Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật hiện hành – Một số vấn đề lý luận và thực tiền - Pdf 26

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết, bảo hiểm chính là biện pháp hữu hiệu và chắc chắn trong
việc khắc phục các tổn thất tài chính mà rủi ro mang đến. Sự ra đời và tồn tại của các
phương thức bảo hiểm đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội của mọi
cá nhân, tổ chức và cả quốc gia.
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự là một cơ chế đảm bảo chắc chắn cho việc bồi
thường thiệt hại, khắc phục kịp thời về tài chính đối với người bị thiệt hại và người có
trách nhiệm bồi thường. Ngày nay, trong xu thế hội nhập cùng nền kinh tế khu vực và
thế giới, các sản phẩm bảo hiểm ngày càng đa dạng và phong phú hơn, các đối tượng
quan tâm đến bảo hiểm nói chung, bảo hiểm trách nhiệm dân sự nói riêng cũng gia
tăng. Cùng với đó là sự gia tăng những tranh chấp trong quá trình ký kết và thực hiện
hợp đồng; những hành vi trục lợi bảo hiểm ngày càng tăng và trở nên tinh vi hơn,
cũng bởi vì những kiến thức của người tham gia bảo hiểm còn hạn chế, cùng với đó
những quy định của pháp luật còn chưa chặt chẽ đã tạo lỗ hổng cho các hoạt động
gian lận bảo hiểm. Vì lẽ đó, những phân tích, lý giải cụ thể các quy định của pháp luật
về các yếu tố cơ bản của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự, cũng như thực tiễn
về vấn đề này là rất cần thiết. Nhận thức được tính cấp thiết của vấn đề, trong khuôn
khổ bài học kỳ em xin trình bày vấn đề “ Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự theo
quy định của pháp luật hiện hành – Một số vấn đề lý luận và thực tiền.”
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM
Có thể nói, bảo hiểm là một hình thức khắc phục thiệt hại cho cá nhân, tổ chức khi
gặp những sự kiện rủi ro gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản của mình. Khi
có rủi ro xảy ra, người tham gia bảo hiểm được tổ chức bảo hiểm bồi thường thiệt hại
nhằm khắc phục hậu quả xảy ra. Mức độ bồi thường bao nhiêu phụ thuộc vào hợp
đồng bảo hiểm mà các bên thoả thuận. Trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm thì hợp
đồng bảo hiểm là một nội dung cơ bản, quan trọng và không thể thiếu.
Có lẽ vì thế mà trong Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (Luật KDBH), đã quy
định về Hợp đồng bảo hiểm ở ngay chương II của luật sau phần những quy định
chung. Khoản 1 điều 12 Luật kinh doanh bảo hiểm định nghĩa: "Hợp đồng bảo hiểm

thiệt hại.
Bảo hiểm thiệt hại là loại hình bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là những giá trị
vật chất tính được thành tiền. Loại hình bảo hiểm thiệt hại có bản chất là sự thỏa
thuận bồi thường toàn bộ hay một phần giá trị thiệt hại vật chất đã xảy ra cho người
tham gia bảo hiểm hoặc cho người được bảo hiểm, trên cơ sở số phí bảo hiểm tương
ứng mà khách hàng tham gia bảo hiểm phải đóng góp cho nhà cung cấp dịch vụ bảo
hiểm. Trong thực tiễn, người ta từng biết đến hai loại hình bảo hiểm thiệt hại đó là
bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự. Như vậy, để yêu cầu doanh nghiệp
bảo hiểm bồi thường thì nhất thiết người tham gia bảo hiểm phải chứng minh được
rằng đã có thiệt hại xảy ra cho tài sản của họ (trường hợp đối với bảo hiểm tài sản)
hoặc đã phát sinh trách nhiệm dân sự - trách nhiệm bồi thường của họ đối với người
thứ ba (trường hợp bảo hiểm trách nhiệm dân sự) Vì vậy, trong hợp đồng bảo hiểm
trách nhiệm dân sự đối tượng được hướng đến là trách nhiệm về bồi thường thiệt hại,
“ Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự là trách nhiệm dân sự của
người tham gia bảo hiểm đối với bên thứ ba theo quy định của pháp luật ”. (Điều 52
Luật kinh doanh bảo hiểm)
3
Đây chính là điểm khác biệt giữa loại hình bảo hiểm thiệt hại với các loại hình
bảo hiểm khác như bảo hiểm con người mà ở trong đó, yếu tố thiệt hại không nhất
thiết là cần có.
Thứ hai, trong hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự, lỗi của người tham gia
bảo hiểm trong khi thực hiện hành vi gây thiệt hại cho người thứ ba chính là cơ sở để
phát sinh trách nhiệm dân sự của người tham gia bảo hiểm.
Trong khi thực hiện hành vi gây thiệt hại cho người thứ ba chính là cơ sở để
phát sinh trách nhiệm dân sự của người tham gia bảo hiểm đối với người thứ ba và do
đó, cũng làm cơ sở để làm phát sinh trách nhiệm bồi thường của bên bảo hiểm đối với
người thứ ba, thay cho bên tham gia bảo hiểm.
Yếu tố lỗi trong trường hợp này được hiểu là lỗi vô ý hoặc cố ý vi phạm quy
định của pháp luật mà gây ra thiệt hại cho người thứ ba, chứ không phải cố ý trực tiếp
gây thiệt hại nhằm mục đích trục lợi. Trên thực tế lỗi trong trách nhiệm dân sự là lỗi

Đối với thiệt hại về con người, những thiệt hại này khó có thể đo được bằng tiền và ở
những người khác nhau thì mức độ thiệt hại có thể khác nhau nhưng với mục đích an
ủi, động viên đối với những người bị thiệt hại và thân nhân của họ, toàn án có thể
phán quyết bằng những khoản tiền nhất định.
- Có mối quan hệ nhân – quả giữa hành vi gây thiệt hại của người tham gia
bảo hiểm và hậu quả thiệt hại của bên thứ ba. Được coi là có mối quan hệ nhân quả
khi thiệt hại xảy ra đúng là kết quả tất yếu của hành vi gây thiệt hại do người tham gia
bảo hiểm thực hiện và ngược lại, những hành vi đó thực sự là nguyên nhân trực tiếp
của thiệt hại xảy ra.
Thứ tư, trong hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự, doanh nghiệp bảo hiểm
chỉ phải chịu trách nhiệm bồi thường khi người được bảo hiểm nhận được yêu cầu
phải bồi thường của người bị thiệt hại.
Nếu đã phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhưng người thứ ba không
đòi người tham gia bảo hiểm phải bồi thường, thì doanh nghiệp bảo hiểm cũng không
phải chịu trách nhiệm đối với người tham gia bảo hiểm. Việc bồi thường thiệt hại có
thể là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, cũng có thể là bồi thường thiệt hại theo
5
hợp đồng. Đối với việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì người thứ ba có thể là
bất kì tổ chức hoặc cá nhân nào bị thiệt hại. Còn bồi thường thiệt hại theo hợp đồng
thì người thứ ba được xác định cụ thể là người có một quan hệ hợp đồng đối với
người tham gia bảo hiểm và bị thiệt hại từ hợp đồng đó do hành vi của người tham gia
bảo hiểm gây ra. Hợp đồng bảo hiểm chỉ tồn tại giữa người tham gia bảo hiểm và
doanh nghiệp bảo hiểm, người thứ ba không có quyền trực tiếp yêu cầu doanh nghiệp
trả tiền bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Nếu pháp luật không
có quy định khác thì người thứ ba chỉ có quyền đòi bồi thường đối với người tham gia
bảo hiểm, trên cơ sở đó doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bồi thường cho người tham
gia bảo hiểm và trách nhiệm bồi thường cho người thứ ba thuộc về người tham gia
bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm có thể thoả thuận về
việc doanh nghiệp bảo hiểm sẽ bồi thường trực tiếp cho người thứ ba bị thiệt hại.
Trong một số trường hợp, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt

họ đã tham gia bảo hiểm và hợp đồng đó đang có hiệu lực pháp luật . Nghĩa là họ luôn
phải mang theo bên mình một bằng chứng chứng minh hợp đồng bảo hiểm đang có
hiệu lực. Vì vậy hình thức của hợp đồng bảo hiểm này thường được thiết kế dưới
dạng giấy chứng nhận bảo hiểm.
Đơn bảo hiểm.
Đơn bảo hiểm thường là hình thức của hợp đồng bảo hiểm tự nguyện, có thể có
các dạng khác nhau và thường bao gồm nhiều trang. Các thông tin ghi trên đơn chi
tiết, cụ thể tất cả các vấn đề liên quan đến hợp đồng bảo hiểm: tên, địa chỉ của chủ
doanh nghiệp bảo hiểm; bên mua bảo hiểm; đối tượng bảo hiểm; số tiền bảo hiểm;
phạm vi bảo hiểm; điều kiện bảo hiểm; điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm; thời
hạn bảo hiểm; mức phí và phương thức trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường; giải quyết
tranh chấp. Đơn bảo hiểm thường kèm theo các phụ lục để chi tiết hoá các thông tin
đặc điểm của từng khách hàng cụ thể, đồng thời giải thích thuật ngữ trong đơn bảo
hiểm. Nội dung đơn bảo hiểm gồm phần mở đầu; phần quy định về các điều khoản
7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status