Bộ môn luật hình sự: module 2
Bài tiểu luận học kỳ 1- 2011
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh ngày càng gia tăng xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa của các nền
kinh tế, sự phát triển mạnh mẽ của các hoạt động kinh tế thương mại giữa các quốc gia
đã tác động và làm thay đổi sâu rộng trong nhận thức đối với các học thuyết pháp lý về
hiệu lực hợp đồng, sự khẳng định ngày càng rõ rệt của xu hướng nhất thể hóa, hài hòa
hóa giữa các hệ thống pháp luật, đặc biệt là trong lĩnh vực pháp luật hợp đồng, thì việc
cần sớm tìm một cơ chế pháp lý điều chỉnh hiệu lực hợp đồng linh hoạt, phù hợp với
hoàn cảnh của Việt Nam và đáp ứng các yêu cầu của tình hình mới, là một yêu cầu cấp
bách của khoa học pháp lý, và cơ chế hardship là một sự bổ sung hợp lý và quan trọng
cho cơ chế pháp lý điều chỉnh hiệu lực hợp đồng.
- Việc xác định điều kiện có hiệu lực của một hợp đồng là rất quan trọng. Bởi kể từ khi
có đầy đủ các điều kiện để có hiệu lực của hợp đồng thì quyền và nghĩa vụ của các bên
mới phát sinh, và được pháp luật bảo vệ. Căn cứ vào các quy định hiện hành, có hiệu
lực của hợp đồng được xác định tại nhiều thời điểm khác nhau, tùy thuộc vào hình thức
của hợp đồng, tùy thuộc vào thỏa thuận của các bên, cũng như những quy định khác của
pháp luật chuyên ngành. Tuy nhiên, việc xác định điều kiên này trên thực tế cũng như
về mặt lý luận vẫn đang còn gặp nhiều khó khăn và bất cập. Đặc biệt là đối với những
loại hợp đồng mà pháp luật buộc phải tuân thủ theo một hình thức nhất định (buộc phải
công chứng, hoặc buộc phải công chứng và đăng ký với cơ quan có thẩm quyền). Đối
với những loại hợp đồng đó, việc tuân thủ hình thức là một yêu cầu bắt buộc và là một
trong những điều kiện để hợp đồng có hiệu lực (khoản 2 Điều 122, Điều 124 Bộ luật
Dân sự
- Để bổ sung kiến thức và tăng sự hiểu biết nên em xin đi tìm hiểu kĩ về vấn đề này
thông qua việc lựa chọn đề bài số 05 : “ Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân
sự theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành – Một số vấn đề lí luận và thực
tiễn”. Trong quá trình làm bài còn nhiều thiếu sót em kính mong thầy cô giáo góp ý
kiến để bài của em được hoàn thiện hơn.
đích làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền dân sự, nghĩa vụ dân sự;
+ Mục đích của thỏa thuận không được trái pháp luật và đạo đức xã hội.
1.3. Bản chất của hợp đồng
1.3.1. Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên
Không có hợp đồng nào mà không do thỏa thuận và không có hợp đồng nào được tạo ra
mà thiếu yếu tố thỏa thuận. Bởi vậy, có ý kiến cho rằng, “yếu tố thỏa thuận của các chủ
thể là tiền đề của hợp đồng và được xem là tuyệt đối”
- Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, thỏa thuận là “sự nhất trí chung được thể hiện ở
chỗ không có một ý kiến đối lập của bất cứ một bộ phận nào trong số các bên liên quan
đối với những vấn đề quan trọng và thể hiện thông qua quá trình mà mọi quan điểm của
các bên liên quan đều phải được xem xét và dung hòa.”
2
Nguyễn Ngọc Bích
Lớp: N02 – TL2
MSSV: 352321
Bộ môn luật hình sự: module 2
Bài tiểu luận học kỳ 1- 2011
- Bản chất của sự thỏa thuận của là kết quả của sự thống nhất giữa ‘ý chí’ với ‘sự bày tỏ
ý chí’ của mỗi bên, đặt trong mối liên hệ thống nhất với sự ‘ưng thuận’ tương ứng của
một hoặc các bên khác, tạo thành sự ‘đồng thuận’ của các bên, nhằm đạt một mục đích
xác định. Bởi thế, có ý kiến cho rằng, “thỏa thuận là sự trùng hợp ý muốn của các bên
về một điều gì đó mà các bên mong muốn đạt được”
- Tóm lại, thông qua sự thỏa thuận các bên đã làm nên hợp đồng, tức làm phát sinh,
thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong hợp đồng. Vì vậy, thỏa thuận
Bài tiểu luận học kỳ 1- 2011
- Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng là tổng hợp những yêu cầu pháp lý nhằm đảm bảo
cho hợp đồng được lập đúng bản chất đích thực của nó. Đây là những điều kiện cần và
cũng là tiền đề pháp lý nhằm đảm bảo cho hợp đồng được xác lập hợp pháp.
- Hiệu lực hợp đồng là một phạm trù pháp lý quan trọng, nhưng các dấu hiệu pháp lý
đặc trưng của khái niệm này chưa được làm sáng tỏ, cả về lý luận cũng như thực tiễn
pháp lý ở Việt Nam.
- Hiệu lực của hợp đồng là vấn đề pháp lý rất phức tạp, không thể chỉ qui định trong
một vài điều luật là có thể điều chỉnh hết được các vấn đề cần điều chỉnh. Tính chất
phức tạp của vấn đề hiệu lực hợp đồng được thể hiện trên toàn bộ quá trình, từ khi thiết
lập đến khi chấm dứt hợp đồng, tạo thành một cơ chế pháp lý phức hợp.
Xuất phát từ bản chất của hợp đồng, pháp luật của Việt Nam qui định hợp đồng phải
tuân thủ các điều kiện bắt buộc: chủ thể hợp đồng phải có năng lực hành vi dân sự; nội
dung, mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo
đức xã hội; các bên hoàn toàn tự nguyện. Sau đây là các điều kiện cụ thể:
1. Điều kiện về chủ thể của hợp đồng.
1.1. Chủ thể tham gia hợp đồng là cá nhân.
- Chủ thể của hợp đồng (hay chủ thể của quan hệ hợp đồng) là những người tham gia
xác lập, thực hiện hợp đồng, có quyền, nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng và phải chịu
trách nhiệm về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đó. Để tham gia
xác lập, thực hiện hợp đồng, các hệ thống pháp luật đều qui định chủ thể phải có năng
lực chủ thể nhất định. Theo đó, yêu cầu về chủ thể tham gia hợp đồng “có năng lực
hành vi dân sự” là một trong những điều kiện tiên quyết để hợp đồng có hiệu lực. Chủ
thể tham gia giao dịch dân sự (hợp đồng) phải có “năng lực hành vi dân sự” ( điểm a,
khoản 1 Điều 122). Năng lực hành vi dân sự để tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng
của các chủ thể khác nhau là không giống nhau.
- Đối với cá nhân:
+ Người từ đủ 18 tuổi, không bị mất năng lực hành vi dân sự và hạn chế năng lực
hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác;
+ Cá nhân từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp luật có
quy định khác (Điều 20);
+ Người dưới 6 tuổi và người mất năng lực hành vi dân sự là người không có năng lực
hành vi dân sự và không có quyền tham gia xác lập và thực hiện mọi giao dịch dân sự.
Tuy nhiên để đảm bảo quyền lợi chính đáng của họ, những người đại diện theo pháp
luật của họ có quyền xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự nhằm thỏa mãn nhu cầu
vật chất hoặc tinh thần của những người này (Điều 21, 22 BLDS 2005);
5
Nguyễn Ngọc Bích
Lớp: N02 – TL2
MSSV: 352321
Bộ môn luật hình sự: module 2
Bài tiểu luận học kỳ 1- 2011
+ Người bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự thì phải có người giám hộ và
mọi giao dịch liên quan đều phải được xác lập, thực hiện thông qua người giám hộ
(Điều 22);
+ Người bị tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự thì các giao dịch liên quan
tới tài sản của họ phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ các giao
dịch phục vụ nhu cầu hàng ngày, với những hợp đồng liên quan tới tài sản của người bị
hạn chế năng lực hành vi dân sự thì phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật
( Điều 23 BLDS 2005).
Bài tiểu luận học kỳ 1- 2011
hoạt động của chủ thể đó. Pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác xác lập, thực hiện hợp
đồng thông qua người đại diện hợp pháp, nhưng phải đúng ‘phạm vi đại diện’ và phải
phù hợp với giới hạn về “lĩnh vực hoạt động” của các chủ thể.
2. Điều kiện về mục đích, nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của
pháp luật và không trái đạo đức xã xội.
- BLDS 2005 thừa nhận nguyên tắc tự do cam kết, thỏa thuận (Điều 4). Nhưng để bảo
vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích của công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người
khác, BLDS 2005 cũng qui định một số trường hợp hạn chế quyền tự do của các bên
trong việc thiết lập hợp đồng. Theo đó, nội dung và mục đích của hợp đồng (giao dịch
dân sự) “không được vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội”
(Điểm b, khoản 1 Điều 122). Hợp đồng (giao dịch dân sự) “có mục đích và nội dung vi
phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu” (Điều 128).
- Điều cấm của pháp luật “là những quy định của pháp luật kh`ông cho phép chủ thể
thực hiện những hành vi nhất định”. Và, “ đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử
chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn
trọng” ( Điều 128)
- Quy phạm đạo đức và quy phạm pháp luật cùng là những quy phạm xã hội có chung
mục đích là điều tiết hành vi con người, có chung đặc điểm là những quy tắc xử xự
chung, là tiêu chuẩn đánh giá hành vi con người. Tuy nhiên quy phạm đạo đức chỉ là
những quy phạm mang tính chất đánh giá xấu tốt, đáng khen, đáng chê…..trong đó khi
quy phạm pháp luật không chỉ là cơ sở mang tính bắt buộc cho xử sự của những người
tham gia vào quan hệ xã hội đó. Quy phạm pháp luật là quy phạm thành văn mang tính
quyền lực chính trị: thể hiện ý chí của gia cấp thống trị và được bảo đảm hực hiện bằng
sức mạnh cưỡng chế của nhà nước. Giữa pháp luật và đạo đức có mối quan hệ bổ sung,
trợ giúp cho nhau trong quá trình điều chỉnh hành vi của con người.
- Một hợp đồng dân sự muốn được coi là có hiệu lực pháp luật thì mục đích và nội dung
của hợp đồng dân sự đó phải không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái với
truyền thống đạo đức xã hội.
không chịu sự chi phối hay sự tác động, can thiệp chủ quan nào từ những người khác.
Pháp luật đòi hỏi những người tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng phải hoàn toàn tự
nguyện. Tự nguyện nghĩa là phải có tự do ý chí, tự do “bày tỏ ý chí” và phải có “sự
thống nhất giữa ý chí với sự bày tỏ ý chí”. Không có tự do ý chí và sự bày tỏ ý chí hoặc
phá vỡ tính thống nhất giữa hai yếu tố này thì sẽ không có sự tự nguyện.
- Hợp đồng do chủ thể xác lập, thực hiện không tự nguyện, thì có thể bị vô hiệu hoặc
đương nhiên vô hiệu.
- Pháp luật dân sự Việt Nam dựa trên cơ sở tuyên bố ý chí chỉ ra những trường hợp giao
dịch dân sự vô hiệu do xác lập thiều sự tự nguyện của một trong các chủ thể, bao gồm :
3.1. Hợp đồng giao kết do sự giả tạo
8
Nguyễn Ngọc Bích
Lớp: N02 – TL2
MSSV: 352321
Bộ môn luật hình sự: module 2
Bài tiểu luận học kỳ 1- 2011
- Theo Điều 129 BLDS 2005: “ Điều 129 BLDS 2005 quy định: “Khi các bên xác lập
giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả
tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó
cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này”.
- Trong trường hợp xác lập hợp đồng dân sự giả tạo nhằm chốn tránh trách nhiệm với
người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu”
- Như vậy có thể hiểu :
+ giao dịch được xác lập nhằm che dấu một giao dịch khác thể hiện ý chí đích thực của
Bài tiểu luận học kỳ 1- 2011
Trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của
giao dịch thì được giải quyết theo Điều 132 của Bộ luật này”
3.3. Hợp đồng được giao kết trên cơ sở của sự lừa dối, đe dọa.
- Hợp đồng xác lập do bị lừa dối: “Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một
bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của
đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó” (Điều 132).
- Biểu hiện của sự lừa dối là hành vi cố ý cung cấp thông tin sai sự thật khiến cho bên
kia tin vào các thông tin đó mà xác lập hợp đồng bất lợi cho họ hoặc trái với nguyện
vọng đích thực của họ.
- Pháp luật Việt Nam qui định ba trường hợp lừa dối là lừa dối về chủ thể, lừa dối về
đối tượng và lừa dối về nội dung của hợp đồng. Khi xem xét hành vi lừa dối, tòa án
thường không chỉ dựa vào tính chất “cố ý” cung cấp thông sai sự thật của một bên mà
còn dựa vào hoàn cảnh cụ thể và khả năng nhận thức, hiểu biết của bên kia so với một
người có năng lực nhận thức bình thường. Vấn đề có hay không có sự cố ý cung cấp
thông tin sai sự thật cũng là vấn đề gây nhiều tranh cãi. Một hành vi cung cấp thông tin
sai sự thật được hiểu là một bên cố ý nói cho bên kia biết những thông tin về chủ thể,
đối tượng, nội dung của hợp đồng mà những thông tin ấy là không đúng với thực tế
khách quan, nhưng mức độ sai biệt tới đâu là lừa dối, thì có nhiều cách hiểu. Một sự im
lặng thường cũng không bị coi là lừa dối. Nhưng nếu bên cung cấp thông tin có nghĩa
vụ phải cung cấp thông tin mà vẫn im lặng nhằm mục đích bỏ qua sự thật thì cũng bị
coi là có lừa dối, hoặc chí ít cũng có lỗi làm bên kia nhầm lẫn giao kết hợp đồng .
- Hợp đồng giao kết do bị lừa dối có thể bị tòa án tuyên bố vô hiệu khi sự lừa dối đó “do
hành vi cố ý” của một bên hoặc của người thứ ba gây ra và đó là nguyên nhân “làm cho
bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung” của hợp đồng
mà giao kết hợp đồng trái với nguyện vọng đích thực của họ.
- Hợp đồng xác lập bởi sự đe dọa: “ là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba là
cho bên kia buộc phải thực hiện giao dich nhằm trách thiệt hia về tính mạng, sức khỏe
danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng,con của
(trong các trường hợp còn lại).
- Tóm lại, các yếu tố chủ thể, nội dung và mục đích, sự tự nguyện của các bên là những
yếu tố quan trọng góp phần vào quá trình hình thành và tồn tại của hợp đồng. Năng lực
hành vi của chủ thể là yếu tố nhằm đảm bảo chủ thể có tư cách độc lập để tự mình xác
lập, thực hiện hợp đồng; nội dung và mục đích là những điều khoản, căn cứ để thực
hiện hợp đồng; tự nguyện là yếu tố đảm bảm cho hợp đồng được tạo ra đúng ý chí đích
thực của các bên. Bởi vậy, đây là ba yếu tố pháp lý quan trọng được pháp luật qui định
là điều kiện bắt buộc của mọi hợp đồng- Ngoài ra còn có một số trường hợp khác xác
lập thiếu yếu tố tự nguyện cũng bắt gặp trong thực tiễn như :
+ Hợp đồng giả cách
11
Nguyễn Ngọc Bích
Lớp: N02 – TL2
MSSV: 352321
Bộ môn luật hình sự: module 2
Bài tiểu luận học kỳ 1- 2011
+ Hợp đồng tưởng tượng.
4. Điều kiện về hình thức của hợp đồng.
Hình thức là một yếu tố pháp lý quan trọng của hợp đồng, có quan hệ biện chứng với
bản chất, nội dung, giá trị hiệu lực, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, và là phương
tiện để diễn đạt ý chí của các bên, cũng như để chứng minh sự tồn tại của hợp đồng.
Người ta sẽ không biết đến sự tồn tại của hợp đồng, nếu nó không được thể hiện dưới
một hình thức xác định.
4.1. Khái niệm hình thức của hợp đồng.
những hợp đồng được thực hiện và chấm dứt ngay lập tức, như hợp đồng mua bán tiêu
dùng hàng ngày, hợp đồng dịch vụ thông thường trong đời sống.
-Thực tiễn pháp lý cho thấy, do việc giao kết hợp đồng bằng lời nói có ưu điểm là cách
thức giao kết đơn giản, gọn nhẹ, nhanh chóng và ít tốn kém nên được sử dụng rất phổ
biến trong giao dịch dân sự. Cũng vì sự tiện lợi của cách thức giao kết này mà trên thực
tế, có nhiều hợp đồng đáng lẽ phải được lập bằng văn bản hoặc bằng văn bản có công
chứng hoặc chứng thực (chẳng hạn như hợp đồng mua bán nhà, hợp đồng thuê bất
động sản), nhưng để giản tiện, các bên cũng thường lập dưới hình thức lời nói, nên đã
dẫn đến những tranh chấp rất khó giải quyết. Ví dụ: vụ án tranh chấp về “đòi tài sản”
trong. Trên thực tế cho thấy thì rất nhiều vụ tranh chấp liên quan đến hình thức cuả hợp
đồng. Điều đó cũng nói lên nhược điểm của loại hình thức này là không bảo đảm sự an
toàn pháp lý cho các bên, giá trị chứng minh không cao và dễdẫn đến tình trạng phủ
nhận của các bên về sự tồn tại của hợp đồng nếu các bên không còn bằng chứng khác để
chứng minh về sự tồn tại của hợp đồng đó.
4.2.2. Hình thức hợp đồng bằng văn bản.
- Văn bản (truyền thống) là hình thức ngôn ngữ viết, được trình bày trên một chất
liệu hữu hình nhằm thể hiện một nội dung xác định mà người ta có thể đọc, lưu giữ và
bảo đảm được sự toàn vẹn nội dung đó. Khác với hợp đồng bằng lời nói vốn không để
lại bằng chứng (“khẩu thuyết vô bằng”), thì hợp đồng bằng văn bản đảm bảo sự thể hiện
rõ ràng ý chí các bên cũng như nội dung của từng điều khoản hợp đồng mà các bên
muốn cam kết. Ngoài ra, hợp đồng bằng văn bản cũng có thể trở thành bằng chứng hữu
hiệu khi các bên có sự tranh chấp, vì đây là hình thức có khả năng lưu giữ được ở trạng
thái gần như nguyên vẹn, trong một thời gian dài. Bởi vậy, các hợp đồng quan trọng,
hoặc có giá trị lớn, hoặc có nội dung phức tạp, hoặc có thời hạn thực hiện lâu dài… thì
thường được các bên chọn cách thể hiện bằng văn bản.
- Thực tiễn pháp lý Việt Nam có sự phân biệt giữa các loại văn bản “công chính chứng
thư” và “tư chứng thư”. Công chính chứng thư là văn bản được lập tại cơ quan công
quyền, theo thủ tục luật định (chứng nhận hoặc chứng thực), trước mặt người có thẩm
13
- Các hợp đồng dân sự thông dụng: hợp đồng mua bán tài sản thông qua đấu giá (Khoản
2 Điều 458); hợp đồng ủy quyền trong trường hợp pháp luật có qui định ( Khoản 2 Điều
1420; hợp đồng mua bán, hợp đồng trao đổi, hợp đồng tặng cho tài sản có đăng ký
quyền sở hữu……
- Các hợp đồng bảo đảm: BLDS 2005 qui định các hợp đồng: dùng một tài sản để bảo
đảm nhiều nghĩa vụ (Điều 324), cầm cố tài sản (Điều 327), …..
- Các hợp đồng thương mại: theo quy định của luật thương mại
14
Nguyễn Ngọc Bích
Lớp: N02 – TL2
MSSV: 352321
Bộ môn luật hình sự: module 2
Bài tiểu luận học kỳ 1- 2011
- Các loại hợp đồng khác: : hợp đồng hợp tác và đầu tư, hợp đồng chuyển giao quyền
tác giả, hợp đồng chuyển giao quyền liên quan, hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu
công nghiệp, hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp, hợp
đồng chuyển giao công nghệ
Qua nội dung vừa trình bày trên đây cho thấy, rất nhiều loại hợp đồng (hơn 50 loại
hợp đồng) được pháp luật qui định phải tuân theo hình thức văn bản. Có thể nói, những
hợp đồng mà pháp luật qui định bắt buộc phải làm bằng văn bản là những loại hợp đồng
có nội dung phức tạp cần phải được thể hiện ra bằng những điều khoản cụ hể, chi tiết để
quá trình thực hiện hợp đồng được thuận lợi, dễ dàng hơn và hạn chế sự ranh chấp về
quyền và nghĩa vụ của các bên giao kết hợp đồng. Thông thường, đối với các loại hợp
đồng này, nhà làm luật còn qui định thêm nội dung và các điều khoản cụ thể của hợp
chấp có đối tượng là các loại tài sản quan trọng mà việc chiếm hữu, sử dụng của nó liên
quan đến an ninh quốc gia, trật tự công cộng hoặc các tư liệu sản xuất quan trọng có ảnh
hưởng đến nền kinh tế quốc dân đều cần phải có sự kiểm soát của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền hoặc công bố và ghi chép trong sổ bộ của các cơ quan quản lý nhà nước
trong lĩnh vực có liên quan.
* Thông điệp dữ liệu - một dạng đặc biệt của hình thức bằng văn bản
- Ngoài hình thức văn bản truyền thống, pháp luật hiện hành Việt Nam cũng thừa nhận
một thể thức tương đương văn bản, đó là thông điệp dữ liệu. Các hợp đồng, giao dịch
bằng hình thức thông điệp dữ liệu được ghi nhận trong BLDS 2005 (khoản 1 Điều 124)
- Theo khoản 1 Điều 124 BLDS 2005, thì “Giao dịch dân sự thông qua phương tiện
điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản”.
- Như vậy, cũng giống như văn bản truyền thống, thông điệp dữ liệu muốn được công
nhận phải đáp ứng được những yêu cầu kỹ thuật và pháp lý nhất định, sao cho bảo đảm
tính nguyên gốc (phản ánh trung thành với bản gốc đã khởi tạo lần đầu tiên) và sự toàn
vẹn về nội dung thông tin (không bị sửa chữa, thay đổi, cắt xén hoặc đưa thêm thông
tin khác vào), có thể lưu trữ và truy cập để tham chiếu khi cần thiết…
- Như vậy, đối với những chứng từ xác nhận các sự kiện cụ thể liên quan đến hoặc gắn
với quyền nhân thân của cá nhân, xác nhận quan hệ gia đình, các tài sản đặc biệt như
tiền tệ, các chứng từ chứng minh như giấy tờ có giá, chứng từ chứng nhận quyền sở hữu
tài sản có thể chuyển nhượng được, thì không lập bằng chứng từ điện tử là phải được
lập bằng văn bản truyền thống, được tạo nên từ chất liệu hữu hình và có những biện
pháp kỹ thuật chống làm giả và chống sao chụp, trong những trường hợp phải xuất trình
bản gốc để tham chiếu hoặc chứng minh.
4.2.3. Hình thức hợp đồng bằng hành vi cụ thể.
- Với ý nghĩa là phương tiện công bố ý chí của các bên hợp đồng, hình thức của hợp
đồng còn bao gồm cả việc biểu hiện ý chí của chủ thể ra bên ngoài bằng một hành vi cụ
thể - đó là hành động, là xử sự có ý thức của các bên.
16
Nguyễn Ngọc Bích
phát sinh hiệu lực, thì hợp đồng phải được lập tuân thủ các điều kiện luật định, trong đó
phải tuân thủ đúng qui định về hình thức hợp đồng.
- Khi pháp luật qui định hợp đồng phải được lập theo một hình thức xác định thì các
bên phải tuân thủ. Nếu hợp đồng không được lập đúng hình thức luật định, thì hợp đồng
đó bị coi là vi phạm “điều kiện” về hình thức. Hậu quả pháp lý của hợp đồng bịvi phạm
về hình thức là hợp đồng đó chưa được coi là hợp pháp và có hiệu lực. Ví dụ: pháp luật
qui định hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản có công
17
Nguyễn Ngọc Bích
Lớp: N02 – TL2
MSSV: 352321
Bộ môn luật hình sự: module 2
Bài tiểu luận học kỳ 1- 2011
chứng hoặc chứng thực (15, khoản 2 Điều 689). Như vậy, trong một số trường hợp luật
định thì hình thức của hợp đồng là một trong những yếu tố pháp lý quyết định hiệu lực
của hợp đồng
4.3.2. Hình thức của hợp đồng là cơ sở để xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng.
- Việc qui định bắt buộc về hình thức thể hiện, pháp luật cũng qui định thời điểm giao
kết hoặc thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dựa trên sự thể hiện ý chí hoàn tất ở một
mức độ nhất định, thể hiện qua các hình thức công bố ý chí bằng những biểu -hiện cụ
thể của hình thức hợp đồng.
- Điều 404 BLDS 2005: hầu hết các trường hợp, pháp luật qui định thời điểm giao kết
hợp đồng đều dựa vào hình thức của hợp đồng: (1) Hợp đồng bằng lời nói được giao
kết vào thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng; (2) Hợp đồng bằng
nghiệp…, nếu được thể hiện bằng lời nói hoặc bằng “giấy tay” thì không có giá trị ‘đối
kháng’ với những người thứ ba có liên quan.
- Trên cơ sở bảo vệ người thứ ba ngay tình và lợi ích của xã hội, phòng ngừa các trường
hợp lừa đảo, tẩu tán tài sản, để hợp đồng có giá trị đối kháng với người thứ ba, nhà
làm luật qui định một số hợp đồng phải tuân theo những hình thức, thủ tục nhất định:
công chứng, chứng thực hoặc đăng ký. Các hợp đồng được lập theo thủ tục chứng
thực, công chứng, đăng ký thường có giá trị tin cậy cao và an toàn pháp lý.
- Như vậy, để được người thứ ba thừa nhận và tôn trọng giá trị pháp lý, các giao dịch
bảo đảm phải được lập thành văn bản và phải được đăng ký, nếu pháp luật có qui định
như các trường hợp vừa nêu. Thông qua việc đăng ký, các bên trong hợp đồng đã
thôngtin cho người thứ ba biết về tài sản dùng làm đối tượng bảo đảm đã được sử 66
dụng vào việc bảo đảm. Mọi giao dịch về tài sản đó sau thời điểm đăng ký giao dịch
bảo đảm đều không có giá trị pháp lý, hoặc có thứ tự ưu tiên kém hơn so với bên đã
đăng ký giao dịch bảo đảm trước đó.
- Tóm lại, hợp đồng không tuân hình thức, thủ tục luật định có thể không làm hợp
đồng mất hiệu lực ràng buộc đối với các bên, nhưng không có hiệu lực “đối kháng”
với người thứ ba trong trường hợp có xung đột lợi ích với người thứ ba.
CHƯƠNG III. THỰC TRẠNG ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ
ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN
THIỆN.
- Hợp đồng dân sự là phương tiện quan trọng và phổ biến trong đời sống xã hội, nó xuất
hiện hàng ngày hàng giờ và mọi nơi. Nên việc vận dụng nó vào thực tiễn hết sức quan
trọng cần đòi hỏi một kiến thức pháp lí vững chắc. Bộ luật dân sự năm 2005 có nhiều
ưu điểm so với năm 1999. Tuy nhiên, việc quy định và áp dụng chưa thực sự mang
đúng giá trị đích thực mà pháp luật muốn đem lại. Sau đây là một số thực trạng và
phương hướng hoàn thiện mà theo đánh giá của em.
19
Nguyễn Ngọc Bích
Lớp: N02 – TL2
các qui định khác; hoặc có thể bỏ đoạn 2 khoản 2 Điều 401; bổ sung khoản 3 Điều 401;
sửa đổi, bổ sung Điều 134 BLDS 2005 theo hướng bãi bỏ cách giải quyết hậu quả pháp
lý của giao dịch vô hiệu như hiện nay, và thay vào đó là đường lối giải quyết mới, bằng
cách qui định các căn cứ cụ thể để công nhận, hoặc không công nhận giá trị pháp lý của
giao dịch, nếu giao dịch bị vi phạm hình thức mà các bên có tranh chấp.
20
Nguyễn Ngọc Bích
Lớp: N02 – TL2
MSSV: 352321
Bộ môn luật hình sự: module 2
Bài tiểu luận học kỳ 1- 2011
C. KẾT LUẬN
Hiệu lực hợp đồng là giá trị pháp lý của hợp đồng nhằm làm phát sinh các quyền và
nghĩa vụ của các bên tham gia, và hiệu lực rằng buộc mang tính cưỡng chế của hợp
đồng nhằm buộc các bên phải tôn trọng và phải thi hành nghiêm túc các quyền và nghĩa
vụ đó. Hiệu lực của hợp đồng cũng là nội dung cốt lõi thể hiện bản chất của hợp đồng.
Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng với tính chất là điều kiện để bảo cho hợp đồng được
lập hợp pháp và có giá trị pháp lý. Vấn đề các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng đã
được qui định khá cụ thể trong luật thực định.
21
Nguyễn Ngọc Bích
Lớp: N02 – TL2