Đề tài: VAI TRÒ CỦA THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH ĐẾN ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 12

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN NGÂN HÀNG TÀI CHÍNH
Chủ đề:
VAI TRÒ CỦA THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH ĐẾN ỔN ĐỊNH
KINH TẾ VĨ MÔ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
Nhóm thực hiện: Nhóm 5
Vũ Thị Hiền
Hà Thị Thoa
Trần Thị Thùy Hương
Tạ Thị Hải
Cao Thị Bảo Ngọc
Lý thuyết tài chính tiền tệ Page 1
Lý thuyết tài chính tiền tệ Page 2
Mục lục
A. Cơ sở lý thuyết chung về thị trường tài chính và vai trò cơ bản của thị
trường tài chính.
1. Khái niệm.
2. Cơ sở khách quan cho sự ra đời của thị trường tài chính.
3. Điều kiện cần thiết hình thành thị trường tài chính.
4. Công cụ của thị trường tài chính.
5. Cấu trúc thị trường tài chính.
6. Chức năng, vai trò của thị trường tài chính.
B. Thị trường tiền tệ.
I. Khái quát chung.
1. Khái niệm.
2. Phân loại.
3. Các chủ thể tham gia thị trường tiền tệ
4. Các nghiệp vụ trên thị trường tiền tệ.
II. Vai trò của thị trường tiền tệ với ổn định kinh vĩ mô hiện nay.
1. Thị trường liên ngân hàng.
2. Thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc.

những loại giấy tờ có giá trị, gọi chung là các loại chứng khoán. Và từ đó xuất
hiện nhu cầu mua bán, chuyển nhượng giữa các chủ sở hữu khác nhau các loại
chứng khoán. Điều này làm xuất hiện một loại thị trường để cân đối cung cầu
về vốn trong nền kinh tế là thị trường tài chính.
Do đó, cơ sở khách quan cho sự ra đời của thị trường tài chính là sự giải
quyết mẫu thuẫn giữa cung và cầu về vốn trong nền kinh tế thông qua các công
cụ tài cuhính đặc biệt là các loại chứng khoán, làm nảy sinh nhu cầu mua bán,
chuyển nhượng chứng khoán giữa các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế.
Chính sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và tiền tệ mà đỉnh cao của nó là
kinh tế thị trường làm nảy sinh một loại thị trường mới là thị trường tài chính.
Thị trường tài chính hình thành và phát triển gắn liền với sự phát triển của
nền kinh tế thị trường. Sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã làm xuất hiện
những chủ thể cần nguồn tài chính và những người có khả năng cung ứng
Lý thuyết tài chính tiền tệ Page 4
nguồn tài chính. Khi nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì các hoạt
động về phát hành và mua bán lại các chứng khoán cũng phát triển, hình thành
một thị trường riêng nhằm làm cho cung cầu nguồn tài chính gặp nhau dễ dàng
và thuận lợi hơn, đó là thị trường tài chính.
3. Điều kiện cần thiết hình thành thị trường tài chính.
- Nền kinh tế hàng hóa phát triển, tiền tệ ổn định, với mức độ lạm phát có thể
kiểm soát được.
- Các công cụ của thị trường tài chính phải đa dạng tạo ra các phương tiện
chuyển giao quyền sử dụng các nguồn tài chính.
- Hình thành và phát triển hệ thống các trung gian tài chính.
- Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức quản lý nhà nước để
giám sát sự hoạt động của thị trường tài chính.
- Phải tạo cơ sở vật chất kỹ thuật và hệ thống thông tin kinh tế phục vụ cho
hoạt động của thị trường tài chính.
- Cần có đội ngũ các nhà kinh doanh, các nhà quản lý am hiểu thị trường tài
chính và phải có đông đảo các nhà đầu tư có kiến thức, dám mạo hiểm trước

• Chứng khoán khởi thủy;
• Chứng khoán thứ cấp.
5. Cấu trúc thị trường tài chính.
 Căn cứ vào thời gian sử dụng nguồn tài chính huy động được người ta chia
thị trường tài chính thành:
- Thị trường tiền tệ: Là một thị trường tài chính chỉ có các công cụ ngắn
hạn (kỳ hạn thanh toán dưới 1 năm);
- Thị trường vốn: Là thị trường diễn ra việc mua bán các công cụ nợ dài
hạn như cổ phiếu, trái phiếu. Thị trường vốn được phân thành ba bộ phận
là thị trường cổ phiếu, các khoản cho vay thế chấp và trái phiếu.
 Căn cứ theo phương thức huy động nguồn tài chính:
- Thị trường nợ: Phương pháp chung nhất mà các công ty sử dụng để vay
vốn trên thị trường tài chính là đưa ra một công cụ vay nợ, ví dụ như trái
khoán hay một món vay thế chấp. Công cụ vay nợ là sự thoả thuận có
tính chất hợp đồng có lãi suất cố định và hoàn trả tiền vốn vào cuối kì
hạn. Kì hạn dưới 1 năm là ngắn hạn, trên 1 năm là trung và dài hạn. Thị
trường nợ là thị trường diễn ra việc mua bán các công cụ nợ kể trên;
- Thị trường vốn cổ phần: Phương pháp thứ hai để thu hút vốn là các
công ty phát hành cổ phiếu. Người nắm giữ cổ phiếu sở hữu một phần tài
sản của công ty có quyền được chia lợi nhuận ròng từ công ty sau khi trừ
chi phí, thuế và thanh toán cho chủ nợ (những người sở hữu công cụ nợ).
 Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn tài chính
- Thị trường sơ cấp: Là thị trường tài chính trong đó diễn ra việc mua bán
chứng khoán đang phát hành hay chứng khoán mới. Việc mua bán chứng
khoán trên thị trường cấp một thường được tiến hành thông qua trung
gian là các ngân hàng;
- Thị trường thứ cấp: Là thị trường mua bán lại những chứng khoán đã
phát hành. Khi diễn ra hoạt động mua bán chứng khoán trên thị trường
này thì người vừa bán chứng khoán nhận được tiền bán chứng khoán còn
Lý thuyết tài chính tiền tệ Page 6

ngoài vào các ngành sản xuất kinh doanh trong nước.
- Thị trường tài chính cho phép sử dụng các chứng từ có giá, bán cổ phiếu, trái
phiếu, đổi tiền.
- Chức năng cung cấp khả năng thanh khoản cho các chứng khoán;
- Chức năng cung cấp thông tin kinh tế và đánh giá giá trị của doanh nghiệp.
6.2, Vai trò của thị trường tài chính.
Lý thuyết tài chính tiền tệ Page 7
- Thị trường tài chính thu hút, huy động các nguồn tài chính trong và ngoài
nước, khuyến khích tiết kiệm và đầu tư;
- Thị trường tài chính góp phần thúc đẩy, nâng cao hiệu quả sử dụng tài chính;
- Thị trường tài chính thực hiện chính sách tài chính, chính sách tiền tệ của
nhà nước.
Trong bài thảo luận ngày hôm nay nhóm tiếp cận thị trường tài chính căn cứ
vào thời gian sử dụng nguồn tài chính huy động được. Vì vậy thị trường tài
chính được tiếp cận bởi hai thị trường là thị trường tiền tệ và thị trường vốn.
B. Thị trường tiền tệ:
I. Khái quát chung.
1. Khái niệm.
- Thị trường tiền tệ là thị trường vốn ngắn hạn, nơi diễn ra các hoạt động của
cung và cầu về vốn ngắn hạn. Vốn ngắn hạn bao gồm cả trái phiếu ngắn hạn,
có kỳ hạn tức là mua bán những món nợ ngắn hạn rủi ro thấp, tính thanh
khoản cao. Thị trường tiền tệ diễn ra chủ yếu thông qua hoạt động của hệ
thống ngân hàng, vì các ngân hàng là chủ thể quan trọng nhất trong việc
cung cấp và sử dụng vốn ngắn hạn.
- Thị trường tiền tệ là thị trường phi tập trung tại các phòng kinh doanh của
các ngân hàng và các công cụ kinh doanh đầu tư chuyên nghiệp thông qua
mạng lưới điện thoại, internet rộng lớn. Các nghiệp vụ trên thị trường tiền tệ
là nghiệp vụ chuyển giao vốn có khả năng thanh toán cao, ít xảy ra rủi ro đối
với người đầu tư.
- Thị trường tiền tệ là nơi mua bán các loại chứng từ có giá ngắn hạn, nơi đáp

NHTW và NHTM qua con đường tái Chiết khấu, trong đó lãi suất tái chiết
khấu là một công cụ linh hoạt để NHTW điều tiết vĩ mô nền kinh tế trong
quá trình thực hiện chính sách tiền tệ.
Ngày nay quy mô hoạt động của thị trường tiền tệ được mở rộng về phạm vi
điều tiết vốn, theo đó các chủ thể tham gia trên thị trường đa dạng hơn.
Các chủ thể tham gia trên thị trường bao gồm:
- Chủ thể cung ứng nguồn vốn như: NHTW, NHTM, các TCTD…
- Chủ thể có nhu cầu về vốn như: NHTM và các chủ thể kinh tế khác.
- Chủ thể trung gian môi giới vừa đi vay, vừa cho vay như: NHTM, công
ty chuyên môi giới.
4. Các nghiệp vụ trên thị trường tiền tệ.
4.1, Nghiệp vụ vay và cho vay vốn ngắn hạn:
- Cho vay bằng tiền mặt.
- Cho vay dưới hình thức cầm cố hoặc chiết khấu các chứng từ có giá.
4.2, Nghiệp vụ mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn:
Công cụ chủ yếu của nghiệp vụ này là các loại trái phiếu ngắn hạn được phát
hành từ thị trường tiền tệ sơ cấp và bán lại ở thị trường thứ cấp.
II. Vai trò của thị trường tiền tệ với ổn định kinh vĩ mô hiện nay.
Lý thuyết tài chính tiền tệ Page 9
Do sự bất ổn định trên thị trường tiền tệ thế giới vào cuối năm 2007 và đầu năm
2008. Mà cụ thể nhất là cuộc khủng hoảng tín dụng thứ cấp ở Mỹ do giá nhà đất
sụt giảm làm cho đồng USD. Trong thế giới ngày nay sự đan xen và phụ thuộc
lẫn nhau giữa các quốc gia là không tránh khỏi đã gây nên những xáo trộn trên
thị trường hối đoái của các nước trong đó có Việt Nam.
Biểu đồ 1: Tăng trưởng kinh tế thế giới, Mỹ, khu vực đồng Euro, Nhật
Bản, các nước châu Á đang phát triển và Việt Nam.
Lý thuyết tài chính tiền tệ Page 10
Nguồn: World Economic Outlook, IMF,
Do sự yếu kếm xuất phát từ nội tại của nền kinh tế trong điều hành chính sách
vĩ mô nền kinh tế thông qua chính sách tiền tệ mà cụ thể là việc điều hành chính

Lý thuyết tài chính tiền tệ Page 11
khác vay lại với lãi suất cao hơn, thậm chí đây còn là nguồn vốn để các NH sử
dụng vào các mục đích trung và dài hạn (cho vay, đầu tư) (SGĐT, 25-6).
Tình hình vay vốn liên NH được thể hiện thông qua khoản mục cho vay
các TCTD và nhận tiền gửi từ các TCTD khác. Thống kê trong H1-2012 của
một số NH như sau (đơn vị: tỷ đồng):
Gửi và cho vay từ các
TCTD khác
Gửi và cho vay tại các TCTD
khác
Q4.2011 H1.2012 Q4.2011 H1.2012
Vietinbank
74.408 43.844 65.452 20.950
BIDV
35.705 33.374 57.580 38.648
Vietcombank
47.962 47.361 105.005 106.138
ACB
34.714 19.921 81.274 56.002
Eximbank
71.859 67.723 64.529 61.248
Techcombank
48.133 39.998 43.191 38.513
Sacombank
12.824 8.338 9.621 13.558
MB
26.672 25.355 41.667 38.687
Nguồn: TTVN, 7-9.
Trong số này, số dư lớn nhất thuộc về Vietcombank, ACB và Eximbank.
Việc cho vay lẫn nhau không vì mục đích đáp ứng thanh khoản tạm thời và dự

thời thâm hụt Ngân sách Nhà nước, đồng thời NHNN chủ động trong việc nắm
giữ thông tin về lượng giấy tờ có giá được phát hành để đưa ra các giải pháp
điều hành chính sách tiền tệ phù hợp, đồng thời đã hỗ trợ tích cực cho việc thực
hiện các nghiệp vụ thị trường tiền tệ tại NHNN qua vai trò điều tiết của mình;
Đồng thời, tạo một kênh đầu tư vốn hiệu quả với độ an toàn, tính thanh khoản
cao và chủ động trong việc đảm bảo khả năng thanh toán cho các tổ chức tín
dụng (TCTD) thông qua các nghiệp vụ với NHNN.
Trong 5 năm qua, từ 2001 đến 2005, nghiệp vụ phát hành TPKB qua Ngân
hàng Nhà nước không ngừng phát triển và đạt được kết quả rất khả quan với
Lý thuyết tài chính tiền tệ Page 13
khối lượng phát hành không ngừng tăng (năm 2002 tăng 215%; năm 2003 tăng
189% … và trong năm 2005 tăng 14% so với năm 2004). Tính từ năm 2001 đến
hết năm 2005, tổng số tiền đã huy động qua NHNN là 85.269,4 tỷ đồng và
14.500.000 USD.
Một trong những nguyên nhân khối lượng phát hành TPKB trong những
năm gần đây tăng cao là do nhu cầu chi tiêu của Ngân sách Nhà nước cao hơn
để đáp ứng nguồn vốn cho các công trình trọng điểm của Nhà nước, đồng thời
Kho bạc Nhà nước cũng phải huy động thêm để hỗ trợ nguồn cho Quỹ Hỗ trợ
phát triển. Mặt khác, việc đầu tư vào TPKB là hình thức đầu tư có lãi và an
toàn. Hơn nữa, do NHNN đã và đang thực hiện nhiều nghiệp vụ thị trường tiền
tệ có sử dụng các giấy tờ có giá như nghiệp vụ thị trường mở, Tái cấp vốn,
Chiết khấu GTCG, thấu chi và cho vay qua đêm
Lý thuyết tài chính tiền tệ Page 14
Ngân hàng và các tổ chức tín dụng là khu vực cung cấp phần lớn các nguồn
vốn cho đầu tư của nền kinh tế và cũng là nguồn cầu chủ yếu đối với trái phiếu.
Mục tiêu chủ yếu mua trái phiếu, đặc biệt với trái phiếu chính phủ, của các ngân
hàng thương mại là để đảm bảo khả năng thanh khoản và làm công cụ trong
giao dịch với Ngân hàng Nhà nước Bên cạnh đó, các công ty chứng khoán
cũng tham gia với mục đích đầu tư tài chính. Tính tới thời điểm hiện tại, đã có
24 ngân hàng thương mại và 29 công ty chứng khoán là thành viên của thị

gián tiếp.
- Công tác điều hành thị trường của Ban đấu thầu đã có những bước tiến quan
trọng trong việc đổi mới phương thức hoạt động đặc biệt chủ động tìm hiểu
nguyên nhân và đánh giá thực trạng của các TCTD trong việc tham gia
nghiệp vụ đấu thầu TPKB. Thông qua Hội nghị khách hàng hàng năm, ban
đấu thầu Liên Bộ đã có tổng kết đánh giá về hoạt động thị trường, tìm biện
pháp khắc phục những khó khăn, tồn tại giúp thị trường hoạt động ổn định
và hiệu quả.
- Việc hình thành và đưa vào hoạt động nghiệp vụ đấu thầu TPKB trong thời
gian qua đã giúp cho các nhà phát hành, tổ chức đấu thầu cũng như các tổ
chức bảo lãnh, đại lý phát hành có được những kinh nghiệm thiết thực trong
việc đánh giá tiềm năng về vốn, tìm hiểu những tâm lý, tập quán của nhà đầu
tư, mức độ nhậy cảm của luồng vốn đối với những thay đổi về lãi suất, cách
thức phát hành và khối lượng phát hành.
- Thị trường TPKB đã giúp các TCTD có thêm một kênh đầu tư vốn có hiệu
quả với độ an toàn, tính thanh khoản cao và chủ động trong việc quản lý vốn
khả dụng thông qua các nghiệp vụ với NHNN như TTM, chiết khấu và vay
cầm cố.
Lý thuyết tài chính tiền tệ Page 16
- Quy chế và Quy trình đấu thầu TPKB đã được cải tiến theo hướng giảm bớt
các khâu để công tác đấu thầu thực hiện nhanh gọn và hiệu quả, cải tiến
công nghệ phục vụ đấu thầu TPKB gần đây đã áp dụng công nghệ trang Web
trong các phiên đấu thầu.
KL: Việc hình thành và phát triển thị trường đấu thầu TPKB qua NHNN là
một chủ trương và hướng đi đúng đắn. Để thị trường đấu thầu TPKB qua
NHNN trong thời gian tới hoạt động tốt hơn đòi hỏi sự phối kết hợp chặt chẽ
hơn nữa giữa Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước trong
việc xác định số lượng phát hành, kỳ hạn phát hành, lãi suất cũng như hình thức
phát hành cho mỗi phiên đấu thầu. Ngoài ra, việc nâng cấp hệ thống giao dịch
đấu thầu, việc tuyên truyền phổ biến để các tổ chức tín dụng hiểu được vai trò

Lý thuyết tài chính tiền tệ Page 18
Biểu đồ 2: Lượng tiền cung ứng ròng qua nghiệp vụ thị trường mở
Đơn vị: Tỷ đồng
Nhìn vào biểu đồ 2 ta có thể thấy lượng tiền NHNN bơm ra giảm dần trong
6 tháng đầu năm 2011. Lãi suất NVTTM (hay lãi suất OMO) tính đến hết tháng
6/2011, vẫn được giữ nguyên ở mức 15%/năm. Việc thắt chặt tiền tệ thông qua
hút ròng trên nghiệp vụ thị trường mở của NHNN cùng các chính sách điều tiết
vĩ mô khác đã có những kết quả bước đầu khi CPI tháng 6/2011 CPI tăng
Lý thuyết tài chính tiền tệ Page 19
1,09%, giảm so với mức tăng 2,21% của tháng 5/2011 đã mang lại tín hiệu đáng
mừng cho nền kinh tế.
Bảng 3: Doanh số giao dịch nghiệp vụ thị trường mở qua các năm
Đơn vị: tỷ đồng
Qua bảng số liệu 3 cho thấy, trong 6 tháng đầu năm 2011, NHNN đã thực
hiện 241 phiên giao dịch mua có kỳ hạn. Để đảm bảo khả năng thanh khoản cho
các TCTD nên NHNN chỉ chào các phiên giao dịch mua có kỳ hạn và chủ yếu
là kỳ hạn ngắn, chỉ có 7 ngày và tất cả các phiên đều đấu thầu khối lượng. Các
chủ thể tham gia thị trường trong 6 tháng đầu năm 2011cũng tăng mạnh, gần
như các chủ thể đăng ký tham gia thị trường, nếu có đủ điều kiện đều được giao
dịch và đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời. Các chủ thể tham gia gồm: 05 NHTM
Nhà nước, 32 NHTMCP, 01 ngân hàng liên doanh, 07 chi nhánh ngân hàng
nước ngoài, 04 công ty tài chính. Doanh số giao dịch trên nghiệp vụ thị trường
mở liên tục tăng, năm sau cao hơn năm trước theo cả hai chiều mua và bán.
Năm 2008, tổng doanh số trúng thầu là 1.036.066 tỷ đồng, đến cuối năm 2010,
tổng doanh số trúng thầu là 2.108.715 tỷ đồng. Tuy nhiên, 6 tháng đầu năm
2011, NHNN lại “hút” là chủ yếu, (tháng 5 và 6); NHNN chỉ bơm ra khoảng
13.056 tỷ đồng. Điều này cho thấy thị trường mở là một “kênh” cung ứng hoặc
thu hút tiền về quan trọng của NHNN nhằm thực hiện mục tiêu của CSTT. Khối
lượng giao dịch trong từng phiên cũng ngày càng tăng từ bình quân 2.577 tỷ
Lý thuyết tài chính tiền tệ Page 20

4. Thị trường hối đoái:
Lý thuyết tài chính tiền tệ Page 21
Thị trường ngoại hối hay thị trường hối đoái ngoại tệ là thị trường tiền tệ quốc
tế diễn ra các hoạt động giao dịch các ngoại tệ và các phương tiện thanh toán có
giá trị như ngoại tệ.
4.1, Thực trạng:
Năm 2009, tỉ giá USD/VND tiếp tục đà tăng trong 4 tháng đầu năm, đặc biệt
sau khi NHNN thực hiện nới rộng biên độ tỉ giá lên ±5% khiến cho tỉ giá ngoại
tệ liên NH đã có đợt tăng đột biến.
Năm 2010, giá USD đã tăng khá mạnh trong năm 2009, sang đến tháng
1/2010 lại giảm nhẹ và tiếp tục dao động quanh mức 18.479đồng/USD cho đến
giữa tháng 2/2010. Nguyên nhân là do: Nguồn cung USD có thể tăng từ nguồn
vốn đầu tư trực tiếp; từ vốn hỗ trợ phát triển chính thức; từ vốn đầu tư gián tiếp;
từ nguồn kiều hối từ Việt kiều và từ lao động làm việc ở nước ngoài gia tăng;
nguồn thu từ khách quốc tế đến Việt Nam gia tăng trở lại; kim ngạch xuất khẩu
chuyển từ tăng trưởng âm (-) sang tăng trưởng dương (+)… Bên cạnh đó, các
tập đoàn, tổng công ty lớn của Nhà nước bán ngoại tệ cho ngân hàng, sức ép
tâm lý găm giữ USD do lo sợ rủi ro tỉ giá giảm, chênh lệch giữa giá thị trường
tự do với giá niêm yết trên thị trường chính thức đã giảm đáng kể.
Đến cuối năm 2010, thị trường ngoại hối VN rơi vào tình trạng căng thẳng
khi cầu ngoại tệ quá lớn, trong khi nguồn cung lại khan hiếm. Điều này khiến
cho giá USD/VND tăng mạnh, làm ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô.
6 tháng đầu năm 2011, với chính sách thắt chặt tiền tệ của NHNN, điểm nổi
bật nhất của thị trường ngoại tệ là duy trì được sự ổn định. Tỉ giá giao dịch dần
hạ xuống. Bắt đầu từ sự “giảm nhiệt” của tỉ giá trên thị trường tự do, chênh lệch
tỉ giá giữa thị trường này so với thị trường chính thức giảm dần xuống, thậm chí
có thời điểm còn thấp hơn cả thị trường chính thức – một hiện tượng hiếm thấy
trong nhiều năm qua.
Trên thị trường chính thức, tỉ giá giao dịch của các NHTM thường ở mức
thấp hơn biên độ tối đa theo quy định (1% so với tỉ giá bình quân trên thị trường

vàng trong nước sẽ vẫn bám sát diễn biến giá vàng quốc tế.
4.2, Vai trò:
- Đáp ứng nhu cầu mua bán ,trao đổi ngoại tệ nhằm phục vụ cho quá trình chu
chuyển, thanh toán trong các lĩnh vực thương mại và phi thương mại.
- Công cụ để ngân hàng trung ương có thể thực hiện chính sách tiền tệ nhằm
điều khiển nền kinh tế theo mục tiêu chính phủ.
Lý thuyết tài chính tiền tệ Page 23
- Thị trường ngoại hối có chức năng tín dụng.
- Cung cấp các công cụ cho các nhà kinh tế nghiên cứu để phòng ngừa rủi ro
hối đoái trong trao đổi ngoại tệ.Đồng thời giúp các nhà đầu cơ nghiên cứu
thu được lợi nhuận nếu họ dự đoán được tỷ giá hối đoái.
C. Thị trường vốn.
Sau hơn một thập kỷ phát triển, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam
cùng với các thị trường có liên quan đã tạo nên một thị trường tài chính
(TTTC) Việt Nam phát triển khá đa dạng. Hiện tại,TTCK đã được coi là một
cấu phần quan trọng của TTTC Việt Nam Qua 12 năm phát triển, TTCK Việt
Nam đã từng trải qua một thời kỳ bùng nổ ấn tượng vào năm 2006 và sau đó
lại rơi vào tình trạng suy giảm từ năm 2009 đến nay: giá chứng khoán giảm
liên tục xuống mức rất thấp so với mệnh giá, nhiều công ty chứng khoán thua
lỗ
1, Vai trò của TTCK đối với nền kinh tế.
Các nhà nghiên cứu lý thuyết chia TTTC gồm thị trường tiền tệ (gồm thị
trường vốn ngắn hạn, thị trường hối đoái và thị trường giấy tờ có giá ngắn hạn)
và thị trường vốn (trong đó gồm TTCK, TT vốn tín dụng). Như vậy, TTCK là
một cấu phần quan trọng của TTTC và là phương tiện để mọi thành phần kinh
tế -xã hội có thể tham gia đầu tư một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp; là nơi mà chính phủ có thể huy động vốn
cho nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế -xã hội. TTCK có thể coi là kênh dẫn vốn
quan trọng chuyển vốn từ khu vực tiết kiệm đến khu vực đầu tư; tăng cường
tính minh bạch trong sản xuất kinh doanh; góp phần tăng trưởng kinh tế; nâng

(M2/GDP, tín dụng so với GDP ). (xem Biểu đồ 1).
Lý thuyết tài chính tiền tệ Page 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status