Tư duy lý luận của đội ngũ hiệu trưởng các trường tiểu học hiện nay - một số vấn đề lý luận và thực tiễn (qua thực tế ở tỉnh Thanh Hóa - Pdf 25

Đại học quốc gia hà nội
Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị

Đỗ Thị Thanh Hương

Tư duy lý luận Của đội ngũ Hiệu trưởng
các trường tiểu học hiện nay - một số vấn đề
lý luận và thực tiễn (qua thực tế ở tỉnh Thanh Hóa)

Luận văn thạc sĩ Triết học

Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS. Hồ Trọng Hoài Hà nội - 2009
Mục lục
Mở đầu 1
Chương 1. Tư duy lý luận và vai trò của tư duy lý luận đối với hoạt
động quản lý của đội ngũ hiệu trưởng các trường tiểu học .7
1.1. Tư duy lý luận - khái niệm và đặc điểm 7
1.1.1. Tư duy lý luận 7
1.1.2. Một số đặc điểm cơ bản của tư duy lý luận 18
1.2. Thực chất hoạt động quản lý và vai trò của tư duy lý luận đối với hoạt
động quản lý của hiệu trưởng các trường Tiểu học 22
1.2.1. Thực chất hoạt động quản lý của người hiệu trưởng tiểu học 22
1.2.2. Vai trò của tư duy lý luận đối với hoạt động quản lý của hiệu trưởng
tiểu học 27
Chương 2. Thực trạng tư duy lý luận của đội ngũ hiệu trưởng các
trường tiểu học ở Thanh Hoá hiện nay .31
2.1. Năng lực tư duy lý luận của đội ngũ Hiệu trưởng các trường tiểu học ở
Thanh Hóa hiện nay - Ưu điểm và nguyên nhân 31
2.1.1. Ưu điểm 31
2.1.2. Nguyên nhân 41
2.2. Năng lực tư duy lý luận của đội ngũ Hiệu trưởng các trường tiểu học ở
Thanh Hóa hiện nay - Hạn chế và nguyên nhân 42

1
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Để tiếp tục đổi mới giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu của đất nước
trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, vấn
đề vai trò cực kỳ quan trọng là phải nâng cao năng lực quản lý và đổi mới cơ
chế quản lý đối với giáo dục và đào tạo. Yêu cầu đổi mới quản lý trường học
là rất bức thiết, bởi các vấn đề phức tạp nảy sinh đều có căn nguyên từ khâu
quản lý trường học. Tuy vậy, muốn đổi mới quản lý trường học thì trước hết
phải nâng cao năng lực quản lý của hiệu trưởng (và các phó hiệu trưởng, gọi
chung là cán bộ quản lý).
Năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý trường học phụ thuộc vào
rất nhiều yếu tố, trong đó có một yếu tố rất quan trọng mà lâu nay chưa được
coi trọng đúng mức, nhất là đối với đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học,
đó là năng lực tư duy lý luận. Bởi vì nhờ tư duy lý luận mà người quản lý có
thể nắm bắt chính xác bản chất của các hiện tượng. Đó là cơ sở để đưa ra các
quyết định một cách chính xác và kịp thời.
Hiện nay nhìn chung công tác quản lý giáo dục của các nhà trường
đang còn nhiều bất cập, thậm chí là yếu kém. Vì vậy, đã hạn chế nhiều đến sự
tiến bộ của giáo dục và đào tạo, trước hết là về chất lượng dạy và học, và có
khi còn là chỗ dựa cho tiêu cực nảy sinh. Đối với bậc tiểu học thì những hạn
chế này càng dễ nhận ra và càng đáng lưu tâm trước hết, vì đây là bậc học,
nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, có số trường lớp và số học sinh rất
đông đảo, và vì chất lượng và hiệu quả của giáo dục tiểu học liên quan đến
hầu như mọi gia đình và tất cả cộng đồng xã hội. Biểu hiện khá phổ biến ở
bậc học này là: giáo điều, rập khuôn, đến mức cứng nhắc, không dám đổi
mới, rụt rè trong sáng tạo, thiếu tầm nhìn rộng và lâu dài, hay lúng túng trước
những phát sinh mới, thường hay dùng các biện pháp đối phó "ăn đong" hơn
là các giải pháp "đón đầu", ra quyết định quản lý giáo dục thường dựa vào


những góc cạnh và hình thức thể hiện khác nhau, đã được đăng tải trên nhiều
sách, báo, tạp chí. Có thể kể đến như:
- Hồ Văn Thông: “Một số vấn đề tư duy và đổi mới tư duy hiện nay” -
Tạp chí Cộng sản, số 10 - 1987.
- GS.TS Nguyễn Ngọc Long: “Năng lực tư duy lý luận trong quá trình
đổi mới” của, Tạp chí Cộng sản, số 10 - 1987.
- GS.TS Phạm Ngọc Quang: “Yêu cầu mới về năng lực, trí tuệ của
Đảng trong giai đoạn hiện nay” Tạp chí Triết học, số 2 - 1994.
- Vũ Văn Viên: “Rèn luyện, nâng cao năng lực tư duy khoa học cho
sinh viên, học sinh”, Tạp chí Đại học và giáo dục chuyên nghiệp 2 - 1992.
Trong các bài báo trên các tác giả đã trình bày một cách tổng quát vai
trò của tư duy và tiếp cận ở tầm vĩ mô những yêu cầu về năng lực tư duy
trong giai đoạn hiện nay.
Vấn đề tư duy cũng thu hút nhiều tác giả chọn làm đề tài nghiên cứu
cho các luận văn Tiến sỹ, Thạc sỹ. Trong đó:
- Nguyễn Đình Trãi: “Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ
giảng viên dạy lý luận Mác - Lênin ở các trường chính trị tỉnh”. Luận án Tiến
sỹ Triết học.
- Vũ Đình Chuyên: “Nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán
bộ quản lý, lãnh đạo cấp huyện ở nước ta hiện nay” (qua thực tế tỉnh Kiên
Giang) - Luận văn thạc sỹ Triết học, Hà Nội - 2000.
- Vũ Ngọc Hoằng: “Nâng cao năng lực tư duy luận cho đội ngũ sĩ quan
chỉ huy ở đồn biên phòng trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sỹ Triết
học, Hà nội - 2004.
- Kiều Hồng Mai: “Nâng cao tư duy lý luận của cán bộ lãnh đạo cấp
huyện trong tình hình hiện nay qua khảo sát ở tỉnh Hà Tây”, Luận văn thạc sỹ
Triết học

4
Các công trình này đã phân tích thực trạng, nguyên nhân và đã đưa ra

* Mục đích:
Phân tích thực trạng tư duy lý luận của đội ngũ hiệu trưởng các trường
tiểu học ở tỉnh Thanh Hoá hiện nay, và đề xuất một số giải pháp góp phần
nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ này đáp ứng yêu cầu sự
nghiệp đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của đất nước.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phân tích vai trò của tư duy lý luận trong hoạt động quản lý của người
hiệu trưởng trường tiểu học.
- Khảo sát thực trạng trình độ tư duy lý luận của đội ngũ hiệu trưởng
trường tiểu học (qua thực tế của giáo dục Thanh Hóa).
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao trình độ tư duy lý
luận cho đội ngũ hiệu trưởng các trường tiểu học, đáp ứng yêu cầu nâng cao
chất lượng giáo dục và đào tạo của đất nước trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Năng lực tư duy lý luận của đội ngũ hiệu trưởng tiểu học.
- Phạm vi nghiên cứu: Năng lực tư duy lý luận của đội ngũ hiệu trưởng
tiểu học của tỉnh Thanh Hóa, biểu hiện qua hoạt động quản lý trong những
năm gần đây.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn vận dụng lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về con
người, về năng lực tư duy lý luận của người quản lý nói chung và đội ngũ
hiệu trưởng tiểu học nói riêng. Luận văn còn kế thừa kết quả nghiên cứu của
tác giả đi trước về vấn đề này.

6
- Luận văn sử dụng các tài liệu của cấp ủy Đảng, Chính quyền và các
tài liệu liên quan đến đề tài của Ngành, Sở và kết quả khảo sát của tác giả ở
các hiệu trưởng trên địa bàn Thanh Hóa.
- Để hoàn thành luận văn này, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên


1.1. Tư duy lý luận - khái niệm và đặc điểm
1.1.1. Tư duy lý luận
1.1.1.1. Khái niệm tư duy
Để xác định nội dung của khái niệm tư duy lý luận, nhằm phân tích vai
trò của tư duy lý luận đối với hoạt động quản lý của đội ngũ hiệu trưởng các
trường tiểu học, trước hết phải làm rõ nội dung khái niệm tư duy và tư duy lý
luận.
Tư duy là đối tượng nghiên của nhiều khoa học như: triết học, tâm lý
học, sinh lý học thần kinh, ngôn ngữ học, lôgíc học Mỗi khoa học nghiên
cứu tư duy ở một góc độ khác nhau. Chẳng hạn, tâm lý học nghiên cứu tư duy
trong mối quan hệ với hành vi của con người, sinh lý học thần kinh nghiên
cứu tư duy trong mối quan hệ với hoạt động sinh lý của bộ não người. Triết
học nghiên cứu tư duy trong quá trình nhận thức với các mối quan hệ giữa tri
thức và hiện thực, giữa chủ thể và khách thể
Trong lịch sử triết học, nhiều nhà triết học khi đề cập đến lý luận nhận
thức cũng đã đề cập đến các cấp độ khác nhau của tư duy. Chẳng hạn: Đê-mô-
crít (460 - 370 TCN) đã nêu ra 2 dạng nhận thức: "mờ tối" - nhận thức qua
cảm giác là nền tảng cho nhận thức "trong sáng" - nhận thức thông qua lôgic,
phán đoán và trí tuệ. Nhưng ông chưa thấy được sự chuyển hoá giữa chúng và
cũng mới thấy sự khác nhau giữa chúng đơn thuần về mặt lượng. Ông coi tư
duy là hỗn hợp các nguyên tử trong cơ thể con người [48, tr.172-173]; Pla-tôn
(427 - 347 TCN) cho rằng, mọi tri thức đều mang tính khái quát cao, đem lại
chân lý và cơ sở cho khoa học, còn sản phẩm của kinh nghiệm, nhận thức cảm

9
tính chỉ là những kiến giải, tưởng tượng về các sự vật đơn nhất. Theo ông,
trong linh hồn con người đã chứa đựng tiềm tàng mọi tri thức, mọi sự có thể
hiểu biết. Vì vậy, ông xem phương pháp cơ bản của nhận thức là sự hồi
tưởng, là sự liên kết các chân lý được hồi tưởng lại. Chỉ có linh hồn trí tuệ

thức cơ bản, cả thế giới chỉ là sự tổ hợp của các cảm giác [48, tr.30].
Phơ - bách (1804 - 1872) cho rằng, nhận thức là một quá trình gồm hai
giai đoạn: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. Ông nhấn mạnh bản chất
sinh học của con người - chủ thể của nhận thức là con người nói chung với tư
cách là sinh vật đau khổ có cảm giác, có tư duy, con người đó đứng ngoài xã
hội phụ thuộc một cách thụ động vào giới tự nhiên. Theo ông, lý tính có vai
trò nối liền những cái rời rạc mà con người nhận thức được. Ông cho rằng,
con người đọc được quyển sách về tự nhiên là nhờ có tư duy. Tư duy là giai
đoạn cao của nhận thức [48, tr.450- 452]. Hê-ghen (1770 - 1831) cho rằng, tư
duy rộng hơn năng lực chủ quan thuần tuý. Ông hiểu tư duy không chỉ là ý
thức cá nhân của con người mà còn hiểu nó là ý niệm tuyệt đối sáng tạo ra thế
giới và con người. Theo ông, "tư duy cho nó" là ý niệm tuyệt đối tạo nên bản
chất của toàn bộ hiện thực còn "tư duy cho nó" mới là tư duy đích thực, tư
duy phát triển ở giai đoạn cao nhất, tư duy của mỗi con người phải hoạt động
theo những quy luật chung của tư duy, tức "tư duy tự nó" [48, tr.230-232].
Qua xem xét một số quan điểm cơ bản về lý luận nhận thức trong lịch
sử triết học, ta thấy dù theo lập trường duy tâm hay duy vật, trong sự kế thừa
lẫn nhau, các nhà triết học trước Mác đã đạt những thành quả nhất định trong
việc phân định các giai đoạn nhận thức, khẳng định vai trò của cảm giác, của
kinh nghiệm hoặc của lý tính tư duy. Tuy nhiên, vẫn chưa có quan điểm nào
giải quyết một cách đúng đắn về quá trình nhận thức, về mối quan hệ biện
chứng giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính trên lập trường duy vật

11
biện chứng. Vì vậy, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng nhận thức triết học về
tư duy của các nhà triết học trước Mác vẫn còn hạn chế.
Triết học duy vật biện chứng nghiên cứu tư duy trong mối quan hệ với
thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Tư duy
hình thức cao nhất của sự phản ánh tích cực hiện thực khách quan bởi con
người. Đó là trình độ phản ánh khái quát hóa, trừu tượng hóa và mang tính

cầu đòi hỏi của cuộc sống, tất yếu tư duy phải được nâng lên ở trình độ cao
hơn.
Tư duy lý luận là trình độ cao nhất của tư duy. ở cấp độ này, thế giới
hiện thực được nhận thức ở trình độ lý luận dưới dạng các khái niệm, phạm
trù, quy luật, đóng vai trò phương pháp luận trong nhận thức khoa học và hoạt
động thực tiễn. Tư duy lý luận dựa trên các phương tiện, phạm trù, quy luật.
Các khái niệm, phạm trù, quy luật về một lĩnh vực nào đó được sắp xếp theo
một trật tự lôgíc nhất định, hình thành một hệ thống lý luận, đóng vai trò
phương pháp luận trong nhận thức khoa học và hoạt động thực tiễn.
Tư duy lý luận là hình thức cao nhất của tư duy, nó chính là quá trình
tiếp cận một cách sáng tạo, nắm bắt, nhận thức và tái hiện lại hiện thực khách
quan. Là hình thức cao nhất của tư duy, tư duy lý luận nắm bắt, vận dụng các
khái niệm, phạm trù theo những nguyên tắc logic chặt chẽ nhằm đạt đến chân
lý. Đương nhiên quá trình này không phải giản đơn, ngẫu nhiên, rời rạc mà là
có quy trình, có hệ thống cũng như mang tính chỉnh thể cao.
Tư duy lý luận - có khả năng phản ánh khái quát, gián tiếp những thuộc
tính, mối liên hệ bên trong, bản chất của sự vật, hiện tượng. Từ đó, các sự vật,
hiện tượng ấy được phản ánh một cách chính xác, sâu sắc. Hơn nữa, những
sản phầm của tư duy lý luận (những tri thức, những quan điểm, quan niệm của

13
con người) phải đạt tới trình độ lý luận. Thông qua những giả thuyết và lý
thuyết với tư cách là những công cụ chủ yếu của tư duy lý luận, trên cơ sở đó,
tư duy lý luận nâng nhận thức của con người lên một trình độ cao hơn về chất;
nó không những nhận thức được thực chất của cái đã, đang có mà còn là cái
sẽ xảy ra, tức là những dự báo khoa học về sự vật, hiện tượng trong thế giới
khách quan. Đây chính là sức mạnh của tư duy lý luận, nên nó đem lại nhận
thức sâu sắc, đầy đủ, hệ thống, mang tính chỉnh thể về quy luật, bản chất của
hiện thực khách quan. Hơn nữa, với tư duy lý luận, chủ thể tư duy mang đặc
tính khoa học và sử dụng những tri thức lý luận lên hàng đầu, và sử dụng

hiện thực khách quan dưới dạng tinh thần theo con đường khái quát hóa, trừu
tượng hóa đi sâu vào nắm bắt quy luật bản chất của hiện thực khách quan.
+ Khi đã có hình ảnh về hiện thực khách quan ở cấp độ bản chất của
nó, chủ thể tư duy sử dụng nó như là công cụ, phương tiện (phương pháp luận
và phương pháp) làm cho hoạt động thực tiễn của con người đạt được mục
đích hiệu quả. Đây chính là quá trình cải tạo hiện thực khách quan của tư duy
lý luận thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
Các quá trình này của tư duy không biệt lập tách rời nhau, mà chúng
hòa quyện, đan xen, xâm nhập chuyển hóa, bổ sung và làm điều kiện, tiền đề
cho nhau, từ đó tư duy lý luận tiến gần tới khách thể nghiên cứu.
Nghĩa thứ 2: tư duy lý luận được hiểu như là phương pháp tư duy. Đây
là cách nhìn nhận, đánh giá vốn có của tư duy trong quá trình phản ánh tái tạo
hiện thực khách quan. Tư duy lý luận hiểu theo nghĩa này được hiểu thông
qua các cấp đối lập của nó: tư duy logic đối lập với tư duy phi lôgic, là tư duy
khoa học đối lập với tư duy kinh nghiệm… Nhờ có tư duy lý luận mà chủ thể
tác động khoa học rất coi trọng và biết sử dụng nó như một phương pháp để

15
phát hiện mâu thuẫn và những tình huống có vấn đề, biết tìm kiếm sáng tạo
những phương pháp, biện pháp để giải quyết tình huống ấy.
Nghĩa thứ 3: tư duy lý luận với tư cách là kết quả của quá trình tư duy,
những kết quả đã có, đã hình thành như là sản phẩm của trí tuệ cao có được
do sự tích lũy tri thức trong hoạt động hàng ngày của con người về hiện thực.
ở đây, tư duy lý luận là cái được khái quát lên, hình thành lên từ kinh nghiệm.
Bởi thế nó có thể hiểu là cái đối lập, cái phủ định của tư duy kinh nghiệm trên
một “tầng nấc”, trình độ cao hơn về chất so với tri thức kinh nghiệm.
Tư duy kinh nghiệm thể hiện một cấp độ tư duy con người, nó cũng thể
hiện năng lực trừu tượng hóa của trí tuệ con người tuy còn ở trình độ thấp,
chủ yếu là duy cảm chứ chưa hẳn là duy lý. Bằng tư duy kinh nghiệm, xuất
phát từ thực tiễn cuộc sống, người ta có thể đúc rút ra được những kết luận

nghiệm nhờ sức mạnh ở sự trừu tượng hóa và khái quát hóa của tư duy.
Tư duy của chúng ta được khởi nguồn, phát sinh, phát triển trong quá
trình thực tiễn lao động sản xuất. Từ đó, con người mới đúc rút kinh nghiệm
rồi hệ thống hóa, khái quát hóa thành lý luận. Đến một chừng mực nhất định,
lý luận mới tách ra hoạt động tương đối độc lập, tuy nhiên chúng vẫn có mối
liên hệ mật thiết với thực tiễn.
Thực tế chứng minh rằng, tư duy lý luận ngày càng đóng vai trò trong
sự phát triển của các khoa học cũng như thực tiễn xã hội. Sự ra đời và phát
triển của các khoa học vẫn dựa trên cơ sở thực tiễn ngày càng phức tạp, sự tác
động trở lại của các khoa học đối với thực tiễn ngày càng to lớn và chủ động.
Ph. Ăngghen đã chỉ rõ: “Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa
học thì không thể không có tư duy lý luận” [28, tr.489].
Như vậy, tư duy lý luận và thực tiễn sinh động đa dạng, phong phú đó
có một vòng khâu nối tiếp nhau: Thực tiễn - lý luận và lý luận - thực tiễn.

17
Thực tiễn sẽ mù quáng tự phát, quanh co nếu không có lý luận dẫn đường.
Ngược lại, lý luận sẽ lạc hậu, bảo thủ, sáo rỗng, kinh nghiệm, mất đi tính khoa
học nếu xa rời thực tiễn.
Trên cơ sở gắn với thực tiễn, tư duy lý luận không những tư duy bằng
tri thức lý luận mà còn tư duy bằng phương pháp khoa học. Một phương pháp
rất quan trọng của tư duy lý luận khoa học là từ trừu tượng đến cụ thể trong tư
duy. Các Mác đã đánh giá rất cao khả năng trừu tượng hóa của tư duy: “…khi
phân tích hình thái kinh tế, người ta không thể dùng kính hiển vi hay những
phản ứng hóa học. Sức trừu tượng hóa phải thay thế cho cả hai cái đó” [27,
tr.16]. Tư duy lý luận khoa học chứa đựng trong nó khả năng trở thành
phương pháp. Bởi lẽ, lý luận là lập trường, quan điểm, nguyên lý, quy luật mà
phương pháp là hệ thống những nguyên tắc chuẩn mực, yêu cầu, thao tác
được rút ra từ những tri thức lý luận để điều chỉnh hoạt động của con người
nhằm đạt được những mục đích nhất định.

người kinh nghiệm chủ nghĩa đã hạ thấp lý luận xuống trình độ kinh nghiệm,
khó có thể tiếp thu được chủ nghĩa Mác - Lênin một cách thực chất, thấu đáo,
khách quan, khoa học.
Khác với tư duy kinh nghiệm, tư duy lý luận khoa học gắn liền với khả
năng phê phán và tự phê phán, chính điều này đảm bảo cho nhận thức thực sự
là một hoạt động nỗ lực cao của lý trí. Người có trình độ tư duy lý luận khoa
học biết cách vượt qua giới hạn của kinh nghiệm, lấy sức mạnh của tư duy lý
luận khoa học để nắm lấy thực chất, bản chất, quy luật vận động của sự vật,
hiện tượng, tìm tòi cái tất yếu, những mối liên hệ mang tính quy luật, khi mà
tư duy kinh nghiệm không thể vượt xa hơn thì tư duy lý luận khoa học bắt đầu
tỏ là ưu thế vốn có của nó.

19
Trong thời đại công nghệ thông tin, tư duy biện chứng vẫn còn nguyên
giá trị, vẫn là đỉnh cao của trí tuệ nhân loại, tư duy đó đã được bổ sung, phát
triển, hoàn thiện trong tình hình mới. Thời đại ngày nay, đang đòi hỏi tư duy
biện chứng duy vật cần hoàn thiện hơn nữa. Đồng thời, cũng tạo ra những tiền
đề khách quan cho sự phát triển hoàn thiện phương pháp tư duy đó. Song,
điều quan trọng là mỗi chủ thể phải không ngừng đổi mới nâng cao năng lực
trình độ tư duy của mình ngang tầm với thời đại mới.
Cái cần cho ta hiện nay đó là tư duy lý luận biện chứng duy vật Mác-xít
một loại hình tư duy được hình thành trên cơ sở đúc kết, chắt lọc những tri
thức tinh túy nhất của khoa học và nó là sản phẩm kết tinh của tư duy nhân
loại. Bao chứa trong đó hạt nhân cơ bản và hợp lý của khoa học hiện đại là
yếu tố duy vật và yếu tố biện chứng - mà hạt nhân của tư duy lý luận Mác-xít
là tư duy triết học Mác-xít.
Lý luận Mác - Lênin là một minh chứng thuyết phục cho vai trò lý luận
khoa học trong tiến trình lịch sử cũng như trong điều kiện hiện nay. Do đó, để
trình độ tư duy gắn với kết quả của việc rèn luyện năng lực tư duy, nên ta phải
hiểu trình độ tư duy như là cấp độ ở những khả năng, hoạt động nhạy bén của

những khách thể trừu tượng, những khái niệm, những phạm trù, những quy
luật. Từ những cái trừu tượng, tư duy lý luận tiến hành tổng hợp, khái quát
thành cái cụ thể trong tư duy. Bởi thế, sản phẩm, kết quả mà tư duy lý luận có
được là sự phản ánh khái quát, trừu tượng cao đối với khách thể hiện thực.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ:“Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm
của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại
trong quá trình lịch sử” [62, tr.497].

21
Tuy nhiên, do phản ánh khái quát và trừu tượng nên tư duy lý luận dễ
xa rời thực tế, dễ sa vào ảo tưởng. Bởi vậy muốn xác định tính chân lý của các
tư tưởng thì lý luận phải gắn liền với thực tiễn.
Thứ hai: Tư duy lý luận phản ánh một cách sâu sắc bản chất của sự vật
hiện tượng. Tư duy kinh nghiệm do giới hạn phản ánh ở từng lĩnh vực, từng
sự kiện riêng lẻ nên tư duy kinh nghiệm thường dừng lại ở mô tả, phân loại
các dữ liệu thu nhận được từ quan sát và thí nghiệm, tư duy kinh nghiệm tuy
đã mang tính trừu tượng và khái quát, song mới chỉ là bước đầu còn nhiều hạn
chế. Tư duy lý luận mang tính trừu tượng và khái quát cao, chủ yếu hướng
vào phân tích, tổng hợp, khái quát chủ yếu tìm ra mối liên hệ bên trong quy
định sự tồn tại, vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng, nên tư duy lý
luận đem lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, về tính quy luật của các sự vật
khách quan. Vì vậy, tư duy lý luận có khả năng đưa ra những dự báo khoa
học, định hướng cho hoạt động thực tiễn. V.I.Lênin khẳng định: “Không có lý
luận cách mạng thì không thể có phong trào cách mạng” [3, tr.30].
Thứ ba: Tư duy lý luận phản ánh sự vật hiện tượng trong tính chỉnh
thể, hệ thống. Thế giới khách quan tồn tại rất đa dạng, phong phú nhưng bất
kỳ một sự vật, hiện tượng nào cũng tồn tại trong một chỉnh thể thống nhất
giữa cái nên trong ổn định, bản chất, bị che đậy với cái bên ngoài phong phú,
sinh động, ngẫu nhiên, hiện tượng. Nhiệm vụ của tư duy lý luận không dừng
lại ở nhận thức hiện tượng, bề ngoài mà phải đi sâu vào bản chất, gạt bỏ cái


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status