Hợp đồng chuyển giao công nghệ theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành - Pdf 25

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy,
chính xác và trung thực. Những kết luận khoa
học của luận văn chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN Nguyễn Danh Sơn

MỤC LỤC

1.1.1.2.
Vai trò của công nghệ
13
1.1.2.
Một số vấn đề lý luận cơ bản về chuyển giao công nghệ
15
1.1.2.1.
Khái niệm chuyển giao công nghệ
15
1.1.2.2.
Phân loại chuyển giao công nghệ
17
1.2.
Những vấn đề cơ bản về hợp đồng chuyển giao công nghệ
22
1.2.1.
Khái niệm và những đặc trưng của hợp đồng chuyển giao
công nghệ
22
1.2.2.
Phân loại hợp đồng chuyển giao công nghệ
28
1.2.2.1
Phân loại theo tính độc lập của hợp đồng chuyển giao công
nghệ
28
1.2.2.2.
Phân loại theo thủ tục hành chính liên quan
29
1.2.3.

Sự hình thành và phát triển của pháp luật về hợp đồng
chuyển giao công nghệ ở Việt Nam
41
2.1.1.
Các giai đoạn phát triển của pháp luật về hợp đồng chuyển
giao công nghệ
41
2.1.2.
Mối quan hệ giữa các văn bản pháp luật điều chỉnh về hợp
đồng chuyển giao công nghệ
47
2.2.
Nội dung cơ bản của pháp luật hiện hành về hợp đồng chuyển
giao công nghệ
50
2.2.1.
Các điều khoản chủ yếu của hợp đồng chuyển giao công nghệ
50
2.2.1.1.
Đối tượng chuyển giao công nghệ
50
2.2.1.2.
Phương thức chuyển giao công nghệ
56
2.2.1.3.
Những quy định về giá cả và phương thức thanh toán
58
2.2.1.4.
Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng chuyển
giao công nghệ

3.2.
Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng
chuyển giao công nghệ
91
3.2.1.
Những kiến nghị nhằm sửa đổi, bổ sung pháp luật về hợp
đồng chuyển giao công nghệ
91
3.2.2.
Những kiến nghị nhằm đảm bảo thực hiện pháp luật về hợp
đồng chuyển giao công nghệ
97

kết luận
100

danh mục tài liệu tham khảo
101 1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập, việc Việt Nam đã chính thức
gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã mở ra nhiều cơ hội kinh
doanh thuận lợi và tăng khả năng thâm nhập thị trường các nước thành viên
cho các doanh nghiệp của Việt Nam, là chìa khóa để đưa nền kinh tế Việt
Nam tiếp tục hội nhập với kinh tế quốc tế. Trong hơn một năm kể từ ngày
Quốc hội Việt Nam phê chuẩn Nghị định thư gia nhập WTO vào ngày

chuyển giao công nghệ nói chung và quá trình đàm phán, ký kết và thực hiện
hợp đồng chuyển giao công nghệ nói riêng. Các văn bản pháp luật này, bên
cạnh việc quy định điều chỉnh các vấn đề có tính nguyên tắc về chuyển giao
công nghệ, đều luôn dành những điều khoản điều chỉnh các vấn đề liên quan
hợp đồng chuyển giao công nghệ như nội dung hợp đồng chuyển giao công
nghệ, các vấn đề liên quan đến đăng ký đến đăng ký, phê chuẩn hợp đồng
chuyển giao công nghệ v.v , tạo cơ sở pháp lý bảo đảm các quyền và lợi ích
của các bên có liên quan trong giao dịch. Tuy nhiên, do thực tiễn và yêu cầu
vào thời điểm ban hành các văn bản pháp quy nói trên đã có nhiều thay đổi và
không còn phù hợp với hiện tại. Kế thừa và khắc phục các thiếu sót của các
quy định pháp luật trước đó, Luật Chuyển giao công nghệ đã được ban hành
vào ngày 22/11/2006 và có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2007, đã đáp ứng ngày
càng tốt hơn các yêu cầu đặt ra từ thực tiễn.
Nghiên cứu và làm sáng tỏ bản chất các vấn đề liên quan đến hợp
đồng chuyển giao công nghệ - loại hợp đồng có đối tượng rất đặc thù là công
nghệ dưới cả góc độ pháp lý và thực tiễn sẽ góp phần làm sáng tỏ nội dung
các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chuyển giao công nghệ,
đồng thời có những đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn các quy định của
pháp luật Việt Nam về vấn đề này, từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của
thị trường chuyển giao công nghệ nói riêng và kinh tế Việt Nam nói chung.
Trong khuôn khổ của chương trình đào tạo cao học luật và tính cấp thiết của
các vấn đề như đã trình bày trên đây, người viết đã chọn đề tài "Hợp đồng

3
chuyển giao công nghệ theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành"
làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Tình hình nghiên cứu và điểm mới của đề tài
Nghiên cứu về hợp đồng chuyển giao công nghệ, đặc biệt là trong bối
cảnh hội nhập hiện nay là một vấn đề khá mới. Cho đến nay, chuyển giao
công nghệ và hợp đồng chuyển giao công nghệ mới chỉ được nghiên cứu

tồn tại nhằm đưa ra các đề xuất đối với việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh
hợp đồng chuyển giao công nghệ.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài luận văn nhằm các mục đích: Xác định khái
niệm về công nghệ, chuyển giao công nghệ và hợp đồng chuyển giao công
nghệ trên cơ sở hệ thống hóa và phân tích các cách tiếp cận khác nhau về các
khái niệm này; trên cơ sở đó làm rõ bản chất pháp lý, các nội dung chủ yếu,
ký kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ theo quy định của pháp
luật hiện hành.
Để đạt được mục đích nghiên cứu này, đề tài có các nhiệm vụ nghiên
cứu sau đây:
- Nghiên cứu các khái niệm, quan điểm khoa học về công nghệ,
chuyển giao công nghệ và hợp đồng chuyển giao công nghệ, để xác định các
đặc trưng của hợp đồng chuyển giao công nghệ.
- Đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu về các quy định pháp luật điều chỉnh
hợp đồng chuyển giao công nghệ ở Việt Nam bao gồm: nghiên cứu thực trạng
các quy định pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng, từ đó chỉ ra những tồn tại
trong các quy định pháp luật Việt Nam về hợp đồng chuyển giao công nghệ;
đề xuất kiến nghị, phương hướng và giải pháp cụ thể để hoàn thiện các quy
định pháp luật này đáp ứng các đòi hỏi của thực tiễn.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

5
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hợp đồng chuyển giao công nghệ
theo quy định của pháp luật hiện hành.
Để đảm bảo dung lượng của luận văn, người viết chỉ tập trung nghiên
cứu những nội dung cơ bản, chung nhất về hợp đồng chuyển giao công nghệ
mà không đi sâu vào từng dạng hợp đồng chuyên biệt.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Phương pháp nghiên cứu của đề tài dựa trên phương pháp luận của

làm một cái gì đó và logos có nghĩa là khoa học, kiến thức hay sự nghiên cứu
về một cái gì đó [28, tr. 13]. Như vậy, thực chất của thuật ngữ công nghệ là
việc ứng dụng những kỹ năng có được từ sự nghiên cứu, khám phá.
Hiện nay có nhiều cách tiếp cận đối với khái niệm công nghệ. Theo
Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hợp Quốc (United Nation’s Industrial
Development Organization, viết tắt là UNIDO) thì công nghệ là việc áp dụng
khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng những nghiên cứu và xử lý nó
một cách có phương pháp và có hệ thống [29, tr. 8]. Định nghĩa này của
UNIDO gắn bản chất công nghệ với các ứng dụng chỉ trong lĩnh vực công
nghiệp và chỉ nhấn mạnh đến một thuộc tính của công nghệ là tính khoa học
mà thôi. Nguyên nhân của thực tế này là do thuật ngữ công nghệ do UNIDO

7
định nghĩa chỉ nhằm phục vụ cho hoạt động trong khuôn khổ của UNIDO mà
thôi.
Theo hướng mở rộng khái niệm công nghệ của UNIDO, Ủy ban Kinh
tế Xã hội Châu Á - Thái Bình Dương (Economic and Social Commision for
Asia anh the Pacific - viết tắt là ESCAP) cho rằng: "Công nghệ là tập hợp các
công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực tự nhiên, nguồn lực sản
xuất trung gian thành hàng hóa tiêu dùng hoặc các nguồn lực trung gian
khác". Công cụ, phương tiện ở đây được hiểu là "tất cả các kỹ năng, kiến
thức, thiết bị và phương pháp sử dụng trong sản xuất chế tạo, dịch vụ, quản
lý, thông tin" [29, tr. 8]. Khái niệm công nghệ của ESCAP đã mở rộng nhiều
so với khái niệm của UNIDO, đã bao quát, thể hiện thực chất về công nghệ.
Khái niệm công nghệ không còn bị bó hẹp trong phạm vi một ngành sản xuất
trực tiếp là ngành công nghiệp, mà còn bao quát cả lĩnh vực dịch vụ, quản lý
và thông tin.
Tổ chức Sở hữu Trí tuệ thế giới (WIPO) cũng đưa ra khái niệm công
nghệ tương tự như UNIDO nhưng mở rộng phạm vi áp dụng của công nghệ
không chỉ là công nghiệp mà còn những lĩnh vực khác như nông nghiệp và

Dưới giác độ pháp lý, công nghệ được đề cập đến trong Bộ luật Dân
sự 2005, nhưng văn bản này cũng không đưa ra khái niệm về công nghệ mà
chỉ đưa ra những đối tượng của hoạt động chuyển giao công nghệ. Theo Điều
755 Bộ luật Dân sự, đối tượng chuyển giao công nghệ bao gồm: bí quyết kỹ
thuật, kiến thức kỹ thuật về công nghệ dưới dạng phương án công nghệ, các
giải pháp kỹ thuật, công thức, thông số kỹ thuật, bản vẽ, sơ đồ kỹ thuật,
chương trình máy tính, thông tin dữ liệu được chuyển giao, giải pháp hợp lý
hóa sản xuất, đổi mới công nghệ, cấp phép đặc quyền kinh doanh và các đối
tượng khác do pháp luật về chuyển giao công nghệ quy định. Điều này cũng
dễ giải thích vì hai lý do: thứ nhất, Bộ luật Dân sự chỉ quy định những vấn đề
điều chỉnh chung, bao quát còn những nội dung cụ thể sẽ do các văn bản luật
chuyên ngành điều chỉnh; thứ hai, bản thân Bộ luật Dân sự chỉ hướng tới điều
chỉnh đến những giao dịch dân sự liên quan đến công nghệ, chứ không phải
bản thân công nghệ. Liên quan đến vấn đề này, người viết cho rằng, trước

9
thực trạng không thống nhất về khái niệm công nghệ, Bộ luật Dân sự 2005
thực chất đã khôn khéo tránh việc đưa ra khái niệm công nghệ mà chỉ quy
định phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Dân sự đối với lĩnh vực này thông qua
việc liệt kê các đối tượng của hoạt động chuyển giao công nghệ.
Chính vì vậy, khái niệm công nghệ chỉ được đề cập cụ thể trong
những văn bản pháp luật chuyên ngành điều chỉnh hoạt động chuyển giao
công nghệ. Theo Luật Chuyển giao công nghệ, khái niệm công nghệ được xác
định một cách cụ thể, rõ ràng tại mục 2, Điều 3 của Luật này như sau: Công
nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm
theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm. Đây là
một khái niệm tuy ngắn gọn, súc tích nhưng rất đầy đủ. Dựa trên khái niệm
công nghệ này, người viết có thể có được các nghiên cứu về các vấn đề có
liên quan đến công nghệ trong luận văn này.
Để xem xét một cách toàn diện khái niệm công nghệ, cần thiết phải

của quy trình quản lý. Mặc dù thể chế không bao hàm những tri thức căn bản
làm nên công nghệ nhưng nó lại đảm bảo cho sự áp dụng có hiệu quả của
công nghệ. Một số tác giả cho rằng đây là thành tố thứ tư của công nghệ [16,
tr. 26], nhưng theo người viết, đây chỉ là một phần cấu thành nên thành tố thứ
hai, vì những kinh nghiệm tổ chức cũng nằm trong tổng thể những kinh
nghiệm nhằm áp dụng công nghệ đạt hiệu quả cao, rất có ý nghĩa đối với hoạt
động chuyển giao công nghệ.
Ba là, tài liệu kỹ thuật bao gồm các thiết kế, bản vẽ, hướng dẫn nghiệp
vụ, bí quyết kỹ thuật… Thành tố này được coi là phần thông tin của công
nghệ, thể hiện những tri thức công nghệ được tư liệu hóa.
- Tính ứng dụng của công nghệ
Công nghệ phải có tính ứng dụng trên thực tế nhằm giải quyết những
vấn đề nhất định nhằm phục vụ lợi ích của con người. Tính ứng dụng của
công nghệ thể hiện ở chỗ, việc tuân theo công nghệ sẽ làm cho hoạt động sản
xuất đạt hiệu quả cao hơn như tăng năng suất, giảm chi phí, gia tăng tính năng
của sản phẩm hoặc để phát triển những công nghệ mới, sản phẩm mới. Chính

11
khả năng ứng dụng của công nghệ là động lực để phát triển công nghệ,
chuyển giao công nghệ và hình thành thị trường công nghệ.
- Tính trao đổi của công nghệ
Đặc trưng này cho thấy bản thân công nghệ có thể được tiếp nhận,
dịch chuyển từ nơi này sang nơi khác và giữa các cá nhân, tổ chức khác nhau.
Sự trao đổi công nghệ là vô cùng quan trọng nhằm đạt hiệu quả cao trong việc
biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm. Mặc dù tính trao đổi của công nghệ
chỉ thể hiện dưới dạng khả năng, còn phụ thuộc rất nhiều các yếu tố khác như
khuôn khổ pháp lý, sự bảo hộ, khả năng tiếp nhận… nhưng đó đảm bảo rằng
công nghệ có thể được ứng dụng rộng rãi để phục vụ lợi ích của con người.
Tính trao đổi của công nghệ là thuộc tính gắn liền với tính ứng dụng của công
nghệ. Công nghệ có khả năng ứng dụng thì mới nảy sinh nhu cầu tiếp nhận

Khoa học để chỉ những hiểu biết của con người về thế giới được định hình
bằng các khái niệm, các phạm trù và quy luật. Giữa khoa học và công nghệ có
mối liên hệ mật thiết với nhau. Khoa học đóng vai trò là nhân tố quyết định sự
hình thành và phát triển của công nghệ. Ngược lại, công nghệ có ảnh hưởng
đáng kể đến xu hướng nghiên cứu và là động lực của khoa học. Tuy cùng là
sản phẩm trí tuệ của con người, nhưng giữa khoa học và công nghệ có những
sự khác biệt nhất định. Thứ nhất, nếu như khoa học chỉ hướng tới việc tìm
hiểu bản chất của thế giới thì công nghệ lại chú trọng đến việc áp dụng những
hiểu biết ấy để tạo ra những sản phẩm phục vụ lợi ích của con người. Thứ hai,
nghiên cứu khoa học là hoạt động ít hoặc thậm chí không bị hạn chế về thời
gian và không gian, thì ngược lại, những yếu tố này có ảnh hưởng rất lớn đến
công nghệ. Một công nghệ dễ dàng bị thay thế bởi một công nghệ khác tiên
tiến hơn, và nó có thể được bảo hộ ở những chừng mực khác nhau nhằm hạn
chế khả năng ứng dụng rộng rãi. Thứ ba, kết quả của khoa học là việc phong
phú thêm những hiểu biết về thế giới, còn kết quả của công nghệ là việc sản
xuất ra một sản phẩm mới, cải tiến sản phẩm đang có hoặc chí ít là tăng
cường hiệu suất trong việc sản xuất sản phẩm sẵn có.
Công nghệ cũng khác với kỹ thuật. Kỹ thuật được hiểu là một kỹ năng

13
để thực hiện một số nhiệm vụ đặc thù [28, tr. 14]. Như vậy khái niệm kỹ thuật
khá gần với khái niệm công nghệ. Tuy nhiên, giữa công nghệ và kỹ thuật có
những điểm khác nhau cơ bản. Ở giác độ thứ nhất, công nghệ là sự phát triển
cao của kỹ thuật, hay nói khác đi, công nghệ hàm chứa kỹ thuật tiên tiến, có
thể đem lại hiệu quả cao trong sản xuất. Một kỹ thuật là một kỹ năng, thông
thường là một kỹ năng cụ thể. Ví dụ, một người làm gốm thủ công có kinh
nghiệm pha trộn nguyên liệu đất sét như thế nào, cách thức tạo hình các sản
phẩm, nhiệt độ nung nóng như thế nào. Còn một công nghệ được coi là một
hệ thống thông tin trọn gói và các bí quyết cần thiết để sản xuất một sản phẩm
hoặc thực hiện một số nhiệm vụ. Ví dụ, công nghệ dây chuyền sản xuất hàng

công nghệ là cực kỳ to lớn. Nắm bắt và làm chủ công nghệ, "đi tắt đón đầu"
trong lĩnh vực công nghệ là những chính sách được ưu tiên hàng đầu nhằm
đẩy nhanh tốc độ phát triển, giảm khoảng cách phát triển đối với các nước
trong khu vực và những quốc gia tiên tiến trên thế giới. Cụ thể với Việt Nam,
công nghệ còn có những vai trò sau đây:
- Công nghệ góp phần làm giảm khoảng cách phát triển giữa nước ta
với các nước tiên tiến trên thế giới
Trình độ nắm bắt và phát triển công nghệ là một phần thước đo của sự
phát triển. Nếu công nghệ lạc hậu, tiêu hao nguồn lực nhiều, là rào cản lớn
trong phát triển kinh tế xã hội. Do vậy, muốn đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh
tế, cần thiết phải tiếp thu và làm chủ khoa học công nghệ tiên tiến, "bỏ qua"
sự phát triển công nghệ trung gian, những công nghệ có thể vẫn là "tiên tiến"
đối với Việt Nam, những đã lạc hậu so với thế giới. Có như vậy, Việt Nam
mới có cơ hội bắt kịp tốc độ phát triển của các nước tiên tiến.
Trong những năm qua, nhờ có chính sách khuyến khích phát triển
công nghệ, mà hiện nay, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực sản xuất, chúng ta đã có
những công nghệ hàng đầu thế giới, tạo ra những sản phẩm có tính cạnh tranh
cao, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế xã hội nước nhà. Điều này
có thể thấy rõ trong lĩnh vực đóng mới và sửa chữa tàu thủy, công nghệ thông
tin và bưu chính viễn thông Với chiến lược đi tắt đón đầu, Tập đoàn kinh tế

15
Vinashin đã tập trung đầu tư nhiều trang thiết bị và dây chuyền công nghệ
mới như các thiết bị cắt CNC, gia công cơ khí, hàn tự động, nâng hạ với công
suất lớn; đo lường - kiểm định phục vụ gia công vỏ tàu, lắp ráp thân tàu
cũng như nhận chuyển giao các công nghệ tiên tiến phục vụ việc tự động hóa
quá trình gia công chế tạo, lắp ráp tàu thủy Vinasin đã thực hiện thành công
việc chuyển giao công nghệ với Ba Lan để đóng tàu 1.016 TEU và tàu 1.800
TEU; hợp tác chuyển giao công nghệ đóng tàu hút bùn với hãng Krupp Vosta
(Hà Lan) Với vai trò là một trong những động lực vô cùng quan trọng, hoạt

triển ở một số lĩnh vực có thế mạnh.
Hiểu theo nghĩa rộng, chuyển giao công nghệ xảy ra khi một hoặc
nhiều thành tố của công nghệ được mở rộng phạm vi áp dụng (chuyển dịch về
địa lý hoặc chủ thể sở hữu, sử dụng…). Theo nghĩa hẹp, chuyển giao công
nghệ được hiểu là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng (một phần
hoặc toàn bộ) công nghệ từ bên có quyền giao công nghệ sang bên nhận công
nghệ [10, Điều 3].
Cần phân biệt thuật ngữ "chuyển giao công nghệ" và thuật ngữ "mua
bán công nghệ". Mặc dù cùng là cơ chế hợp đồng và có sự trao đổi ngang giá,
nhưng khái niệm chuyển giao công nghệ có nội hàm rộng hơn thuật ngữ mua
bán công nghệ. Thứ nhất, việc chuyển giao công nghệ có thể chỉ là chuyển
giao quyền sử dụng công nghệ trong một thời gian nhất định, chứ không phải
là "bán đứt" công nghệ cho bên nhận chuyển giao. Bên nhận chuyển giao chỉ
được quyền sử dụng công nghệ trong thời gian mà các bên thỏa thuận. Thứ
hai, việc chuyển giao công nghệ có thể không làm mất đi quyền sử dụng công
nghệ của bên chuyển giao. Bên chuyển giao vẫn tiếp tục áp dụng công nghệ
trong hoạt động của mình hoặc tiếp tục chuyển giao cho chủ thể khác. Thứ ba,
trong chuyển giao công nghệ, việc hoàn trả lại đối tượng chuyển giao trong
nhiều trường hợp là không thể, bởi phần quan trọng trong công nghệ là kiến
thức và một khi đã được chuyển giao thì không thể thu hồi lại được. Những
đặc trưng này của hoạt động chuyển giao công nghệ làm cho nó không giống
với hoạt động mua bán thông thường và có những ảnh hưởng đáng kể đến nội
dung pháp luật điều chỉnh về chuyển giao công nghệ. Như vậy, giao dịch mua

17
bán công nghệ chỉ là một dạng đặc thù của chuyển giao công nghệ mà thôi.
Xét dưới khía cạnh pháp lý, chuyển giao công nghệ là một giao dịch
dân sự, và do tính đặc thù của nó, nên Bộ luật Dân sự 2005 đã có hẳn một
phần riêng để điều chỉnh giao dịch này. Chuyển giao công nghệ được thực
hiện trên nguyên tắc bình đẳng, thỏa thuận và được xác lập thông qua cơ chế

phép bên nhận chuyển giao quyền được sử dụng công nghệ trong một thời
gian và không gian nhất định. Chuyển giao quyền sử dụng công nghệ là việc
chuyển giao mà bên sử dụng chỉ có quyền sử dụng công nghệ để phục vụ hoạt
động sản xuất, không có quyền sở hữu đối với công nghệ. Sự phân biệt
chuyển giao quyền sử dụng công nghệ hay quyền sở hữu công nghệ không chỉ
ở phạm vi khái niệm sử dụng (với nghĩa là không được định đoạt) mà còn ở
chỗ, việc chuyển giao quyền sử dụng thường có giới hạn về thời gian cũng
như không gian. Bên nhận chuyển giao chỉ được sử dụng công nghệ trong
một khoảng thời gian nhất định và có thể, trong một phạm vi không gian nhất
định (như chỉ tại Việt Nam chẳng hạn).
Hình thức này diễn ra khá phổ biến hiện nay với giá cả chuyển giao
tương đối thấp. Ví dụ, trong công nghiệp sản xuất sản phẩm thép tiền chế, các
hoạt động chuyển giao công nghệ thiết kế, chế tạo sản phẩm thông qua các
hoạt động chuyển giao quyền sử dụng các giao phẩm này trong những khoảng
thời gian nhất định và thông thường bị giới hạn trong các nhà máy của bên
nhận chuyển giao. Giá cả chuyển giao của hình thức này thông thường thấp
hơn nhiều so với các hình thức chuyển giao khác dưới đây.
- Chuyển giao công nghệ không độc quyền
Chuyển giao công nghệ không độc quyền là hình thức bên chuyển
giao công nghệ đồng ý chuyển giao toàn bộ quyền sử dụng công nghệ cho bên
nhận chuyển giao vô thời hạn, trong phạm vi một không gian nhất định,
nhưng không cho phép bên nhận chuyển giao quyền chuyển nhượng lại cho
bên thứ ba. Hình thức này được thể hiện rất phổ biến trong ngành kinh doanh

19
dịch vụ khách sạn cao cấp. Các công nghệ quản lý, vận hành khách sạn thông
thường được bên chuyển giao trao cho bên nhận chuyển giao với các điều
kiện hạn chế về không gian (có thể chỉ trong phạm vi hệ thống các khách sạn
của bên nhận chuyển giao) và các hạn chế, ngăn cấm về quyền chuyển
nhượng lại (sub-license) các công nghệ quản lý, vận hành này lại cho bên thứ

bản thân sản phẩm hàm chứa công nghệ cho bên nhận chuyển giao. Thông
qua những sản phẩm này, bên nhận chuyển giao sẽ tiếp thu được công nghệ
của bên chuyển giao. Nếu chỉ chuyển giao công nghệ theo nội dung này thì
bên nhận chuyển giao sẽ khó khăn trong việc hiểu tường tận và áp dụng đúng
công nghệ.
- Thực hiện các dịch vụ hỗ trợ và tư vấn.
Việc chuyển giao có thể được thực hiện thông qua việc bên chuyển
giao sẽ chịu trách nhiệm cung cấp các dịch vụ hỗ trợ và tư vấn như nghiên
cứu, phân tích đánh giá tính khả thi của dự án đầu tư đổi mới công nghệ; hỗ
trợ kỹ thuật, lựa chọn công nghệ, hướng dẫn lắp đặt, vận hành thử dây
chuyền; tư vấn quản lý công nghệ; và đào tạo huấn luyện, nâng cao trình độ
chuyên môn kỹ thuật và quản lý của cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và công
nhân. Các dịch vụ này nhằm giúp cho bên nhận chuyển giao có thể đưa ra
được những lựa chọn đúng đắn đối với công nghệ nhận chuyển giao, đồng
thời có được những đánh giá chính xác về các hiệu quả mong đợi khi áp dụng
công nghệ chuyển giao trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đối với dịch vụ
đào tạo nhân viên cho bên nhận chuyển giao trong việc áp dụng quy trình kỹ
thuật hoặc máy móc, thiết bị mới, việc đào tạo này sẽ giúp cho bên nhận
chuyển giao nhanh chóng làm chủ công nghệ, dễ dàng sử dụng công nghệ
trong sản xuất, tuy nhiên cần phải mất một khoảng thời gian nhất định.
Ngoài hình thức đào tạo, bên chuyển giao cũng có thể chịu trách
nhiệm cử chuyên gia kỹ thuật sang giúp đỡ vận hành thiết bị để đưa vào sản
xuất cũng như giám sát việc áp dụng đúng công nghệ. Ưu điểm từ nội dung
này là việc bên nhận công nghệ có thể tiếp cận và sử dụng công nghệ một

21
cách nhanh chóng, ít tốn kém vì không mất kinh phí nghiên cứu, đào tạo,
nhưng lại có thể gặp phải một nhược điểm khác là bên nhận chuyển giao có
thể vẫn không thể tự mình làm chủ được công nghệ sau một thời gian áp
dụng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status