lực lợng
này đợc tổ chức thành hệ thống, đặt dới sự lãnh đạo toàn diện của Bộ trởng Bộ
NN&PTNT và sự chỉ đạo, kiểm tra của UBND các cấp. Cơ quan Kiểm lâm là
một hình thức cơ quan nhà nớc đặc thù, vừa có tính chất của cơ quan hành chính
Hai là, pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng là cơ sở pháp
lý quy định hoạt động của cơ quan QLNN trong lĩnh vực bảo vệ rừng.
Cơ quan hành chính nhà nớc là một bộ phận của bộ máy nhà nớc do Nhà
nớc thành lập để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nớc thông qua
hoạt động chấp hành, điều hành. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan
hành chính nhà nớc do Hiến pháp, luật, pháp lệnh và nhiều văn bản dới luật quy
định. Mặt khác, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan hành chính nhà n-
ớc do vị trí, tính chất của nó trong hệ thống các cơ quan quyết định. Quyền hạn
của các cơ quan hành chính nhà nớc là phơng tiện pháp lý cần thiết mà nhà nớc
quy định để thực hiện chức năng, nhiệm vụ đợc giao.
Tóm lại, cơ quan hành chính nhà nớc là bộ phận cấu thành của bộ máy
nhà nớc, trực thuộc cơ quan quyền lực nhà nớc một cách trực tiếp hay gián tiếp,
trong phạm vi thẩm quyền của mình thực hiện hoạt động chấp hành - điều hành
và tham gia vào các chức năng quản lý nhân danh quyền lực nhà nớc [32,
tr.179].
Cơ quan hành chính nhà nớc có hệ thống thống nhất từ Trung ơng đến
địa phơng.
Theo sự phân tích và trên cơ sở pháp luật quy định, tác giả trình bày khái
quát về hệ thống hoạt động của cơ quan QLNN (cơ quan hành chính) trong lĩnh
vực bảo vệ rừng theo cấp độ quản lý từ Trung ơng đến địa phơng ở Việt Nam
hiện nay.
Cơ quan QLNN có thẩm quyền chung bao gồm Chính phủ và UBND các
cấp.
Theo Điều 109 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001) quy định: "Chính
phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nớc cao nhất
của nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" [32, tr.182].