Xác lập quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam - Pdf 27


1
Mở Đầu

1. Lý do lựa chọn đề tài
Chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam từ 2001-2010 đã vạch
rõ một trong những mục tiêu cơ bản trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật Việt Nam là "chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình
phù hợp với điều kiện của nớc ta và bảo đảm thực hiện những cam kết trong
quan hệ song phơng và đa phơng nh AFTA, APEC, Hiệp định Thơng mại
Việt - Mỹ, tiến tới gia nhập WTO".
Trong bối cảnh nhu cầu hội nhập đang trở thành một vấn đề mang tính
tất yếu khách quan, kinh tế tri thức chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong nền
kinh tế toàn cầu, vấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ (SHTT) đã trở thành yếu tố không
thể bỏ qua và ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của nó. SHTT đợc đề
cập đến trong tất cả mọi mặt của đời sống: kinh tế, thơng mại, khoa học -
công nghệ, văn hóa - nghệ thuậtVấn đề bảo hộ quyền SHTT xuất hiện trong
hầu hết các Hiệp định thơng mại song phơng, đa phơng; nó đợc coi là
một trong những yếu tố nhằm khuyến khích, thúc đẩy đầu t sáng tạo trí tuệ,
góp phần phát triển nền kinh tế quốc gia.
Trong những năm qua, để đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của quá trình hội
nhập quốc tế, bên cạnh việc tham gia các hoạt động về SHTT của các tổ chức
khu vực và quốc tế (nh ASEAN, APEC), Việt Nam đã đàm phán ký kết với
nớc ngoài các Hiệp định có nội dung liên quan đến SHTT nh: Hiệp định
Thơng mại Việt - Mỹ (BTA), Hiệp định về hợp tác SHTT giữa Việt Nam-
Thụy Sĩ, đồng thời đã nỗ lực, gấp rút chuẩn bị các điều kiện cần thiết trong
đó có một nội dung trọng yếu là hoàn thiện hệ thống pháp luật về SHTT và cơ
chế bảo hộ SHTT để gia nhập Tổ chức Thơng mại Thế giới (WTO).
Để trở thành thành viên của WTO, một nhiệm vụ rất quan trọng của
Việt Nam là phải đáp ứng đầy đủ và hiệu quả các yêu cầu quy định trong hiệp



3
của pháp luật về SHTT quốc tế trong tơng quan so sánh với pháp luật Việt
Nam, từ đó nêu và phân tích những bất cập, hạn chế trong quy định pháp luật
Việt Nam về vấn đề này và đa ra những định hớng, đề xuất nhằm hoàn thiện
cơ chế, hệ thống xác lập quyền SHCN.
2. Tình hình nghiên cứu
Xuất phát từ ý nghĩa và tính thời sự của vấn đề, cho đến nay đã có rất
nhiều công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo, bài viết của các tác giả trong
và ngoài nớc khai thác về các vấn đề liên quan đến SHCN và xác lập quyền
SHCN dới nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau; nhiều hội thảo, lớp tập huấn
quy mô quốc gia và quốc tế về cơ chế, hệ thống xác lập quyền SHCN đã đợc
tổ chức và thực hiện.
Các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo có thể kể đến những
công trình sau: Những vấn đề lý luận và thực tiễn hoàn thiện khung pháp luật
Việt Nam về bảo hộ sở hữu trí tuệ trong xu thế hội nhập quốc tế và khu vực
(đề tài nghiên cứu khoa học QG 01.10 do Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà
Nội thực hiện); cuốn Bảo hộ quyền Sở hữu trí tuệ ở Việt Nam - Những vấn đề
lý luận và thực tiễn do Viện Khoa học Pháp lý - Bộ T pháp ấn hành, Nxb T
pháp, 2004; cuốn Các yếu tố của quyền sở hữu trí tuệ của TS. Phùng Trung Tập,
Nxb T pháp, 2004; Luận văn cao học: Quyền u tiên đối với việc đăng ký sở
hữu công nghiệp tại Việt Nam của Lê Mai Thanh, Khoa Luật - Đại học Quốc
gia Hà Nội, 1999. Ngoài ra, còn có các đề án nghiên cứu cấp Nhà nớc, cấp
Bộ, cấp cơ sở về xác lập quyền sở hữu công nghiệp và tăng cờng hiệu quả hệ
thống xác lập quyền sở hữu công nghiệp do Cục SHTT chủ trì thực hiện...
Các chuyên đề, bài viết có thể đến các bài viết của TS. Nguyễn Thị
Quế Anh: Bảo hộ tên thơng mại ở Việt Nam và một số kiến nghị hoàn thiện
pháp luật về bảo hộ tên thơng mại, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà
Nội, số 4/2002; Một số vấn đề về bảo hộ bí mật kinh doanh và hoàn thiện
pháp luật bảo hộ bí mật kinh doanh ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học Đại học

- Phân tích hệ thống xác lập quyền SHCN theo quy định của pháp luật
Việt Nam từ đó đặt ra những vấn đề, nội dung bất cập cần đợc khắc phục,
sửa đổi, bổ sung;
- Đa ra những kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định pháp
luật Việt Nam về xác lập quyền SHCN.
4. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi của một luận văn thạc sĩ, tác giả tập trung nghiên cứu
những vấn đề lý luận liên quan đến hệ thống xác lập quyền SHCN và pháp
luật thực định của Việt Nam, của một số nớc trên thế giới cũng nh quy định
của các ĐƯQT về xác lập quyền SHCN cùng với việc đánh giá thực trạng xác
lập quyền SHCN ở Việt Nam từ đó đa ra những lập luận nhằm hoàn thiện vấn
đề nghiên cứu.
5. Những cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
Những cơ sở lý luận của luận văn là các thành tựu của các chuyên
ngành khoa học pháp lý nh: lịch sử pháp luật, lý luận về pháp luật, xã hội học
pháp luật, luật hình sự, tội phạm học, luật tố tụng hình sự và triết học trong
các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài đăng trên tạp chí của
các nhà khoa học - luật gia Việt Nam và nớc ngoài. Ngoài ra, để góp phần
phân tích khoa học nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về
SHCN và xác lập quyền SHCN, trong quá trình viết luận văn, tác giả còn sử
dụng hệ thống các văn bản pháp luật của Nhà nớc cũng nh những văn bản
hớng dẫn, cụ thể hóa của các cơ quan quản lý nhà nớc về vấn đề này.
Luận văn đã sử dụng các phơng pháp nghiên cứu chuyên ngành để
tiếp cận, làm sáng tỏ về mặt khoa học các vấn đề nghiên cứu tơng ứng với cơ
sở phơng pháp luận là triết học Mác - Lênin (đi từ những nội dung có tính lý
luận đến những vấn đề thực tiễn). Các phơng pháp nghiên cứu đợc sử dụng
bao gồm: phân tích, hệ thống hóa, so sánh, thống kê, tổng hợp

6
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

1.1. Khái quát chung về quyền sở hữu công nghiệp
1.1.1. Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp
Khái niệm quyền SHCN là một bộ phận cấu thành của một khái niệm
có nội hàm rộng hơn, đó là quyền SHTT. Do vậy, trớc khi đi vào nghiên cứu
nội dung khái niệm quyền SHCN, cần phải hiểu quyền SHTT là gì.
SHTT có thể đợc hiểu một cách chung nhất là những kết quả sáng tạo
trí tuệ mang tính vô hình nhng lại có ý nghĩa rất lớn khi đợc ứng dụng vào
các sản phẩm hữu hình; đó là những sản phẩm của quá trình sáng tạo khoa học -
công nghệ, văn học, nghệ thuật, khoa học... Thuật ngữ SHTT đợc hình thành
và đợc đề cập đến cùng với quá trình áp dụng trí tởng tợng và tri thức của
con ngời để đổi mới và sáng tạo. Ngày nay, thuật ngữ này đang đợc sử dụng
ngày càng rộng rãi trong đời sống xã hội.
Công ớc thành lập WIPO tại Stockholm ngày 14-7-1967 đã đa ra hệ
thống các đối tợng thuộc phạm trù SHTT đợc chấp nhận trên toàn thế giới,
bao gồm:
i) Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học;
ii) Cuộc biểu diễn của nghệ sĩ biểu diễn, bản ghi âm và cuộc phát sóng;
iii) Sáng chế thuộc mọi lĩnh vực nỗ lực của con ngời;
iv) Phát minh khoa học;
v) Kiểu dáng công nghiệp (KDCN);
vi) Nhãn hiệu, tên và chỉ dẫn thơng mại;
vii) Bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh;

8
viii) Tất cả các quyền khác là kết quả của hoạt động trí tuệ trong lĩnh
vực công nghiệp, khoa học, văn học và nghệ thuật.
Các lĩnh vực nêu tại điểm (i) và (ii) thuộc nhánh "Quyền tác giả", trong
đó các lĩnh vực thuộc điểm (ii) đợc gọi là "quyền liên quan (quyền kề cận)"
và các lĩnh vực nêu tại các điểm từ (iii) đến (vii) thuộc nhánh "Quyền sở hữu
công nghiệp".

Nhóm các thành quả sáng tạo khoa học - công nghệ: bao gồm sáng chế,
giải pháp hữu ích, KDCN, thông tin bí mật, thiết kế bố trí mạch tích hợp.
Nhóm các dấu hiệu đặc trng dùng để phân biệt: bao gồm nhãn hiệu,
chỉ dẫn địa lý, tên thơng mại. Những đối tợng này hàm chứa yếu tố sáng tạo
trí tuệ không đáng kể, không nổi trội nhng vẫn đợc coi là đối tợng SHTT
vì chúng chứa đựng những dấu hiệu có khả năng truyền tin tới ngời tiêu dùng
về sản phẩm, dịch vụ đang lu thông trên thị trờng. Việc bảo hộ các dấu hiệu
mang tính đặc trng này nhằm khuyến khích cạnh tranh lành mạnh và bảo vệ
quyền lợi ngời tiêu dùng.
Quyền SHCN đợc thừa nhận nhằm bảo hộ các thành quả sáng tạo trí tuệ
của con ngời. Với sự ghi nhận bảo hộ bởi cỡng chế nhà nớc, quyền SHCN trở
thành một loại quyền tài sản có giá trị lớn đối với chủ sở hữu. Ví dụ, có những
nhãn hiệu có thể trở thành tài sản lớn nhất mà một doanh nghiệp có thể chiếm
giữ [39, tr. 563]. Để bảo hộ quyền SHCN, mỗi quốc gia có một hệ thống bảo hộ
riêng phù hợp với các đặc điểm về kinh tế, chính trị và xã hội của mình.
Dới giác độ pháp lý, thuật ngữ "quyền sở hữu công nghiệp" đợc hiểu
theo hai nghĩa:
Theo nghĩa khách quan, quyền SHCN là một chế định pháp luật bao
gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát
sinh trong quá trình chiếm hữu, sử dụng, định đoạt các đối tợng SHCN đợc
Nhà nớc bảo hộ.

10
Theo nghĩa chủ quan, quyền SHCN là các quyền dân sự cụ thể của các
chủ sở hữu trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt các đối tợng SHCN.
Theo quy định của Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995, quyền SHCN đợc
hiểu là "quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân đối với sáng chế, giải pháp hữu
ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, quyền sử dụng đối với tên gọi
xuất xứ hàng hóa và quyền sở hữu đối với các đối tợng khác do pháp luật
quy định". "Các đối tợng khác" này đã đợc cụ thể hóa trong các Nghị định

SHCN mà nó phải đợc thể hiện thông qua một dạng vật chất hữu hình hoặc
một cách thức cụ thể nào đó để có thể bảo vệ đợc. Có thể xem xét, đánh giá
sự khác biệt của hai phạm trù này trên các khía cạnh sau:
- Về căn cứ xác lập quyền:
Quyền sở hữu tài sản hữu hình đợc xác lập trên cơ sở các sự kiện
pháp lý quy định trong BLDS. Quyền SHCN đối với hầu hết các đối tợng
SHCN đợc xác lập thông qua việc nộp đơn đăng ký và cấp văn bằng bảo hộ
hoặc có thể đợc xác lập một cách tự động nếu đối tợng SHCN đáp ứng
những tiêu chuẩn bảo hộ nhất định do pháp luật quy định.
- Về chủ thể quyền:
Chủ thể quyền sở hữu tài sản nói chung có thể là bất kỳ ai: cá nhân,
pháp nhân, tổ chức và cũng có thể là Nhà nớc - ngời chiếm hữu, sử dụng,
định đoạt tài sản hợp pháp. Trong khi đó, chủ thể quyền SHCN chỉ có thể là
những cá nhân, tổ chức, đáp ứng các điều kiện tơng ứng với từng loại đối
tợng SHCN theo quy định của pháp luật. Chẳng hạn, chủ sở hữu nhãn hiệu phải
là những ngời có hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc lĩnh vực đăng ký nhãn
hiệu; chủ ở hữu nhãn hiệu tập thể chỉ có thể là một tổ chức (hội, hiệp hội
ngành nghề); chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận chỉ có thể là cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền chứng nhận đối với loại sản phẩm mang nhãn hiệu.

12
- Về đối tợng quyền:
Đối tợng của quyền sở hữu tài sản nói chung là các loại vật chất hữu
hình có thể "cầm, nắm, giữ" đợc và một số quyền tài sản luôn xác định đợc
bằng một số lợng vật chất cụ thể. Trong khi đó, đối tợng của quyền SHCN
là những sản phẩm vô hình chỉ có thể đợc định tính, định lợng khi ứng dụng
vào các loại sản phẩm hữu hình hoặc các hoạt động cụ thể.
- Về phạm vi bảo hộ:
Quyền sở hữu đối với tài sản thông thờng đợc bảo hộ vô thời hạn và
chỉ chấm dứt khi có các căn cứ chấm dứt quyền sở hữu đợc ghi nhận trong

so sánh
Quyền sở hữu công nghiệp Quyền tác giả
Lịch sử
hình
thành
Xuất hiện nhằm giải quyết những nhiệm
vụ khoa học công nghệ, kỹ thuật, thơng
mại đặt ra trong quá trình sản xuất sản
phẩm công nghiệp bằng máy móc thay
cho phơng pháp thủ công truyền thống.
Do đó, gắn với trình độ phát triển của
lực lợng sản xuất.
Xuất hiện nhằm đáp ứng nhu cầu
về tinh thần, văn hóa, tình cảm,
nhận thức, hiểu biết của con ngời.
Do đó, đợc tiến hành song song
cùng với sự tiến triển của xã hội
loài ngời.
Lĩnh vực
áp dụng
Kinh tế, xã hội, khoa học, công nghệ.
Chủ yếu áp dụng trong lĩnh vực văn
học, nghệ thuật.
Đối
tợng
quyền
Các kết quả của hoạt động sáng tạo kỹ
thuật (sáng chế, giải pháp hữu ích, thông
tin bí mật, thiết kế bố trí mạch tích
hợp); hoạt động sáng tạo mỹ thuật ứng

của chủ sở hữu.
Thời hạn
bảo hộ
Thời hạn bảo hộ ngắn hơn so với thời
hạn bảo hộ quyền tác giả (5 năm đối
với KDCN, 10 năm đối với nhãn hiệu,
20 năm đối với sáng chế - có thể gia
hạn thêm 1 khoảng thời gian tơng ứng
với từng đối tợng).
Thời hạn bảo hộ dài hơn: thờng là
hết cuộc đời tác giả và 50 (hoặc 60,
70) năm sau khi tác giả qua đời;
một số quyền nhân thân của tác giả
đợc bảo hộ vô thời hạn (đặt tên tác
phẩm, đứng tên thật hoặc bút danh,
nêu tên thật hoặc bút danh khi tác

14
phẩm đợc công bố)
1.1.3. ý nghĩa của việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
Việc bảo hộ quyền SHCN có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ
đối với các chủ thể sáng tạo/chủ sở hữu quyền, đối với xã hội, cộng đồng nói
chung mà còn tác động đến quá trình phát triển của nền kinh tế đất nớc và
thúc đẩy phát triển hợp tác quốc tế.
- Đối với chủ thể sáng tạo/chủ sở hữu quyền:
Việc bảo hộ quyền SHCN cho các chủ thể sáng tạo và chủ sở hữu quyền
bởi cỡng chế nhà nớc nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của họ trong việc
khai thác, sử dụng đồng thời ngăn chặn hành vi khai thác, sử dụng đối tợng
SHCN mà không xin phép. Điều này góp phần khích lệ các chủ thể trong hoạt
động nghiên cứu và sáng tạo.

hộ quyền SHCN chính là một trong những cơ chế kiểm soát hữu hiệu nhằm
tạo điều kiện đảm bảo cho nền kinh tế phát triển trong một môi trờng kinh
doanh lành mạnh, có trật tự, đúng định hớng. Chính vì vậy, việc bảo hộ quyền
SHCN nhằm thiết lập và duy trì sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế.
Bên cạnh đó, bảo hộ quyền SHCN còn góp phần nâng cao trình độ nền
kinh tế. Xét từ góc độ kinh tế, trình độ phát triển của nền kinh tế quốc gia
đợc đo bằng chỉ số GDP (tổng sản phẩm quốc nội chia cho toàn bộ dân số
hay thu nhập bình quân theo đầu ngời), chính vì vậy, nâng cao GDP là một
trong những u tiên hàng đầu của các nhà hoạch định chính sách đặc biệt là
đối với các nớc đang phát triển. Để đạt đợc điều đó, việc cải tiến kỹ thuật,
phát triển khoa học - công nghệ đang đợc coi là những yếu tố quan trọng
thiết yếu hàng đầu. Kinh nghiệm của các quốc gia phát triển cho thấy chỉ khi
có cơ chế bảo hộ quyền SHCN hiệu quả thì mới có thể khuyến khích cải tiến
kỹ thuật và phát triển khoa học - công nghệ.

16
Ngoài ra, cơ chế bảo hộ SHCN ổn định và hoàn thiện cũng góp phần
quan trọng vào việc bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các nhà đầu t, từ đó thu
hút và khuyến khích đầu t nớc ngoài, thúc đẩy giao lu thơng mại quốc tế.
Thực tế cũng đã chỉ ra rằng hệ thống pháp luật về bảo hộ quyền SHCN hoàn
thiện có thể giúp cho nền kinh tế giữ đợc thế chủ động trong quá trình hội nhập.
- Đối với quá trình giao lu, hợp tác quốc tế
SHCN gắn liền với nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, do đó, việc mở
rộng hợp tác, trao đổi, giao lu quốc tế giữa các quốc gia, tổ chức quốc tế trong
bảo hộ SHCN cũng là cầu nối cho việc phát triển quan hệ hợp tác quốc tế trên
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nh: khoa học, công nghệ, văn hóa, giáo dục,
thơng mại Bảo hộ SHCN đợc coi là cầu nối thúc đẩy quá trình giao lu,
hợp tác quốc tế trên mọi lĩnh vực.
1.1.4. Sơ lợc lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về bảo
hộ quyền sở hữu công nghiệp và xác lập quyền sở hữu công nghiệp trên

Trong thời kỳ đầu hình thành hệ thống bảo hộ quyền SHCN, vấn đề
đăng ký xác lập quyền cha đợc đặt ra. Quyền SHCN đối với các thành quả
sáng tạo đợc coi là những "đặc quyền" và đơng nhiên đợc công nhận cùng
với quá trình sử dụng thành quả sáng tạo đó của chủ sở hữu. Sự phát triển đa
dạng, phức tạp của các hoạt động kinh tế làm nảy sinh ngày càng nhiều các
hình thức vi phạm, tranh chấp liên quan đến quyền SHCN với mức độ phức tạp
ngày càng tăng, thiệt hại của chủ sở hữu ngày càng lớn. Việc sử dụng đối
tợng SHCN làm phát sinh quyền của chủ sở hữu trên thực tế nhng khi tranh
chấp nảy sinh, chủ sở hữu không có căn cứ, cơ sở chứng minh mình thực sự là
ngời có quyền sở hữu đối với đối tợng đó. Điều này làm phát sinh nhu cầu
cần có sự ghi nhận bảo hộ, đăng ký quyền sở hữu và bảo đảm bởi cỡng chế
nhà nớc đối với quyền SHCN của các chủ thể nhằm ngăn chặn sự xâm phạm
của ngời khác đối với các đối tợng đợc bảo hộ. Và những đạo luật đầu tiên

18
quy định về đăng ký xác lập quyền SHCN đợc ra đời ở Châu Âu vào nửa cuối
thế kỷ XVIII (Pháp, Thụy Sĩ). Các quốc gia đã xây dựng những đạo luật chung
về bảo hộ SHTT hoặc những đạo luật riêng về bảo hộ từng đối tợng SHCN,
trong đó có nội dung quy định cụ thể về trình tự, thủ tục và các yêu cầu liên
quan đến đăng ký xác lập quyền SHCN.
Tiếp đó, nhằm đáp ứng các nhu cầu của thực tế phát sinh trong quá trình
hội nhập, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể sáng tạo trong việc đăng ký
bảo hộ các đối tợng SHCN ở nhiều quốc gia khác nhau, các nớc đã cùng nhau
tiến hành đàm phán xây dựng các ĐƯQT một mặt nhằm làm hài hòa hóa các
quy định về xác lập quyền SHCN trong pháp luật của các quốc gia mặt khác
từng bớc thiết lập một hệ thống xác lập quyền SHCN mang tính quốc tế.
b) ở Việt Nam
Việt Nam coi vấn đề bảo hộ SHTT nói chung và SHCN nói riêng nh
một nhân tố quan trọng của chính sách cải cách, mở cửa và xây dựng nhà
nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Từ những năm 80 của thế kỷ XX, Nhà

Trong khi đó, ở miền Nam, hệ thống bảo hộ SHCN đợc chú trọng hơn
với quan điểm thừa nhận quyền t hữu của chủ sở hữu đối với đối tợng
SHCN. Chính quyền Sài Gòn đã ban hành một số văn bản độc lập về bảo hộ
các đối tợng SHCN nh:
- Luật 12/57 ngày 1/8/1957 bảo hộ sáng chế;
- Luật 13/57 ngày 1/8/1957 bảo hộ nhãn hiệu;
- Luật 14/59 ngày 11/6/1959 về chống sản xuất hàng giả.
Các vấn đề liên quan đến đăng ký xác lập quyền đã đợc quy định cụ
thể, chi tiết trong các văn bản pháp luật và là yêu cầu bắt buộc đối với các chủ
thể nhằm chính thức ghi nhận sự bảo hộ từ phía nhà nớc đối với quyền SHCN

20
của chủ sở hữu.
Giai đoạn từ 1981-1988:
Hệ thống bảo hộ SHCN giai đoạn này đợc áp dụng theo mô hình phổ
biến ở các nớc xã hội chủ nghĩa có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, đó là
sự bảo hộ chủ yếu nhằm vào các quyền tinh thần hơn là các quyền tài sản của
ngời sáng tạo. Cơ chế "dùng lợi ích vật chất làm động lực thúc đẩy hoạt động
sáng tạo trí tuệ" hầu nh cha đợc áp dụng. Biện pháp bảo hộ chủ yếu và
dờng nh duy nhất là biện pháp hành chính. "Sản phẩm sáng tạo trí tuệ đợc
coi là sản phẩm phục vụ cho xã hội, quyền t hữu và các lợi ích kinh tế đối với
các sản phẩm đó của tác giả hầu nh không đợc chấp nhận. Tác giả của sản
phẩm chỉ có thể đợc thởng hoặc ghi công mà thôi" [32, tr. 4].
Cũng giống nh quy luật phát triển của pháp luật về bảo hộ SHCN trên
thế giới, sáng chế là đối tợng SHCN đợc ghi nhận bảo hộ đầu tiên theo quy
định của pháp luật Việt Nam (Nghị định 31/CP ngày 28/1/1981 về sáng kiến,
cải tiến kỹ thuật - hợp lý hóa sản xuất). Tuy nhiên, theo nghị định này, quyền
sở hữu đối với sáng chế lại thuộc về Nhà nớc, hay nói cách khác, sáng chế
đợc công hữu hóa, tác giả sáng chế chỉ đợc hởng các quyền nhân thân và
một phần vật chất mang tính tợng trng dới dạng tiền thởng.

chuyển dần hệ thống bảo hộ SHCN mang đặc trng của nền kinh kế tập
trung sang tiếp cận hệ thống SHCN hiện đại với đặc trng của nền kinh tế thị
trờng cạnh tranh. Pháp lệnh bảo hộ quyền SHCN ra đời xóa bỏ hình thức
công hữu đối với sáng chế thay vào đó là chế độ t hữu, đồng thời mở rộng
đối tợng bảo hộ bao gồm cả tên gọi xuất xứ (TGXX). Trong giai đoạn này,
đã có khoảng 50 văn bản pháp lý đợc ban hành quy định một cách khá đầy
đủ, cụ thể và toàn diện về phạm vi, nội dung bảo hộ quyền SHCN cũng nh
trình tự, thủ tục xác lập quyền SHCN tại Việt Nam. Các văn bản này đã tạo

22
nên một hệ thống pháp luật về SHCN tơng đối hoàn chỉnh, đồng bộ ở Việt
Nam. Chúng thể hiện đợc định hớng mới của pháp luật trong bớc chuyển
sang nền kinh tế thị trờng. Quyền SHCN đợc công nhận bảo hộ là một loại
quyền tài sản và đợc tự do khai thác, chuyển giao nh một đối tợng của
giao dịch dân sự.
Về hoạt động xác lập quyền SHCN, Cục Sáng chế đợc đổi tên thành
Cục SHCN cho phù hợp với phạm vi chức năng, nhiệm vụ đối với tất cả các
đối tợng SHCN. Cục SHCN là cơ quan duy nhất có thẩm quyền tiến hành các
thủ tục đăng ký xác lập quyền đối với các đối tợng SHCN. Các quy định về
trình tự, thủ tục xác lập quyền SHCN đợc quy định một cách cụ thể, rõ ràng
hơn tơng ứng với từng loại đối tợng SHCN.
Giai đoạn này đã hình thành mạng lới các cơ quan quản lý nhà nớc
về SHCN trên toàn quốc đặt trong hệ thống quản lý khoa học, công nghệ và
môi trờng. Các cơ quan này bên cạnh chức năng quản lý nhà nớc về SHCN
còn có trách nhiệm, thẩm quyền hớng dẫn, hỗ trợ các chủ thể trong quá trình
tiến hành các thủ tục xác lập quyền SHCN.
Giai đoạn từ 1995 đến nay:
Giai đoạn này đợc đánh giá là giai đoạn hệ thống SHCN Việt Nam
hớng tới một hệ thống SHCN đầy đủ, và hiệu quả theo yêu cầu của WTO.
BLDS 1995 đợc ban hành trong đó có một phần độc lập quy định về SHTT

ngày 30-12-2004.
Sự ra đời của BLDS ngày 14-6-2005 (trong đó có Phần thứ 6 quy định
về Quyền SHTT và chuyển giao công nghệ) và Luật SHTT ngày 19/11/2005
đợc coi là sự kiện đánh dấu bớc phát triển mới của hệ thống SHTT Việt
Nam. Hệ thống xác lập quyền SHCN theo đó cũng đợc nâng lên một bớc
phát triển mới theo hớng hệ thống hóa, nhất thể hóa và hài hòa với các quy

24
định và thông lệ quốc tế. Lần đầu tiên các quy định về bảo hộ SHCN nói
chung và xác lập quyền SHCN nói riêng đợc tập trung, thống nhất và thể
hiện trong một đạo luật độc lập.
Bên cạnh việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia,
Việt Nam cũng là một trong những quốc gia tham gia các ĐƯQT về SHTT
trong đó có các ĐƯQT về xác lập quyền SHCN từ rất sớm:
- Tham gia công ớc Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp ngày 8-3-1949;
- Tham gia Thỏa ớc Madid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa
ngày 8-3-1949;
- Tham gia Công ớc Stockholm về thành lập Tổ chức SHTT thế giới
và trở thành thành viên của tổ chức này ngày 2-7-1976;
- Gia nhập Hiệp ớc Washington về SHTT đối với mạch tích hợp ngày
10-3-1993;
- Gia nhập Hiệp ớc hợp tác sáng chế PCT ngày 10-3-1993;
Hiện nay, Việt Nam vẫn đang trong tiến trình xây dựng một hệ thống
pháp luật SHCN trong đó có cơ chế xác lập quyền SHCN đầy đủ và hiệu quả,
đáp ứng các yêu cầu, đòi hỏi và thực thi các cam kết quốc tế.
1.2. Khái quát chung về xác lập quyền sở hữu công nghiệp
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của xác lập quyền sở hữu
công nghiệp
a) Khái niệm
Với tính chất là một loại quyền sở hữu, quyền SHCN chỉ phát sinh và

ký trong thời hạn, phạm vi tơng ứng. Quyền SHCN đối với các đối tợng
này đợc xác lập theo quyết định cấp văn bằng bảo hộ đó của cơ quan có
thẩm quyền.

Trích đoạn Xác lập quyền sở hữu công nghiệp theo nguyên tắc đăng ký tại cơ quan nhà n−ớc có thẩm quyền Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về xác lập quyền sở hữu công nghiệp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status