Nâng cao vai trò của hiệp hội để quản lý và thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐỖ LÊ VĂN
NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA HIỆP HỘI
ĐỂ QUẢN LÝ VÀ THỰC THI QUYỀN SỞ HỮU CÔNG
NGHIỆP ĐỐI VỚI CHỈ DẪN ĐỊA LÝ Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Hà Nội, tháng 01 năm 2014


Hà Nội, tháng 01 năm 2014

3
MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1. Lý do chọn đề tài 6
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu 7
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 9
3.1. Mục tiêu nghiên cứu 9
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 9
4. Phạm vi nghiên cứu 9
5. Mẫu khảo sát 10
6. Câu hỏi nghiên cứu 10
7. Giả thuyết nghiên cứu 10
8. Phƣơng pháp nghiên cứu 10
9. Kết cấu của luận văn 11
CHƢƠNG 1. 12
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN 12
1.1. Tổng quan về sở hữu công nghiệp 12
1.1.1. Khái niệm sở hữu công nghiệp 12
1.1.2. Quản lý sở hữu công nghiệp 15
1.1.3. Thực thi quyền sở hữu công nghiệp 18
1.2. Chỉ dẫn địa lý 20
1.2.1. Khái niệm chỉ dẫn địa lý 20
1.2.2. Quản lý chỉ dẫn địa lý 29
1.2.3. Thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý 30
1.3. Các chủ thể quản lý và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý 33
1.3.1. Chủ thể quản lý chỉ dẫn địa lý 33

3.2. Mô hình hiệp hội tham gia quản lý và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý . 67
3.2.1. Mô hình kinh nghiệm quản lý và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý 67
3.2.2. Xây dựng mô hình tổng quát về quản lý và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa
lý có sự tham gia của hiệp hội 69
3.3. Áp dụng mô hình quản lý và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý có sự tham
gia của hiệp hội 71
3.3.1. Hiệp hội gạo tám xoan Hải Hậu tham gia quản lý và thực thi quyền đối với
chỉ dẫn địa lý 71
3.3.2. Hiệp hội vải thiều Thanh Hà tham gia quản lý và thực thi quyền đối với chỉ
dẫn địa lý 75
3.3.3. Hiệp hội cà phê Buôn Ma Thuột tham gia quản lý và thực thi quyền đối với
chỉ dẫn địa lý 78
3.4. Các giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và thực thi quyền đối với
chỉ dẫn địa lý có sự tham gia của hiệp hội 79
3.4.1. Giải pháp pháp lý nhằm nâng cao vai trò của hiệp hội 79
3.4.2. Giải pháp củng cố, nâng cao chất lƣợng hoạt động của hiệp hội 81
3.4.3. Giải pháp hỗ trợ hoạt động của hiệp hội 83
3.5. Đánh giá tác động của mô hình hiệp hội tham gia quản lý và thực thi quyền
đối với chỉ dẫn địa lý 85
3.5.1. Tác động dƣơng tính 85
3.5.2. Tác động âm tính 86
* Kết luận chƣơng 3 86
KẾT LUẬN 87
KHUYẾN NGHỊ 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

5

tƣơng ứng với chỉ dẫn địa lý đó quyết định.
- Tính đến thời điểm này đã có 36 chỉ dẫn địa lý của Việt Nam đƣợc
bảo hộ (năm 2001 mới chỉ có 2 chỉ dẫn địa lý đƣợc bảo hộ).
- Về cơ bản Việt Nam là một trong các nƣớc thực hiện tốt việc xác lập
quyền chỉ dẫn địa lý trong khu vực.
- Tuy nhiên, quản lý và thực thi quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) đối
với chỉ dẫn địa lý còn nhiều bất cập và chƣa đƣợc quan tâm thích đáng;
- Để thực hiện công việc quản lý chỉ dẫn địa lý, Nhà nƣớc đã đầu tƣ
một số dự án nhằm xây dựng mô hình quản lý Chỉ dẫn địa lý (thực hiện một
chƣơng trình do Thủ tƣớng chính phủ phê duyệt trong đó có thực hiện một số
dự án quản lý chỉ dẫn địa lý). Tuy nhiên, những dự án quản lý chỉ dẫn địa lý
khi thực hiện còn rất nhiều bất cập. Khi trao đổi, thảo luận với các hiệp hội
sản xuất về mô hình quản lý chỉ dẫn địa lý đang đƣợc áp dụng ở địa phƣơng,
đã có nhiều ý kiến cho rằng mô hình quản lý đang áp dụng tƣơng đối phức

7
tạp, chồng chéo, các qui định về quản lý nhƣ cấp quyền sử dụng, kiểm soát
chất lƣợng còn phức tạp, không hợp lý, bởi vậy, các tổ chức tập thể, cụ thể
là hiệp hội không có điều kiện để tham gia nhiều vào quá trình quản lý chỉ
dẫn địa lý. Quy trình quản lý đƣợc xây dựng có vẻ chặt chẽ nhƣng thực chất
rất cồng kềnh làm cho ngƣời sản xuất không phát huy đƣợc tinh thần làm chủ
của mình, bị lệ thuộc và gây tâm lý chán nản, ảnh hƣởng đến sản xuất, kinh
doanh. Chính vì những qui định đó, nên hiệp hội là tổ chức đại diện của
những ngƣời sản xuất, kinh doanh trực tiếp chƣa có vai trò xứng đáng.
Vì vậy, tôi chọn đề tài Nâng cao vai trò của hiệp hội để quản lý và thực
thi quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam làm luận văn
chuyên ngành Quản lý KH&CN, với mong muốn sẽ góp phần làm rõ hơn
thực trạng quản lý và đề xuất phƣơng án đổi mới, nâng cao vai trò của các
hiệp hội để quản lý và thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa
lý ở Việt Nam đƣợc tốt hơn.

hoàn thiện pháp luật để bảo hộ có hiệu quả chỉ dẫn địa lý.
- Tác phẩm Bảo hộ chỉ dẫn địa lý dưới dạng nhãn hiệu chứng nhận của
Lê Thu Hà, Học viện Tƣ pháp đã nêu Trong khuôn khổ thực thi nghĩa vụ pháp
lý quốc tế theo Hiệp định TRIPs, Hoa Kỳ đã lựa chọn mô hình bảo hộ chỉ dẫn
địa lý thông qua hệ thống pháp luật hiện hành về nhãn hiệu với các sửa đổi và
bổ sung cho phù hợp với các quy định tối thiểu của Hiệp định này
Các tác phẩm trên chƣa đề xuất về vai trò của hiệp hội trong quản lý và
thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý.
Nhƣng đã có tác phẩm bƣớc đầu bàn về vai trò của hiệp hội trong việc
quản lý và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý, đó là tác phẩm Bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý theo pháp luật Việt Nam, Luận văn
Thạc sĩ Luật học của Ninh Thị Thanh Thủy do TS Nguyễn Thị Quế Anh
hƣớng dẫn năm 2009 đã nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp
luật và tăng cƣờng hiệu quả bảo hộ quyền SHCN đối với chỉ dẫn địa lý ở Việt
Nam: Nhà nƣớc tạo cơ chế hỗ trợ việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý; nâng cao nhận
thức của các nhà sản xuất; các hiệp hội ngành nghề phải thể hiện đầy đủ vai
trò là ngƣời đại diện cho các chủ thể sản xuất, kinh doanh để họ có thể khai
thác địa lý một cách hiệu quả nhất; cần có sự phân định một cách rõ ràng, cụ

9
thể giữa hoạt động quản lý nội bộ của tổ chức tập thể và hoạt động quản lý
bên ngoài của các cơ quan quản lý nhà nƣớc.
Trong khuôn khổ Luận văn này, tác giả sẽ kế thừa một số kết quả
nghiên cứu từ trong và ngoài nƣớc, khái quát về tình trạng bảo hộ, quản lý chỉ
dẫn địa lý ở Việt Nam, đồng thời đề xuất giải pháp khắc phục những tồn tại,
bất cập của công tác quản lý chỉ dẫn địa lý hiện nay bằng cách nâng cao vai
trò của hiệp hội.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Tìm ra giải pháp để quản lý và thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối

- Cần tiến hành giải pháp để quản lý và thực thi có hiệu quả quyền đối
với chỉ dẫn địa lý bằng việc nâng cao vai trò tham gia của các hiệp hội chuyên
ngành;
- Khi vai trò của hiệp hội đƣợc nâng cao sẽ quản lý và thực thi quyền
đối với chỉ dẫn địa lý đạt hiệu quả.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
Các phƣơng pháp đƣợc tác giả Luận văn sử dụng trong nghiên cứu:
- Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu các tài liệu là các văn
bản Pháp luật nhƣ các Luật, các nghị định, thông tƣ, tạp chí và báo cáo
chuyên ngành để thu thập thông tin về cơ sở lý thuyết liên quan đến vấn đề
nghiên cứu; thu thập các thông tin thông qua một số nguồn tài liệu: sách tham
khảo, tạp chí chuyên ngành trong và ngoài nƣớc.
- Phƣơng pháp xử lý thông tin: thu thập, thống kê, phân tích thông tin
từ công việc nghiên cứu tài liệu, bao gồm thao tác cụ thể:
- Thu thập, thống kê số liệu: thu thập các số liệu trong lĩnh vực đăng ký
xác lập quyền chỉ dẫn địa lý của Cục Sở hữu trí tuệ.
- Phân tích số liệu: phân tích tình hình, dự đoán diễn biến của công tác
quản lý và thực thi quyền SHCN, phục vụ cho việc chứng minh giả thuyết.
- Phƣơng pháp phỏng vấn: tiến hành phỏng vấn các chuyên gia để thu
thập ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý, hiệp hội sản xuất và

11
chính ngƣời tham gia sản xuất sản phẩm. Tác giả Luận văn đã phỏng vấn 7
chuyên gia trong lĩnh vực quản lý và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý, cả
7 chuyên gia đều có câu trả lời, tuy nhiên Luận văn chỉ nêu một số câu trả lời
có liên quan trực tiếp đến vai trò của hiệp hội trong việc quản lý và thực thi
quyền đối với chỉ dẫn địa lý.
Cách tiến hành phỏng vấn:
+ Tác giả Luận văn gửi trƣớc câu hỏi cho ngƣời đƣợc phỏng vấn;
+ Tác giả Luận văn trực tiếp gặp và nghe ngƣời đƣợc phỏng vấn trả lời

Quyền sở hữu công nghiệp là quyền đối với một loại tài sản đặc biệt đó
là tài sản vô hình, chủ sở hữu có đầy đủ các quyền nhƣ quyền sở hữu, sử dụng
và định đoạt.
Quyền sở hữu công nghiệp có yếu tố giới hạn phạm vi nhƣ quốc gia
hoặc vùng lãnh thổ, nó cũng có yếu tố giới hạn về thời gian (thời gian hiệu
lực) tùy thuộc vào các đối tƣợng sở hữu công nghiệp và qui định của các quốc
gia khác nhau.
Quyền sở hữu công nghiệp có tính chất độc quyền sử dụng và khai
thác. Chủ sở hữu có quyền đầu tƣ sản xuất ra sản phẩm để bán hoặc chuyển
nhƣợng, chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp nhằm mục đích thu lợi nhuận
bù đắp lại chi phí tạo ra loại tài sản vô hình này.

13
Quyền sở hữu công nghiệp đƣợc xác lập dựa trên cơ sở là văn bằng bảo
hộ do cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền cấp. Ở Việt Nam, văn bằng bảo hộ do
Cục Sở hữu trí tuệ, thuộc Bộ KH&CN cấp. Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
là bảo hộ về nội dung. Vì vậy, để đƣợc cấp văn bằng bảo hộ các đối tƣợng sở
hữu công nghiệp phải qua giai đoạn thẩm định. Hiện nay, tại Cục Sở hữu trí
tuệ, các đơn yêu cầu xác lập quyền sở hữu công nghiệp đều phải trải qua quá
trình thẩm định hình thức và thẩm định nội dung, với thời hạn riêng cho từng
đối tƣợng sở hữu công nghiệp.
Nguyên tắc quan trọng chung đối với việc đề nghị xác lập quyền sở
hữu công nghiệp là nguyên tắc nộp đơn đầu tiên (The first to file). Ngƣời nộp
đơn cần biết rõ điều này để tiến hành nộp đơn sớm, bảo vệ quyền lợi chính
đáng của mình.
Các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp
Theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, quyền sở hữu công nghiệp, bao
gồm 7 đối tƣợng, cụ thể nhƣ sau:
1. Sáng chế: là giải pháp kỹ thuật dƣới dạng sản phẩm hoặc quy trình
nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự

tổ chức, cá nhân khác nhau.
Nhãn hiệu đƣợc bảo hộ khi không trùng hoặc không tƣơng tự với nhãn
hiệu hàng hóa khác đã đƣợc bảo hộ hoặc có ngày nộp đơn sớm hơn.
Nhãn hiệu đƣợc bảo hộ 10 năm tính từ ngày nộp đơn.
Ngoài nhãn hiệu thông thƣờng, còn có một số loại nhãn hiệu đặc biệt:
- Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ
của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch
vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó.
- Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho
phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá
nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách
thức sản xuất hàng hoá, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lƣợng, độ chính xác,
độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu.

15
- Nhãn hiệu liên kết là các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký,
trùng hoặc tƣơng tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tƣơng tự
nhau hoặc có liên quan với nhau.
- Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu đƣợc ngƣời tiêu dùng biết đến rộng
rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
Trong các loại nhãn hiệu trên, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng
nhận là hai loại nhãn có thể đƣợc sử dụng để bảo hộ chỉ dẫn địa lý, thông
thƣờng tồn tại dƣới dạng địa danh.
5. Tên thƣơng mại: là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt
động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể
kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.
Tên thƣơng mại đƣợc bảo hộ nếu có khả năng phân biệt chủ thể kinh
doanh mang tên thƣơng mại đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh
vực và khu vực kinh doanh.
6. Bí mật kinh doanh; là thông tin thu đƣợc từ hoạt động đầu tƣ tài

nghiệp.
+ Hợp tác quốc tế về sở hữu công nghiệp.
- Phân cấp trách nhiệm quản lý nhà nƣớc về sở hữu công nghiệp [14;
điều 11], cụ thể nhƣ sau:
+ Chính phủ thống nhất quản lý nhà nƣớc về sở hữu trí tuệ.
+ Bộ KH&CN chịu trách nhiệm trƣớc Chính phủ chủ trì, phối hợp với
Bộ Văn hoá-Thông tin, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện
quản lý nhà nƣớc về sở hữu trí tuệ và thực hiện quản lý nhà nƣớc về quyền sở
hữu công nghiệp.
+ Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi nhiệm
vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ KH&CN, Uỷ ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng trong việc quản lý nhà nƣớc
về sở hữu công nghiệp.
+ Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nƣớc về sở hữu công
nghiệp tại địa phƣơng theo thẩm quyền.
Để thi hành Luật SHTT, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
103/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hƣớng

17
dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về SHCN, Nghị định này qui định
trách nhiệm quản lý nhà nƣớc về sở hữu công nghiệp cho Bộ KH&CN, Cục
Sở hữu trí tuệ và các địa phƣơng, có những điểm chính sau [15; điều 10]:
- Bộ KH&CN có trách nhiệm sau đây trong quản lý nhà nƣớc về sở hữu
công nghiệp:
+ Xây dựng, tổ chức thực hiện chiến lƣợc, chính sách bảo hộ quyền sở
hữu công nghiệp, ban hành, trình cấp có thẩm quyền ban hành, tổ chức thực
hiện các văn bản pháp luật về sở hữu công nghiệp, tổ chức hệ thống cơ quan
thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc về sở hữu công nghiệp, tổ chức thực
hiện xác lập quyền sở hữu công nghiệp
+ Cục Sở hữu trí tuệ là cơ quan thuộc Bộ KH&CN, có trách nhiệm giúp

quản lý SHTT thuộc các Bộ, ngành và địa phƣơng trong cả nƣớc;
- Thực hiện chức năng bảo đảm các hoạt động sự nghiệp chuyên ngành:
tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về SHTT; đào tạo, bồi dƣỡng
chuyên môn, nghiệp vụ, nghiên cứu khoa học về SHTT; hỗ trợ và tƣ vấn về
thủ tục xác lập, quản lý, sử dụng và chuyển giao, chuyển nhƣợng giá trị quyền
SHTT; xây dựng, quản lý và tổ chức khai thác cơ sở dữ liệu thông tin sở hữu
công nghiệp.
Đặc biệt, ngoài công tác thẩm định, cấp văn bằng bảo hộ (công tác xác
lập quyền), để thực hiện việc hỗ trợ công tác thực thi quyền sở hữu công
nghiệp, Cục Sở hữu trí tuệ đã tổ chức nhiều khóa huấn luyện, tập huấn về kiến
thức sở hữu công nghiệp, thực hiện các dự án hỗ trợ địa phƣơng. Trong Cục
Sở hữu trí tuệ cũng có Phòng thực thi và giải quyết khiếu nại nhƣng vì không
phải là cơ quan thực thi quyền sở hữu công nghiệp nên Cục Sở hữu trí tuệ chỉ
thực hiện một số công việc có tính chất tƣ vấn, hỗ trợ về chuyên môn nghiệp
vụ sở hữu công nghiệp.
1.1.3. Thực thi quyền sở hữu công nghiệp
- Ngoài Bộ luật dân sự, hình sự, Luật SHTT, cần chú trọng đến các văn
bản dƣới luật liên quan đến thực thi quyền sở hữu công nghiệp, dƣới đây:
+ Nghị định số 105/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết và hƣớng dẫn thi
hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và
quản lý nhà nƣớc về sở hữu trí tuệ.
+ Nghị định số 97/2010/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực sở hữu công nghiệp. Nghị định này thay thế cho Nghị định số
106/2006/NĐ-CP và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 09/11/2010;
- Việc xác lập quyền sở hữu công nghiệp là sự công nhận về mặt pháp
lý, nó xác định rõ chủ sở hữu tài sản trí tuệ. Căn cứ vào sự công nhận về mặt

19
pháp lý đó, chủ sở hữu và các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền thực hiện
nhiều biện pháp nhằm đảm bảo cho pháp luật về SHTT đƣợc thực hiện một

2
Tham khảo thêm Nghị định số 105/2006/NĐ-CP

20
+ Biện pháp hình sự đƣợc áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm trong
trƣờng hợp hành vi đó có yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật
Hình sự. Biện pháp này đƣợc thực hiện thƣờng là do hành vi đó nghiêm trọng
và do các cơ quan thực thi đề nghị.
- Các cơ quan nhà nƣớc có chức năng thực thi quyền sở hữu công
nghiệp ở Việt Nam là:
+ Thanh tra KH&CN.
+ Cơ quan quản lý thị trƣờng.
+ Cảnh sát kinh tế.
+ Cơ quan hải quan.
- Chúng ta thấy rằng, lực lƣợng thực thi quyền sở hữu công nghiệp ở
Việt Nam là tƣơng đối “hùng hậu”, có đến 4 cơ quan có chức năng bảo đảm
cho việc thực hiện pháp luật về sở hữu công nghiệp đƣợc thực hiện tốt. Tuy
nhiên, thực tế cho thấy các cơ quan này còn yếu về kiến thức sở hữu công
nghiệp và sự phối kết hợp giữa các cơ quan thực thi với nhau và với chủ sở
hữu còn chƣa thật sự đƣợc tốt, hoạt động đôi khi còn chồng chéo. Chính vì
vậy, nên số lƣợng các vụ vi phạm quyền sở hữu công nghiệp còn xảy ra rất
nhiều.
1.2. Chỉ dẫn địa lý
1.2.1. Khái niệm chỉ dẫn địa lý
Một số khái niệm của quốc tế về chỉ dẫn địa lý
Điểm lại lịch sử từ những năm cuối thế kỷ 19, khi Công ƣớc Paris đƣợc
ký kết vào năm 1883 đã đƣa ra khái niệm về chỉ dẫn nguồn gốc (Indication of
Source) và Tên gọi xuất xứ hàng hóa (Appelations of Origin):
- Theo đó, chỉ dẫn nguồn gốc chỉ mối liên hệ giữa sản phẩm với nguồn
gốc của nó, tức là nó chỉ hàng hóa đó đƣợc sản xuất ra từ đâu, khu vực, đất

- Tại Điều 22.1 đã định nghĩa chỉ dẫn địa lý, nhƣ sau “Chỉ dẫn địa lý là
những chỉ dẫn xác định một sản phẩm là có nguồn gốc từ lãnh thổ của một
nƣớc thành viên, hoặc từ một khu vực hay địa phƣơng thuộc vùng lãnh thổ
đó, mà tại đó chất lƣợng, danh tiếng hoặc các đặc tính khác của sản phẩm chủ
yếu gắn với nguồn gốc địa lý của sản phẩm”.

22
- Điều 22.2 của Hiệp định TRIPS cũng qui định “Về các chỉ dẫn địa lý,
các thành viên phải qui định những biện pháp pháp lý đối với các bên liên
quan nhằm ngăn chặn:
+ Việc sử dụng bất kỳ phƣơng tiện nào để đặt tên hay giới thiệu một
hàng hóa mà chỉ dẫn hoặc gợi ý rằng hàng hóa đó xuất xứ từ một khu vực địa
lý khác với nơi xuất xứ thật để lừa dối công chúng về xuất xứ địa lý của hàng
hóa;
+ Bất kỳ việc sử dụng nào tạo nên một hành động cạnh tranh không
lành mạnh theo nhƣ định nghĩa tại Điều 10bis Công ƣớc Paris”.
- Điều 23.1 của Hiệp định TRIPS còn qui định chặt chẽ hơn, nhằm tăng
cƣờng việc bảo hộ cho rƣợu vang và rƣợu mạnh (đây là các hàng hóa nổi
tiếng ở châu Âu), cụ thể là “Mỗi thành viên sẽ qui định các biện pháp pháp lý
đối với các bên liên quan để ngăn chặn việc sử dụng một chỉ dẫn địa lý dùng
cho rượu vang và rượu mạnh không xuất xứ tại khu vực mà chỉ dẫn địa lý đã
nêu hoặc chỉ ra loại rượu mạnh không có xuất xứ từ khu vực mà chỉ dẫn địa
lý nêu ra, thậm chí nếu xuất xứ thật của hàng hóa được chỉ ra hoặc chỉ dẫn
địa lý được sử dụng do dịch hoặc đi kèm sự diễn đạt như “loại”, “kiểu”, “bắt
chước” hoặc “thuộc loại đó”.
Thuật ngữ “chỉ dẫn địa lý” đã đƣợc sử dụng chính thức trong Hiệp định
TRIRS. Việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý đối với các sản phẩm rƣợu vang và rƣợu
mạnh đƣợc qui định rất nghiêm ngặt, yêu cầu các nƣớc thành viên phải có
biện pháp xử lý cả các dấu hiệu tƣơng tự với chỉ dẫn địa lý.
Chúng ta thấy rằng, chỉ dẫn địa lý và tên gọi xuất xứ hàng hóa rất gần

các điều kiện địa lý độc đáo và ưu việt, bao gồm yếu tố tự nhiên, con người
hoặc kết hợp cả hai yếu tố đó. Nhƣ vậy, Bộ Luật dân sự 1995 không trực tiếp
quy định khái niệm chỉ dẫn địa lý mà gián tiếp quy định qua tên gọi xuất xứ
hàng hoá, nhƣng đã quy định những yếu tố đƣợc xem nhƣ nội hàm của khái
niệm chỉ dẫn địa lý nhƣ: tên địa lý của nƣớc, địa phƣơng, các tính chất, chất
lƣợng đặc thù dựa trên các điều kiện địa lý, bao gồm yếu tố tự nhiên, con
ngƣời hoặc kết hợp cả hai yếu tố đó.
- Bộ Luật dân sự năm 2005 đã có qui định về chỉ dẫn địa lý. Tại Điều
750 Bộ Luật dân sự năm 2005 có nêu chỉ dẫn địa lý là một đối tƣợng của

24
quyền sở hữu công nghiệp “Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm
sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí
mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý’.
- Luật SHTT Việt Nam đã định nghĩa tại Điều 22.4, nhƣ sau:
“Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu
vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể” [14; điều 22.4].
Chỉ dẫn địa lý là “dấu hiệu dùng để chỉ” khái niệm dấu hiệu ở đây có
hàm ý rộng hơn tên gọi xuất xứ nhƣng nó không có nghĩa là bất kỳ dấu hiệu
nào mà nên hiểu là dấu hiệu đó phải có ý nghĩa tƣợng trƣng cho khu vực địa
lý. Nhìn vào dấu hiệu đó, ngƣời ta có thể liên tƣởng ngay đến khu vực địa lý,
hay nói cách khác những dấu hiệu đó là những hình ảnh nổi tiếng, có mối liên
kết chặt chẽ với khu vực địa lý. Ví dụ thực tế nhƣ có thể dùng hình ảnh của
tháp Eiffel của Pháp hay chùa Một Cột của Việt Nam làm dấu hiệu chỉ dẫn
địa lý. Định nghĩa của Việt Nam về chỉ dẫn địa lý cũng phù hợp với qui định
của quốc tế.
Điều 22.4 của Luật SHTT mới chỉ đƣa ra định nghĩa chung về chỉ dẫn
địa lý. Tuy nhiên, các điều khoản của Luật SHTT đã qui định khá chặt chẽ về
điều kiện bảo hộ chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam, cụ thể nhƣ sau:
- Chỉ dẫn địa lý đƣợc bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

nguồn gốc của sản phẩm;
+ Chỉ dẫn địa lý gây hiểu sai lệch cho người tiêu dùng về nguồn gốc
địa lý thực của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý đó.
Phân tích điều này, ta thấy có nội hàm sau:
+ Pháp luật Việt Nam cũng nhƣ quốc tế qui định rằng một khi những
chỉ dẫn địa lý đã trở thành tên gọi chung của hàng hóa thì nó sẽ mất đi tính
chất chỉ dẫn đặc biệt, riêng của hàng hóa mà nó chỉ giúp ngƣời ta liên tƣởng
đến một loại hàng hóa chung mà thôi. Một ví dụ cụ thể là trƣờng hợp của
rƣợu Champagnes (Sâm banh). Đây là rƣợu của một vùng khá nôi tiếng của
Cộng hòa Pháp. Tuy nhiên, ở Việt Nam ta, từ trƣớc đến nay rất ít ngƣời biết
điều này mà đều tƣởng rƣợu Sâm banh là một loại rƣợu vang nổ, thậm chí
rƣợu vang nổ của Mỹ, Chile chúng ta cũng đều gọi là rƣợu sâm banh. Chính

Trích đoạn Hiệp hội cà phê Buôn Ma Thuột tham gia quản lý và thực thi quyền đối vớ Giải pháp pháp lý nhằm nâng cao vai trò của hiệp hội Giải pháp hỗ trợ hoạt động của hiệp hội Đánh giá tác động của mô hình hiệp hội tham gia quản lý và thực thi quyền
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status