Xác lập quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam - Pdf 25



1
MC LC

Trang
Danh mc cỏc ch vit tt
i
Danh mc cỏc thut ng ting Anh
ii
M U

1. Lý do la chn ti
4
2. Tỡnh hỡnh nghiờn cu cú liờn quan n ti
5
3. Mc ớch, nhim v nghiờn cu ca ti
6
4. Phm vi nghiờn cu ca ti
7
5. Phng phỏp nghiờn cu ca ti
7
6. í nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
7
7. Kết cấu của luận văn
8
Ch-ơng I: Khái quát chung về quyền sở hữu công nghiệp và xác lập quyền
sở hữu công nghiệp

1.1. Khái quát chung về quyền sở hữu công nghiệp
9

1.3.1.2. Các Điều -ớc quốc tế Việt Nam ch-a tham gia
43
1.3.2. Hệ thống xác lập quyền sở hữu công nghiệp của của một số n-ớc
trên thế giới
47
Ch-ơng II: Hệ thống xác lập quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của
pháp luật Việt Nam thực trạng và những vấn đề đặt ra

2.1. Xác lập quyền sở hữu công nghiệp theo nguyên tắc tự động
51
2.1.1. Xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh
51
2.1.2. Xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với Chỉ dẫn địa lý
53
2.1.3. Xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với Tên th-ơng mại
55
2.1.4. Xác lập quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở
hữu công nghiệp
56
2.2. Xác lập quyền sở hữu công nghiệp theo nguyên tắc đăng ký bảo hộ tại cơ
quan nhà n-ớc có thẩm quyền
57
2.2.1. Đối t-ợng sở hữu công nghiệp và các tiêu chuẩn bảo hộ
58
2.2.2. Quyền nộp đơn đăng ký bảo hộ sở hữu công nghiệp
61
2.2.3. Thực hiện quyền nộp đơn đăng ký bảo hộ sở hữu công nghiệp
64
2.2.4. Xác định ngày nộp đơn hợp lệ
65

98
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLDS : Bộ luật Dân sự
ĐƯQT : Điều ước quốc tế
KDCN : Kiểu dáng công nghiệp
SHCN : Sở hữu công nghiệp
SHTT : Sở hữu trí tuệ
TGXX : Tên gọi xuất xứ
DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ TIẾNG ANH
TT
Chữ viết tắt
Nguyên văn tiếng Anh
Nghĩa tếng Việt
1
AFTA
Asian Free Trade Area
Khu vực mậu dịch tự do
ASEAN
2
ARIPO
African Regional Industrial
Property Organization
Tổ chức SHCN Khu vực
châu Phi

Indication
Chỉ dẫn địa lý được bảo hộ
9
PLT
Patent Law Treaty
Hiệp ước Luật Sáng chế
10
TLT
Trademark Law Treaty
Hiệp ước Luật Nhãn hiệu
hàng hoá
11
TRIPS
Trade related aspects of
Intellectual Property
Hiệp định về các khía cạnh
thương mại của quyền sở hữu
trí tuệ
12
WIPO
World Intellectual Property
Organization
Tổ chức SHTT thế giới
13
WTO
World Trade Organization
Tổ chức Thương mại thế giới


2
Hiệp định về các khía cạnh thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ
(TRIPS). Ngoài ra, Việt Nam cũng cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật
SHTT của mình để phù hợp với các Hiệp định, Hiệp ước song phương và
đa phương mà Việt Nam sẽ tham gia trong thời gian tới.
Vào thời điểm nộp đơn gia nhập WTO (1995), hệ thống pháp luật
SHTT của Việt Nam bị đánh giá là còn nhiều điểm “chưa phù hợp và thiếu
hụt lớn so với TRIPS” và “chưa phải là một hệ thống đầy đủ và hiệu quả”
[2]. Để cải thiện tình hình này và cũng nhằm bảo đảm thi hành các nghĩa vụ
quốc tế, Việt Nam đã xây dựng một Chương trình hành động về SHTT khá
cụ thể và nhất quán nhằm hoàn thiện cơ chế bảo hộ SHTT. Với những nỗ
lực to lớn trong việc thực hiện Chương trình hành động về SHTT, cho tới
nay có thể nói rằng về cơ bản các mục tiêu quan trọng nhất đã đạt được làm
cho hệ thống pháp luật SHTT của Việt Nam có những bước tiến đáng kể.
Một trong những kết quả đáng nói nhất là Luật SHTT đã được Quốc hội
khoá IX thông qua ngày 19/11/2005 tại kỳ họp thứ 8 và sẽ có hiệu lực ngày
1/7/2006.
Trong cơ chế bảo hộ quyền SHTT nói chung và quyền SHCN nói
riêng việc xác lập quyền là điều kiện tiên quyết. Để được Nhà nước bảo hộ,
trước hết quyền phải được thừa nhận. Quyền SHCN có thể được xác lập
một cách tự động hoặc trên cơ sở đăng ký bảo hộ tại cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền theo trình tự, thủ tục luật định. Là một nội dung thuộc cơ chế
bảo hộ SHTT, vấn đề xác lập quyền SHCN của Việt Nam hiện nay cũng
đang trong giai đoạn xây dựng và hoàn thiện theo hướng hài hoà hoá với
các yêu cầu của TRIPS và các Hiệp định, Hiệp ước, Công ước quốc tế khác
mà Việt Nam đã hoặc đang dự định ký kết, tham gia.
Là một học viên chuyên ngành Luật Dân sự, hiện đang công tác tại
Cục SHTT - cơ quan có chức năng xác lập quyền SHCN, học viên lựa chọn
đề tài “Xác lập quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật

thiện pháp luật về bảo hộ tên thương mại, Tạp chí Khoa học - Đại học 4
Quốc gia Hà Nội, số 4/2002; Một số vấn đề về bảo hộ bí mật kinh doanh và
hoàn thiện pháp luật bảo hộ bí mật kinh doanh ở Việt Nam, Tạp chí Khoa
học - Đại học Quốc gia Hà Nội, số 3/2004; bài viết Một số vấn đề về nhãn
hiệu nổi tiếng của tác giả Nguyễn Như Quỳnh, Tạp chí Luật học, số
2/2001…
Các tài liệu nước ngoài khá nhiều, nổi bật như: cuốn Cẩm nang sở
hữu trí tuệ: chính sách, pháp luật và áp dụng (IP Law handbook: policy,
law and use) Nxb WIPO, 2000 (Bản dịch tiếng Việt của Cục Sở hữu trí tuệ,
2005); cuốn Sở hữu trí tuệ – một công cụ đắc lực để phát triển kinh tế
(Intellectual property- a power tool for economic growth) của Kamil Idis,
Nxb WIPO, 1999 (Bản dịch tiếng Việt của Cục Sở hữu trí tuệ, 2005).
Ngoài ra, còn có các dự án quốc tế nghiên cứu về hệ thống xác lập quyền
của các nước trong các khu vực: ASEAN, APEC, EU.
Tuy nhiên chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào đi sâu
phân tích về hệ thống xác lập quyền SHCN theo quy định của pháp luật
Việt Nam. Do đó, việc nghiên cứu đề tài Xác lập quyền SHCN theo quy
định của pháp luật Việt Nam không bị trùng lặp với các công trình đã công
bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
a. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về SHCN và hệ
thống xác lập quyền SHCN cùng với việc phân tích luật thực định và thực
trạng của hoạt động xác lập quyền SHCN ở Việt Nam, tác giả đưa ra những
đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế và hệ thống xác lập quyền
SHCN ở Việt Nam từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động xác lập quyền.
b. Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành để
tiếp cận, làm sáng tỏ về mặt khoa học các vấn đề nghiên cứu tương ứng với
cơ sở phương pháp luật là triết học Mác – Lênin (đi từ những nội dung có 6
tính lý luận vế những vấn đề thực tiễn). Các phương pháp nghiên cứu được
sử dụng bao gồm: phân tích, hệ thống hoá, so sánh, thống kê, tổng hợp…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sau:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về xác lập quyền SHCN;
- Làm rõ tiến trình phát triển của pháp luật về bảo hộ quyền SHCN và
xác lập quyền SHCN trên thế giới và ở Việt Nam qua đó làm sáng tỏ tính
kế thừa và phát triển của các quy định pháp luật về vấn đề này;
- Phân tích, đánh giá về hệ thống xác lập quyền SHCN theo quy định
của các Điều ước quốc tế và của một số nước trên thế giới;
- Đưa ra một bức tranh toàn cảnh về thực trạng hoạt động xác lập
quyền SHCN theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, chỉ ra
những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của vấn đề đồng thời đánh giá, so
sánh các quy định mới trong Luật SHTT về các vấn đề liên quan đến xác
lập quyền SHCN;
- Đưa ra những kiến nghị, đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt
động xác lập quyền SHCN và những kiến nghị đề xuất cụ thể về trình tự,
thủ tục xác lập quyền SHCN .
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục văn bản pháp luật, danh mục
tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Khái quát chung về quyền sở hữu công nghiệp và xác lập
quyền sở hữu công nghiệp.
Chương II: Hệ thống xác lập quyền sở hữu công nghiệp theo quy định

thống các đối tượng thuộc phạm trù SHTT được chấp nhận trên toàn thế
giới, bao gồm:
i) Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học
ii) Cuộc biểu diễn của nghệ sỹ biểu diễn, bản ghi âm và cuộc phát
sóng
iii) Sáng chế thuộc mọi lĩnh vực nỗ lực của con người
iv) Phát minh khoa học
v) Kiểu dáng công nghiệp
vi) Nhãn hiệu, tên và chỉ dẫn thương mại
vii) Bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh
viii) Tất cả các quyền khác là kết quả của hoạt động trí tuệ trong lĩnh
vực công nghiệp, khoa học, văn học và nghệ thuật. 9
Các lĩnh vực nêu tại điểm (i) và (ii) thuộc nhánh Quyền tác giả, trong
đó các lĩnh vực thuộc điểm (ii) được gọi là quyền liên quan (quyền kề
cận) và các lĩnh vực nêu tại các điểm từ (iii) đến (vii) thuộc nhánh
Quyền sở hữu công nghiệp.
Như vậy, một cách truyền thống, quyền SHTT được hiểu là bao gồm
hai nội dung, đó là "quyền tác giả" và "quyền sở hữu công nghiệp".
Quyền tác giả đề cập đến quyền của người sáng tạo trí tuệ trong lĩnh
vực văn học -nghệ thuật, khoa học. Những sáng tạo được bảo hộ quyền tác
giả là những sáng tạo trong việc lựa chọn và sắp xếp từ ngữ, nốt nhạc, màu
sắc và hình khối. Luật về quyền tác giả bảo hộ chủ sở hữu quyền đối với
những tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học nhằm chống lại việc sao
chép, sử dụng hình thức của tác phẩm nguyên gốc đã được bảo hộ. Các đối
tượng có thể được bảo hộ quyền tác giả là các tác phẩm văn học, nghệ
thuật, âm nhạc, tạo hình, phát thanh, truyền hình, hệ thống lưu trữ và truy
cập thông tin trong máy tính Tuy nhiên, luật về quyền tác giả chỉ bảo hộ

mạnh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Quyền SHCN được thừa nhận nhằm bảo hộ các thành quả sáng tạo trí
tuệ của con người. Với sự ghi nhận bảo hộ bởi cưỡng chế nhà nước, quyền
SHCN trở thành một loại quyền tài sản có giá trị lớn đối với chủ sở hữu. Để
bảo hộ quyền SHCN, mỗi quốc gia có một hệ thống bảo hộ riêng phù hợp với
các đặc điểm về kinh tế, chính trị và xã hội của mình.
Dưới giác độ pháp lý, thuật ngữ “quyền SHCN” được hiểu theo hai
nghĩa:
Theo nghĩa khách quan, quyền SHCN là một chế định pháp luật bao
gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội
phát sinh trong quá trình tạo dựng, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt các đối
tượng SHCN được Nhà nước bảo hộ.
Theo nghĩa chủ quan, quyền SHCN là các quyền dân sự cụ thể của
các chủ sở hữu trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt các đối tượng 11
SHCN.
Theo quy định của BLDS năm 1995, quyền SHCN được hiểu là
“quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân đối với sáng chế, giải pháp hữu ích,
kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, quyền sử dụng đối với tên gọi
xuất xứ hàng hoá và quyền sở hữu đối với các đối tượng khác do pháp luật
quy định”. “Các đối tượng khác” này đã được cụ thể hoá trong các Nghị
định hướng dẫn thi hành BLDS (Nghị định 54/2000/NĐ-CP và
42/2003/NĐ-CP), bao gồm: chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh, tên thương
mại, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh và thiết kế bố trí mạch tích
hợp bán dẫn.
BLDS năm 2005 thay thế BLDS 1995 nêu trên quy định về quyền
SHCN theo hướng liệt kê các đối tượng quyền: “Đối tượng quyền SHCN
bao gồm: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp

- Về căn cứ xác lập quyền:
Quyền SHCN được xác lập theo những căn cứ cụ thể dưới những hình
thức nhất định theo quy định của pháp luật khác với các căn cứ xác lập
quyền sở hữu tài sản hữu hình. Quyền SHCN được xác lập thông qua việc
nộp đơn đăng ký và cấp văn bằng bảo hộ hoặc có thể được xác lập một
cách tự động nếu đối tượng SHCN đáp ứng những tiêu chuẩn bảo hộ nhất
định do pháp luật quy định.
- Về chủ thể quyền:
Chủ thể quyền sở hữu tài sản nói chung có thể là bất kỳ ai: cá nhân,
pháp nhân, tổ chức và cũng có thể là Nhà nước - người chiếm hữu, sử
dụng, định đoạt tài sản hợp pháp; Trong khi đó, chủ thể quyền SHCN chỉ
có thể là những cá nhân, tổ chức thoả mãn, đáp ứng các điều kiện tương
ứng với từng loại đối tượng SHCN theo quy định của pháp luật. Chẳng hạn,
chủ sở hữu nhãn hiệu phải là những người có hoạt động sản xuất kinh
doanh thuộc lĩnh vực đăng ký nhãn hiệu; chủ ở hữu nhãn hiệu tập thể chỉ
có thể là một tổ chức (hội, hiệp hội ngành nghề); chủ sở hữu nhãn hiệu 13
chứng nhận chỉ có thể là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chứng nhận đối
với loại sản phẩm mang nhãn hiệu.
- Về đối tượng quyền:
Đối tượng của quyền sở hữu tài sản nói chung là các loại vật chất hữu
hình có thể “cầm, nắm, giữ” được và một số quyền tài sản luôn xác định
được bằng một số lượng vật chất cụ thể. Trong khi đó, đối tượng của quyền
SHCN là những sản phẩm vô hình chỉ có thể được định tính, định lượng
khi ứng dụng vào các loại sản phẩm hữu hình hoặc các hoạt động cụ thể.
- Về phạm vi bảo hộ:
Quyền sở hữu đối với tài sản thông thường được bảo hộ vô thời hạn
và chỉ chấm dứt khi có các căn cứ chấm dứt quyền sở hữu được ghi nhận

năng cơ bản nhất và sự giới hạn về thời gian và không gian bảo hộ…Tuy
nhiên, có thể phân biệt hai lĩnh vực này thông qua những đặc điểm chủ yếu
sau:
Tiêu chí
so sánh
Quyền sở hữu công nghiệp
Quyền tác giả
Lịch sử
hình thành
Xuất hiện nhằm giải quyết những nhiệm
vụ khoa học công nghệ, kỹ thuật, thương
mại đặt ra trong quá trình sản xuất sản
phẩm công nghiệp bằng máy móc thay
cho phương pháp thủ công truyền thống.
Do đó, gắn với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất.
Xuất hiện nhằm đáp ứng nhu cầu về
tinh thần, văn hoá, tình cảm, nhận
thức, hiểu biết của con người. Do đó,
được tiến hành song song cùng với sự
tiến triển của xã hội loài người.
Lĩnh vực
áp dụng
Kinh tế, xã hội, khoa học, công nghệ.
Chủ yếu áp dụng trong lĩnh vực văn
học, nghệ thuật.
Đối
tượng
quyền
Các kết quả của hoạt động sáng tạo kỹ

sáng tạo.
- Thông thường chú trọng bảo hộ
quyền của tác giả hơn so với quyền
của chủ sở hữu.
Thời hạn
bảo hộ
- Thời hạn bảo hộ ngắn hơn so với thời
hạn bảo hộ quyền tác giả (5 năm đối với
KDCN, 10 năm đối với nhãn hiệu, 20
năm đối với sáng chế - có thể gia hạn
thêm 1 khoảng thời gian tương ứng với
từng đối tượng).
- Thời hạn bảo hộ dài hơn: thường là
hết cuộc đời tác giả và 50 (hoặc 60,
70) năm sau khi tác giả qua đời; một
số quyền nhân thân của tác giả được
bảo hộ vô thời hạn (đặt tên tác phẩm,
đứng tên thật hoặc bút danh, nêu tên
thật hoặc bút danh khi tác phẩm được
công bố…)

1.1.3. Ý nghĩa của việc bảo hộ quyến sở hữu công nghiệp
Việc bảo hộ quyền SHCN có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ
đối với các chủ thể sáng tạo/chủ sở hữu quyền, đối với xã hội, cộng đồng
nói chung mà còn tác động đến quá trình phát triển của nền kinh tế đất
nước và thúc đẩy phát triển hợp tác quốc tế.
- Đối với chủ thể sáng tạo/chủ sở hữu quyền:
Việc bảo hộ quyền SHCN cho các chủ thể sáng tạo và chủ sở hữu
quyền bởi cưỡng chế nhà nước nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của
họ trong việc khai thác, sử dụng đồng thời ngăn chặn hành vi khai thác, sử

Sự vận hành và phát triển của nền kinh tế luôn tiềm ẩn trong nó
những hiện tượng trục lợi bất hợp pháp, nếu không có cơ chế kiểm soát,
các hiện tượng này sẽ là lực cản đối với sự phát triển của nền kinh tế [37,
tr.137]. Bảo hộ quyền SHCN chính là một trong những cơ chế kiểm soát
hữu hiệu nhằm tạo điều kiện đảm bảo cho nền kinh tế phát triển trong một
môi trường kinh doanh lành mạnh, có trật tự, đúng định hướng. Chính vì vậy,
việc bảo hộ quyền SHCN nhằm thiết lập và duy trì sự phát triển lành mạnh
của nền kinh tế.
Bên cạnh đó, bảo hộ quyền SHCN còn góp phần nâng cao trình độ
nền kinh tế. Xét từ góc độ kinh tế, trình độ phát triển của nền kinh tế quốc
gia được đo bằng chỉ số GDP (tổng sản phẩm quốc nội chia cho toàn
bộ dân số hay thu nhập bình quân theo đầu người), chính vì vậy, nâng 17
cao GDP là một trong những ưu tiên hàng đầu của các nhà hoạch định
chính sách đặc biệt là đối với các nước đang phát triển. Để đạt được
điều đó, việc cải tiến kỹ thuật, phát triển khoa học - công nghệ đang
được coi là những yếu tố quan trọng thiết yếu hàng đầu. Kinh nghiệm
của các quốc gia phát triển cho thấy chỉ khi có cơ chế bảo hộ quyền
SHCN hiệu quả thì mới có thể khuyến khích cải tiến kỹ thuật và phát
triển khoa học - công nghệ.
Ngoài ra, cơ chế bảo hộ SHCN ổn định và hoàn thiện cũng góp phần
quan trọng vào việc bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các nhà đầu tư, từ đó thu
hút và khuyến khích đầu tư nước ngoài, thúc đẩy giao lưu thương mại quốc tế.
Thực tế cũng đã chỉ ra rằng hệ thống pháp luật về bảo hộ quyền SHCN hoàn thiện
có thể giúp cho nền kinh tế giữ được thế chủ động trong quá trình hội nhập.
- Đối với quá trình giao lưu, hợp tác quốc tế
SHCN gắn liền với nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, do đó, việc
mở rộng hợp tác, trao đổi, giao lưu quốc tế giữa các quốc gia, tổ chức quốc

Trong thế kỷ XIX đã xuất hiện những trào lưu tự do mậu dịch đòi huỷ
bỏ hệ thống bảo hộ SHCN nhưng làn sóng mạnh mẽ của chủ nghĩa dân tộc -
đặc trưng cho thời kỳ đó - đã ngăn chặn trào lưu này và đóng một vai trò quan
trọng trong việc duy trì và đưa vào áp dụng hệ thống pháp luật SHTT hiện đại.
Từ đó đến nay, vấn đề bảo hộ quyền SHCN vẫn không ngừng vận
động và phát triển theo hướng mở rộng các quyền năng cho chủ sở hữu, mở
rộng phạm vi các đối tượng được bảo hộ. Vấn đề bảo hộ SHCN không còn
chỉ là vấn đề của từng quốc gia riêng lẻ mà nó đã trở thành vấn đề mang
tính toàn cầu [38, tr.126].
Trong thời kỳ đầu hình thành hệ thống bảo hộ quyền SHCN, vấn đề
đăng ký xác lập quyền chưa được đặt ra. Quyền SHCN đối với các thành
quả sáng tạo được coi là những “đặc quyền” và đương nhiên được công
nhận cùng với quá trình sử dụng thành quả sáng tạo đó của chủ sở hữu. Sự
phát triển đa dạng, phức tạp của các hoạt động kinh tế làm nảy sinh ngày 19
càng nhiều các hình thức vi phạm, tranh chấp liên quan đến quyền SHCN
với mức độ phức tạp ngày càng tăng, thiệt hại của chủ sở hữu ngày càng
lớn. Việc sử dụng đối tượng SHCN làm phát sinh quyền của chủ sở hữu
trên thực tế nhưng khi tranh chấp nảy sinh, chủ sở hữu không có căn cứ,
cơ sở chứng minh mình thực sự là người có quyền sở hữu đối với đối
tượng đó. Điều này làm phát sinh nhu cầu cần có sự ghi nhận bảo hộ,
đăng ký quyền sở hữu và bảo đảm bởi cưỡng chế nhà nước đối với quyền
SHCN của các chủ thể nhằm ngăn chặn sự xâm phạm của người khác đối
với các đối tượng được bảo hộ. Và những đạo luật đầu tiên quy định về
đăng ký xác lập quyền SHCN được ra đời ở Châu Âu vào nửa cuối Thế kỷ
XVIII (Pháp, Thuỵ Sĩ). Các quốc gia đã xây dựng những đạo luật chung
về bảo hộ SHTT hoặc những đạo luật riêng về bảo hộ từng đối tượng
SHCN, trong đó có nội dung quy định cụ thể về trình tự, thủ tục và các yêu

minh;
- Nghị quyết số 175/TTg ngày 3/4/1958 của Thủ tướng Chính phủ
quy định về nhãn hiệu thương phẩm;
- Chỉ thị 105/TTg ngày 11/03/1959 của Thủ tướng Chính phủ về tổ
chức lãnh đạo phong trào cải tiến kỹ thuật, sáng kiến, phát minh của quần
chúng;
- Nghị định ngày 8/2/1965 của Hội đồng Chính phủ về khen thưởng
sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, cải tiến nghiệp vụ công tác.
Ở Miền Bắc, thời kỳ này chưa hình thành một hệ thống bảo hộ
quyền SHCN theo đúng nghĩa. Quyền tư hữu đối với các đối tượng
SHCN không được chấp nhận bảo hộ với lập luận cho rằng các sáng
tạo của trí tuệ con người thuộc sở hữu chung của toàn xã hội. Các tác
giả, đồng tác giả chỉ được hưởng một số lợi ích mang ý nghĩa khuyến
khích mà không có độc quyền đối với các đối tượng do họ sáng tạo
ra. Chính vì vậy, hoạt động đăng ký xác lập quyền cũng không được
đặt ra và hầu như không được quan tâm.

Trích đoạn Hệ thống xỏc lập quyền sở hữu cụng nghiệp của Cộng đồng Chõu Âu Hệ thống xỏc lập quyền SHCN của Mỹ Xỏc lập quyền sở hữu cụng nghiệp đối với bớ mật kinh doanh Xỏc lập quyền sở hữu cụng nghiệp đối với Chỉ dẫn địa lý: Xỏc lập quyền SHCN đối với tờn thƣơng mạ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status