Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với các dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ theo quy định của pháp luật Viẹt Nam - Pdf 27


1
mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhu cầu bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) xuất hiện cùng với
sự phát triển của giao lu thơng mại nhằm bảo vệ quyền của chủ sở hữu đối
với các đối tợng SHCN. Vấn đề bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp vẫn không
ngừng vận động và phát triển theo hớng mở rộng các quyền năng cho chủ sở
hữu, mở rộng phạm vi các đối tợng đợc bảo hộ. Vấn đề bảo hộ SHCN
không chỉ là vấn đề riêng lẻ của từng quốc gia mà nó chính là vấn đề mang
tính toàn cầu trong bối cảnh tự do hóa, toàn cầu hóa thơng mại hiện nay.
Nền kinh tế Việt Nam có một bớc ngoặt đợc đánh dấu bằng Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VI tháng 12/1986 trong đó Đảng và Nhà nớc ta đã
dứt khoát xóa bỏ cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu hành chính, bao
cấp, chuyển sang cơ chế hạch toán kinh doanh, thực hiện nhất quán chính sách
kinh tế nhiều thành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Quá trình đổi mới
về kinh tế đã ngày càng chứng tỏ nền kinh tế nớc ta đã và đang vận hành theo
cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc và theo định hớng xã hội chủ
nghĩa. Lúc này, các doanh nghiệp cũng dần có đợc quyền bình đẳng trong
hoạt động kinh doanh với môi trờng cạnh tranh lành mạnh. Tình hình này
cũng làm giảm đáng kể sự độc quyền, sự độc quyền chỉ còn tồn tại đâu đó
trong một số ngành cung cấp có tính chất đặc biệt còn hầu hết là sự phong phú
của hàng hóa, dịch vụ đợc tạo ra bởi các thành phần kinh tế khác nhau. Do
vậy, ngời tiêu dùng đang dần trở thành "thợng đế" theo đúng nghĩa của nó.
Hàng hóa đa dạng, dịch vụ phong phú cũng khiến các doanh nghiệp để mời
đợc "thợng đế" đến với mình buộc phải coi trọng và có sự thay đổi liên mục
mẫu mã, chủng loại hàng hóa của mình trên thị trờng nhng đồng thời chữ
tín ngày càng đợc các doanh nghiệp quan tâm xây dựng dựa vào các thơng
hiệu Bởi, một trong những cơ sở để ngời tiêu dùng lựa chọn chính là những



3
đảm bảo thực hiện những cam kết trong quan hệ song phơng và đa phơng
nh AFTA, APEC, Hiệp định Thơng mại Việt Mỹ, tiến tới gia nhập WTO..".
Chúng ta đã là thành viên của ASEAN, APEC và ngày 14/11/2006 đánh dấu
một điểm mốc quan trọng, chúng ta đã chính thức trở thành thành viên thứ 150
của Tổ chức Thơng mại Thế giới (WTO). Điều này càng đặt vấn đề hoàn
thiện pháp luật về sở hữu công nghiệp trớc những thách thức mới bởi chúng
ta phải thực hiện những quy định đã cam kết đặc biệt là Hiệp định TRIPS.
Trớc những yêu cầu khách quan đó, ngày 19/11/2005 Luật Sở hữu trí tuệ
(SHTT) đợc Quốc hội khóa IX nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
thông qua và đã có hiệu lực từ ngày 1/7/2006. Đây là lần đầu tiên những quy
định về SHTT đợc thống nhất và quy định chặt chẽ trong một bộ luật.
Đó cũng chính là lý do để chúng tôi lựa chọn đề tài "Bảo hộ quyền sở
hữu công nghiệp đối với các dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ
theo quy định của pháp luật Việt Nam" để làm Luận văn Thạc sĩ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu
Đề tài đợc nghiên cứu trong bối cảnh Luật SHTT mới đợc Quốc hội
nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua
ngày 29 tháng 11 năm 2005 và có hiệu lực thi hành từ 1 tháng 7 năm 2006.
Luật SHTT đã có những quy định khá mới mẻ, cập nhật nh những quy định
về xác lập quyền SHCN đối với nhãn hiệu nổi tiếng, những quy định về chỉ
dẫn địa lý, quyền tự bảo vệ khi có xâm phạm của chủ thể quyền SHCN
Bảo hộ quyền SHCN đối với các dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm,
dịch vụ đã đợc nghiên cứu rất nhiều nhng đó có thể chỉ là các nghiên cứu của
các luận văn tốt nghiệp Đại học hoặc các nghiên cứu mang tính riêng lẻ của từng
loại dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ mà thôi. Còn để nghiên cứu
tổng hợp thì cho đến nay, cha có công trình nghiên cứu nào cụ thể về bảo hộ
quyền sở hữu công nghiệp đối với các dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm,
dịch vụ là nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thơng mại.

5
4. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu của một luận văn thạc sĩ, tác giả tập trung
nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến nhóm các đối tợng dấu hiệu
dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ bao gồm Tên thơng mại, Chỉ dẫn địa lý
và Nhãn hiệu cùng với việc đánh giá thực trạng bảo hộ quyền SHCN đối với
những đối tợng này ở Việt Nam từ đó đa ra những kiến giải nhằm hoàn
thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của hoạt động bảo hộ quyền SHCN đối
với các đối tợng này.
5. Phơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn này đã sử dụng các phơng pháp
nghiên cứu nh sau: Phơng pháp duy vật biện chứng; phơng pháp duy vật
lịch sử; phơng pháp thống kê; so sánh; tổng hợp; điều tra xã hội học...
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chơng:
Chơng 1: Khái quát chung về quyền sở hữu công nghiệp đối với các
dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ.
Chơng 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền sở hữu
công nghiệp đối với các dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ.
Chơng 3: Thực trạng áp dụng pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp đối với các dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ ở Việt Nam
cùng một số khuyến nghị hoàn thiện pháp luật.

6
Chơng 1
Khái quát chung về quyền sở hữu công nghiệp đối với
các dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ

1.1. Vai trò của Các dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm,

phân công lao động và trao đổi hàng hóa đã hình thành những xởng thủ công,
những cơ sở sản xuất thủ công chuyên sản xuất một số sản phẩm nhất định,
nhãn hiệu đợc bắt đầu bằng những dấu hiệu riêng rất đơn giản để phân biệt
hàng hóa giữa những xởng, cơ sở sản xuất thủ công mang tính chất phờng
hội. Trong thời Trung cổ, việc sử dụng nhãn hiệu đã đợc gắn với phát triển và
tăng trởng của thơng mại, do đó có thuật ngữ "nhãn hiệu hàng hóa". Nhãn
hiệu đã đợc sử dụng để chỉ ra rằng một sản phẩm do một thành viên của một
phờng hội đợc biết đến là có kinh nghiệm trong ngành buôn bán đó làm ra.
Trong tiếng Pháp, thuật ngữ đợc sử dụng là "marque deposée" trong đó
deposée có nghĩa là nhãn hiệu đã đợc đăng ký với một phờng hội buôn
bán.Thời kỳ này cũng đã có sự giao thơng quốc tế, buôn bán hàng hóa giữa
các quốc gia, châu lục nh con đờng tơ lụa bắt đầu từ Hàng Châu, Trung
Quốc xuyên qua các quốc gia nh Mông Cổ, ấn Độ, Iran đến Hy Lạp, vùng
Địa Trung Hải và đến tận châu Âu nhng giao thơng quốc tế vẫn cha thực
sự phát triển. Sự phát triển của chủ nghĩa t bản vào thế kỷ XVI - XVII dới
tác động to lớn của cách mạng khoa học công nghệ đặc biệt vào những năm
70, 80 của thể kỷ XIX, nền công nghiệp t bản chủ nghĩa đã có thể sản xuất
các sản phẩm hàng loạt, những phát minh quan trọng trong lĩnh vực vận tải đã
làm mở cửa thị trờng quốc tế. Những sản phẩm mới phục vụ cho cuộc sống
tiện nghi hơn liên tiếp đợc ra đời và sản xuất hàng loạt phục vụ nhu cầu ngày
càng cao của xã hội. Những sản phẩm từ sản phẩm gia dụng nh: từ cây kim,
sợi chỉ đến quần áo, giày dép rồi dụng cụ gia đình và cả những sản phẩm

8
công nghệ cao nh đồ điện lạnh, điện tử đợc sản xuất hàng loạt và phạm vi
tiêu thụ của nó không chỉ còn trong phạm vi một quốc gia hay vùng lãnh thổ
nhất định nào mà phát triển mở rộng trên toàn thế giới. Những công ty xuyên
quốc gia, những tập đoàn toàn cầu đã tạo nên cuộc cạnh tranh trên thị trờng
và ngày càng trở nên gay gắt. Tên thơng mại là tên gọi đợc dùng để nhận
biết doanh nghiệp, nó giúp phân biệt chủ thể này với chủ thể khác trong cùng

nghiệp. Thuật ngữ quyền sở hữu công nghiệp xuất phát từ chỗ các đối tợng
của loại hình sở hữu này là tài sản vô hình nhng lại áp dụng vào hoạt động
công nghiệp hoặc thủ công nghiệp để tạo ra các sản phẩm vật chất do đó có
giá trị kinh tế trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Ngời nào là chủ sở hữu
của những tài sản vô hình này thì đợc khai thác lợi ích kinh tế từ chúng và có
lợi thế trong sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy để đợc bảo hộ thì các đối
tợng đó phải thỏa mãn những điều kiện nhất định theo quy định của pháp
luật. Có những đối tợng chỉ đợc bảo hộ khi đợc cơ quan có thẩm quyền
cấp văn bằng bảo hộ, nhng cũng có những đối tợng không đợc bảo hộ
thông qua hệ thống cấp văn bằng bảo hộ. Một trong những phần không thể
thiếu trong quy trình của sở hữu công nghiệp khi mà các đối tợng vô hình
của quyền sở hữu công nghiệp lại tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh
tạo ra sản phẩm cho xã hội, lúc đó buộc các nhà kinh doanh phải để ý đến
những nhân tố nh: nhãn hiệu, tên thơng mại, chỉ dẫn địa lý Các nhân tố đó
chính là các đối tợng, là công cụ xúc tiến kinh doanh, chúng mang giá trị
kinh tế to lớn nhng là giá trị vô hình trong sản phẩm hữu hình, chúng ta thấy
chúng có thể không mang tính sáng tạo cao nh sáng chế hay giải pháp hữu ích,
kiểu dáng công nghiệp nhng chúng lại là sự thể hiện uy tín, chất lợng và phải
do có những điều kiện nhất định (ví dụ đối với chỉ dẫn địa lý, phải có những điều
kiện tự nhiên u đãi nhất định mà chỉ nơi vùng miền đó có, hoặc ví dụ đối với
nhãn hiệu, hay tên thơng mại, cần phải có sự minh chứng về chất lợng, uy
tín của sản phẩm, hay của doanh nghiệp đó) qua một khoảng thời gian) mới có
thể tạo nên đợc sức cạnh tranh của sản phẩm đó trên thị trờng.

10
Nh vậy, có thể thấy các dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch
vụ có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế thị trờng. Cụ thể:
* Vai trò của các dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ đối
với nền kinh tế:
Nhóm các dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ gồm nhãn

cho các thơng hiệu nổi tiếng thế giới của nớc ngoài [60]. Chúng ta cũng đã
có những bài học về việc chậm đăng ký nhãn hiệu trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế, dẫn đến những tổn thất to lớn về kinh tế, điển hình nh vụ
tranh chấp nhãn hiệu của Petro Vietnam và cà phê Trung Nguyên tại thị
trờng Hoa Kỳ, của thuốc lá Vinataba tại thị trờng châu á, phồng tôm Sa
Giang tại Pháp và châu Âu
Sự gia tăng đáng kể các doanh nghiệp với nhiều loại hình của các
thành phần kinh tế là nguyên nhân chủ quan của sự phát triển của lĩnh vực sở
hữu công nghiệp. Mỗi doanh nghiệp khi tham gia vào nền kinh tế thị trờng
đều muốn khẳng định tính u việt của mình, vị trí của mình thông qua các dấu
hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ nh tên thơng mại, chỉ dẫn địa lý,
nhãn hiệu. Hiện nay, trong nớc, một số doanh nghiệp Việt Nam cũng đã có
những chiến lợc phát triển rõ ràng trong việc khai thác các thế mạnh của
mình, chúng ta thấy có sự chuyển giao khai thác nhãn hiệu nhằm phát huy
tính cạnh tranh của nhãn hiệu đó nh việc Tập đoàn Unilever nổi tiếng khi đầu
t ở Việt Nam đã mua lại nhãn hiệu kem đánh răng P/S với giá 7.5 triệu USD,
và họ cũng đã chớp cơ hội để đầu t khai thác chỉ dẫn địa lý Phú Quốc với
sản phẩm nớc mắm Knorr Phú Quốc [48].
Chính sự phát triển không ngừng của các thành tựu khoa học công nghệ
đã khẳng định đợc vị trí then chốt của các tài sản vô hình - sở hữu công nghiệp.
Giá trị của các dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ không chỉ thể hiện
ở lợi ích của các chủ thể tham gia vào nền kinh tế mà còn có lợi ích chung của
toàn xã hội thể hiện ở việc bảo hộ các đối tợng này cũng khẳng định vị trí của
doanh nghiệp đối với ngời tiêu dùng, tạo ra sự phát triển bình đẳng, lành mạnh

12
của thị trờng. Và nó càng có ý nghĩa quan trọng đặc biệt khi những sản
phẩm, dịch vụ của chúng ta đến tay ngời tiêu dùng quốc tế, nó không chỉ góp
phần phát triển kinh tế - xã hội cho đất nớc mà còn là sự khẳng định vị thế,
thơng hiệu của quốc gia trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

nhanh Burger, rồi KFC trên thị trờng cả nớc nhất là tại các thành phố lớn
với sức tiêu thụ lớn nh Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng đặc
biệt một số doanh nghiệp Việt Nam cũng đã nhanh nhạy nắm bắt nhu cầu của
thị trờng và tham gia vào việc chuyển nhợng thơng hiệu của mình ở cả thị
trờng trong và ngoài nớc nh Cà phê Trung Nguyên, hiện nay trên 61 tỉnh
thành của cả nớc đã có đến hơn 400 cửa hàng cà phê mang tên Trung Nguyên...
hay một số khác nh Phở 24, thời trang Nino Maxx Hình thức này mang đến
cho doanh nghiệp sự chủ động trong việc kinh doanh và phát triển nguồn tài
sản vô hình nhng có giá trị to lớn của mình và hiện tại ở nhiều nớc phát
triển trên thế giới hoạt động cho thuê một số đối tợng tài sản vô hình đợc
điều chỉnh bởi các hợp đồng mang tên "franchise" [23].
Tuy nhiên, hiện nay, do cha nhận thức một cách đầy đủ về giá trị của
các dấu hiệu này mà các doanh nghiệp Việt Nam hầu nh cha sử dụng đợc
hết các quyền mà pháp luật đã dành bảo vệ cho họ, chính vì vậy mà các doanh
nghiệp đã không những làm mất đi các lợi ích kinh tế chính đáng của mình,
làm mất đi lợi thế cạnh tranh của bản thân doanh nghiệp trên thơng trờng.
Đây không chỉ là thiệt thòi cho bản thân doanh nghiệp mà còn là sự mất mát
lớn đối với những nền kinh tế đang phát triển nh Việt Nam, chúng ta không
chỉ mất đi thơng hiệu của doanh nghiệp mà thậm chí mất đi cả thơng hiệu
của cả quốc gia trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
* Vai trò của các dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ đối
với ngời tiêu dùng:
Qua điều tra sơ bộ của Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, trong
số những ngời tiêu dùng ở Thành phố Hồ Chí Minh đợc phỏng vấn, 89% cho

14
rằng nhãn hiệu là yếu tố quyết định khi họ lựa chọn mua sắm [54]. Lý do chủ
yếu là nhãn hiệu tạo cho họ sự yên tâm về thông tin xuất xứ, tin tởng vào chất
lợng sản phẩm, tiết kiệm về thời gian tìm kiếm thông tin, giảm rủi ro Kết quả
này cho thấy ngày nay nhận thức của ngời tiêu dùng về chất lợng sản phẩm,

ngời tiêu dùng mà cả với nền kinh tế, việc bảo hộ quyền SHCN đối với các
nhãn hiệu, tên thơng mại, chỉ dẫn địa lý có ý nghĩa to lớn thể hiện qua các
khía cạnh sau:
- Trớc hết việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với các nhãn
hiệu, tên thơng mại và chỉ dẫn địa lý sẽ thúc đẩy hoạt động sáng tạo, đổi mới
kỹ thuật sản xuất, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể thuộc
mọi thành phần kinh tế, bảo đảm độc quyền khai thác sử dụng đối tợng để
chủ sở hữu thu lợi, là biện pháp hữu hiệu để khuyến khích mọi tổ chức, cá
nhân nghiên cứu sáng tạo và áp dụng các kỹ thuật tiến bộ tạo ra những sản
phẩm, dịch vụ mới thu hút đợc ngời tiêu dùng bằng con đờng cạnh tranh
lành mạnh, hợp pháp. Đồng thời, đó cũng chính là cách để buộc các nhà sản
xuất, kinh doanh thực hiện cam kết về uy tín, chất lợng sản phẩm, dịch vụ
của mình đối với ngời tiêu dùng và đối với toàn xã hội.
- Việc bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu, tên thơng mại và chỉ
dẫn địa lý còn là biện pháp khuyến khích đầu t nớc ngoài. Các nhà đầu t sẽ
yên tâm hơn nếu họ đợc tạo điều kiện thuận lợi và có cơ sở pháp lý vững
chắc an toàn khi đầu t vào Việt Nam dới một tên thơng mại đợc bảo hộ
hay đa vào Việt Nam hàng hoá, dịch vụ dới một nhãn hiệu, một chỉ dẫn địa
lý đợc công nhận. Đặc biệt khi Hiệp định thơng mại Việt - Mỹ đã có hiệu
lực thì việc bảo hộ các đối tợng này sẽ càng có ý nghĩa lớn lao bởi toàn bộ
các nội dung của Hiệp định này đều có liên quan đến hoạt động SHTT nói
chung và SHCN nói riêng.
- Bảo hộ quyền sở hữu đối với các đối tợng trên còn liên quan mật
thiết đến lợi ích kinh tế của các quốc gia bởi việc bảo hộ các đối tợng này là
một trong những công việc mà Việt Nam chúng ta đang nỗ lực thực hiện,

16
nhất là trong bối cảnh chúng ta đã là thành viên của Tổ chức Thơng mại
Thế giới (WTO).
- Việc bảo hộ quyền SHCN đối với các đối tợng này còn có ý nghĩa

vực mà nó trở thành vấn đề toàn cầu, thu hút sự quan tâm chung của các quốc
gia trên thế giới, vấn đề đặt ra là các đối tợng SHCN phải đợc bảo hộ bằng
cả những điều ớc quốc tế mà theo đó các quốc gia tham gia phải cam kết
thực hiện vì những lợi ích và mục tiêu phát triển chung.
Nhng phải đến năm 1883 với sự ra đời của công ớc Paris - một văn
bản pháp luật quốc tế đầu tiên về bảo hộ sở hữu công nghiệp - đánh dấu sự
liên kết của các quốc gia trên thế giới cùng quan tâm đến lĩnh vực này.
Theo Công ớc Paris đối tợng quyền SHCN bao gồm sáng chế, nhãn
hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, mẫu hữu ích, tên thơng mại, chỉ dẫn
địa lý (chỉ dẫn nguồn gốc và tên gọi xuất xứ) và quyền chống cạnh tranh
không lành mạnh. Các quy định của Công ớc Paris đề cập đến bốn vấn đề lớn
là: nguyên tắc đối xử quốc gia, quyền u tiên, một số nguyên tắc chung đối
với hệ thống bảo hộ quyền SHCN mà các nớc thành viên phải tuân thủ và các
quy định về hành chính phục vụ cho việc thi hành công ớc.
Tiếp theo Công ớc Paris là Thỏa ớc Madrid và Nghị định th Madrid,
văn bản pháp luật quốc tế điều chỉnh các vấn đề đăng ký NHHH ở các nớc
thành viên. Thỏa ớc ký ngày 14/04/1891 tại Mandrid (Tây Ban Nha) dới sự
bảo trợ của Hiệp hội Paris về SHCN. Đến nay đã có khoảng 40 nớc là thành
viên của Thỏa ớc này. Năm 1981, Việt Nam cũng đã là thành viên chính thức.
Ngày 27/10/1994, Hiệp ớc về Luật Nhãn hiệu (TLT) đợc thông qua.
Hiệp ớc TLT đợc ban hành để đơn giản hóa các thủ tục xin cấp phép, đăng
ký và hài hòa thủ tục đăng ký nhãn hiệu giữa các quốc gia khác nhau. TLT đã
hài hòa thủ tục của các cơ quan cấp phép đăng ký nhãn hiệu của các quốc gia

18
khác nhau thông qua việc quy định những yêu cầu tối đa mà một bên tham gia
có thể đa ra.
Hiệp định TRIPS:
Cùng với sự phát triển hoạt động thơng mại và đầu t, việc bảo hộ
quyền SHTT đối với các hoạt động này và quyền lợi thơng mại hợp pháp của

Mối quan hệ chặt chẽ giữa Hiệp định TRIPS và Công ớc Paris đợc
thể hiện trong Điều 2.1. Hiệp định này bắt buộc tất cả các thành viên WTO
tuân thủ các điều từ Điều 1 đến Điều 12 và Điều 19 của Công ớc Paris đợc
sửa đổi năm 1967 tại Stockholm. Hiệp định TRIPS ngoài việc đề cập đến các
nguyên tắc cơ bản của Công ớc Paris, đã vợt ra ngoài Công ớc Paris bằng
việc lần đầu tiên đa ra một nguyên tắc mới đó là "đối xử Tối huệ quốc"
(MFN). Theo Điều 4 Hiệp định TRIPS: "Tất cả các lợi ích, u đãi, đặc ân, đặc
lợi hay sự miễn trừ mà một thành viên dành cho công dân của bất kỳ một nớc
nào khác sẽ đợc áp dụng cho tất cả các thành viên khác, ngay lập tức và
không có bất kỳ một điều kiện nào khác". Bên cạnh đó, Hiệp định TRIPS còn
quy định các nguyên tắc tổng quát về thủ tục bảo hộ một cách thỏa đáng và
hiệu quả quyền sở hữu công nghiệp tại các nớc thành viên. Trong phần 3 và
phần 4 của Hiệp định TRIPS quy định rằng các nớc thành viên phải quy định
trong luật pháp quốc gia của mình các thủ tục cho phép áp dụng các biện pháp
hiệu quả đối với các hành vi xâm phạm quyền SHCN. Các quốc gia thành viên
cũng phải quy định một cơ chế nhằm ngăn chặn các hành vi tái vi phạm các
quyền đó và có nghĩa vụ phải áp dụng và cả hai biện pháp nói trên để tránh
các rào cản gây cản trở cho thơng mại hợp pháp và các biện pháp an toàn đối
với việc lạm dụng quyền. Hơn thế nữa, các thủ tục và hình thức quy định đối
với việc bảo hộ quyền phải hợp lý và công bằng và không đợc "phức tạp và
tốn kém đến mức không cần thiết" và không đợc "kéo dài một cách bất hợp
lý và không có lý do".
Nh vậy, với việc ra đời Hiệp định TRIPS, việc bảo hộ và thực thi quyền
sở hữu trí tuệ trên thế giới đã đợc đẩy mạnh, mang lại lợi ích cho cả ngời sáng

20
tạo và ngời sử dụng công nghệ, cũng nh lợi ích kinh tế - xã hội nói chung và
đảm bảo sự cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ. Và với Việt Nam, chúng ta đã là
thành viên của WTO, ngoài việc đẩy mạnh các chính sách mở cửa, một công việc
quan trọng mà chúng ta đã và đang tích cực thực hiện đó là cải thiện pháp luật

Trong khi đó, ở miền Nam, hệ thống bảo hộ SHCN đợc chú trọng hơn
với quan điểm thừa nhận quyền t hữu của chủ sở hữu đối với đối tợng
SHCN đặc biệt là dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ là nhãn hiệu
hàng hóa. Chính quyền Sài Gòn đã ban hành Luật 13/57 ngày 1/8/1957 bảo hộ
nhãn hiệu, Luật 14/59 ngày 11/6/1959 về chống sản xuất hàng giả.
Các vấn đề liên quan đến đăng ký xác lập quyền đã đợc quy định cụ
thể, chi tiết trong các văn bản pháp luật và là yêu cầu bắt buộc đối với các chủ
thể nhằm chính thức ghi nhận sự bảo hộ từ phía nhà nớc đối với quyền SHCN
của chủ sở hữu.
Giai đoạn từ 1981-1988:
Hệ thống bảo hộ SHCN giai đoạn này đợc áp dụng theo mô hình phổ
biến ở các nớc xã hội chủ nghĩa có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, đó là
sự bảo hộ chủ yếu nhằm vào các quyền tinh thần hơn là các quyền tài sản của
ngời sáng tạo. Cơ chế "dùng lợi ích vật chất làm động lực thúc đẩy hoạt động
sáng tạo trí tuệ" hầu nh cha đợc áp dụng. Biện pháp bảo hộ chủ yếu và
dờng nh duy nhất là biện pháp hành chính. "Sản phẩm sáng tạo trí tuệ đợc
coi là sản phẩm phục vụ cho xã hội, quyền t hữu và các lợi ích kinh tế đối với
các sản phẩm đó của tác giả hầu nh không đợc chấp nhận. Tác giả của sản
phẩm chỉ có thể đợc thởng hoặc ghi công mà thôi" [43].
Đối với các đối tợng là các dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm,
dịch vụ mới chỉ có các nghị định:
- Nghị định 197/HĐBT ngày 14.12.1982 về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa;
- Nghị định 85/HĐBT ngày 13.5.1988 về bảo hộ kiểu dáng công nghiệp;

22
- Lệnh số 10/LCT/HĐNN ngày 10.12.1988 của Chủ tịch Hội đồng Nhà
nớc Công bố Pháp lệnh chuyển giao công nghệ nớc ngoài vào Việt Nam.
Theo các văn bản trên, việc xác lập quyền SHCN đối với các đối tợng
giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu hàng hóa đợc thực
hiện trên cơ sở đăng ký bảo hộ tại Cục Sáng chế thuộc ủy ban Khoa học và Kỹ

có thể áp dụng trình tự dân sự nhng thực tế không có vụ kiện nào đợc xử
trớc tòa án; biện pháp áp dụng chủ là biện pháp hành chính.
Giai đoạn từ 1995 - nay:
Giai đoạn này đợc đánh giá là giai đoạn hệ thống SHCN Việt Nam hớng
tới một hệ thống SHCN đầy đủ, và hiệu quả theo yêu cầu của WTO. Bộ luật
dân sự 1995 đợc ban hành trong đó có một phần độc lập quy định về SHTT
và chuyển giao công nghệ (Phần thứ VI) đã đánh dấu bớc chuyển mới của hệ
thống bảo hộ SHCN Việt Nam với mục tiêu đáp ứng ngày càng tốt hơn các
tiêu chuẩn về SHTT của WTO. Đối với các việc bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp đối với các dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ cũng có các
nghị định hớng dẫn thi hành:
- Nghị định 63/CP ngày 24/10/1996 quy định chi tiết về SHCN. Nghị
định này đã đợc sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 06/2001/CP ngày 1/2/2001;
- Nghị định 45/1998/NĐ-CP ngày 1.7.1998 quy định chi tiết về chuyển
giao công nghệ;
- Nghị định 54/200/NĐ-CP ngày 3.10.2000 về bảo hộ SHCN đối với
bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thơng mại và bảo hộ quyền chống cạnh
tranh không lành mạnh liên quan tới SHCN;
- Thông t 3055/TT/SHCN ngày 31/12/1996 hớng dẫn thi hành các
quy định về thủ tục xác lập quyền SHCN và một số thủ tục khác trong Nghị
định 63/CP;

24
- Thông t 825/2000/TT-BKHCNMT ngày 3.5.2000 của Bộ Khoa học
Công nghệ và Môi trờng hớng dẫn thi hành Nghị định 12/1999/NĐ-CP;
Sự ra đời của Bộ luật Dân sự 2005 ngày 14/6/2005 (trong đó có Phần
thứ 6 quy định về Quyền SHTT và chuyển giao công nghệ). Nhng năm 2005
là năm đợc coi là đột phá khi Luật Sở hữu trí tuệ đã đợc thông qua và chính
thức có hiệu lực từ 01/07/2006. Đây là văn bản pháp lý riêng biệt bao gồm các
quy định về sở hữu trí tuệ. Lần đầu tiên các quy định về bảo hộ SHCN nói

hoàn chỉnh về vấn đề bảo hộ quyền SHCN nói chung và bảo hộ quyền SHCN
đối với NHHH, tên thơng mại và chỉ dẫn địa lý nói riêng. Việc làm đó góp
phần thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh, đảm bảo quyền và lợi ích hợp
pháp của chủ sở hữu NHHH, tên thơng mại, ngời có quyền sử dụng chỉ dẫn
địa lý và ngời tiêu dùng từng bớc đa Việt Nam hòa nhập với sự phát triển
chung của các nớc trong khu vực và trên thế giới.

Trích đoạn thực trạng áp dụng pháp luật bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với các dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, một số khuyến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với các dấu hiệu dùng để phân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status