MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC …………………………………………………………………………....1
LỜI NÓI ĐẦU ………………………………………………………………………..2
NỘI DUNG
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ
1.
Khái
niệm
hợp
đồng
dân
sự
…………………………………………………....2
2.
Hiệu
lực
của
hợp
……………………………………...5
2.
Điều
kiện
về
mục
của
hợp
đồng………………………………...6
3.
Điều
kiện
về
sự
tự
nguyện
Phương
hướng
hoàn
thiện………………………………………………………13
KẾT LUẬN …………………………………………………………………………..14
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………...15
1
LỜI NÓI ĐẦU
Bill Gate – một trong những người giàu có nhất trên thế giới đã từng
nhận định rằng: “ Tính chặt chẽ của hợp đồng chính là yếu tố duy trì sự ổn
định và thành công của các hoạt động kinh doanh”. Từ trước đến nay, hợp
đồng dân sự luôn là loại giao dịch dân sự mang tính chất phổ biến và thông
dụng nhất trong việc phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự.
Nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế hiện nay khiến
cho chúng ta ngày càng quan tâm đến các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
bởi chính nó là cơ sở pháp lý quan trọng đối với các bên tham gia giao kết hợp
đồng, đồng thời cũng góp phần tạo hành lang pháp lý an toàn cho các chủ thể
tham gia quan hệ hợp đồng, thúc đẩy sự phát triển giao lưu dân sự thương
mại.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, em xin lựa chọn đề tài: “Các
điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự theo quy định của pháp luật Việt
Nam hiện hành – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn.”
NỘI DUNG
trường hợp pháp luật có quy định.
2.
Hiệu lực của hợp đồng
Việc quy định hiệu lực pháp luật của hợp đồng là một trong những vấn đề
quan trọng trong chế định hợp đồng dân sự. Nó nhằm xác định thời điểm phát
sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia trong quan
hệ hợp đồng. Kể từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực pháp luật, bên có nghĩa vụ
bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ đối với bên có quyền. Nếu các bên giao kết
3
hợp đồng không thực hiện nghĩa vụ đã quy định trong hợp đồng, sẽ phải chịu
những hậu quả pháp lý nhất định theo hình thức do họ thỏa thuận hoặc do
pháp luật quy định.
Hợp đồng dân sự được giao kết hợp pháp sẽ có hiệu lực từ thời điểm giao
kết trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc do pháp luật có quy định khác.
Điều này có nghĩa, hợp đồng hợp pháp có giá trị bắt buộc đối với các bên như
nghĩa vụ được quy định tại pháp luật tại thời điểm các bên giao kết hợp đồng.
Khi hợp đồng dân sự được ký kết phù hợp với các điều kiện về chủ thể, nội
dung, hình thức và thủ tục của hợp đồng được quy định trong pháp luật, thì
hợp đồng đó có hiệu lực bắt buộc đối với các bên. Khi đó, những nghĩa vụ
phát sinh từ hợp đồng phải được các bên thực hiện một cách đầy đủ.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận với nhau về
việc sửa đổi hay hủy bỏ hợp đồng. Khi các bên đã thỏa thuận với nhau hoặc
pháp luật có quy định về điều kiện sửa đổi hay hủy bỏ hợp đồng thì các bên
phải tuân thủ những điều kiện đó. Nếu một bên tự ý thay đổi hợp đồng mà
không có sự đồng ý của bên kia là vi phạm hợp đồng. Khi các bên không thỏa
thuận được với nhau về những điều kiện sửa đổi hay hủy bỏ của hợp đồng, thì
đồng hợp đồng, có quyền, nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng và phải chịu trách
nhiệm về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đó.
Chủ thể giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự phải có ít nhất từ hai bên trở
lên, vì hợp đồng dân sự là một giao dịch pháp lý song phương hay đa phương.
Các chủ thể khi giao kết, thực hiện hợp đồng đều phải có tư cách chủ thể tức
là phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật đối với một chủ thể
của quan hệ dân sự. Chủ thể cứ hợp đồng dân sự có thể là cá nhân hay pháp
nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác có năng lực hành vi dân sự.
Cá nhân:
Hợp đồng dân sự do cá nhân xác lập chỉ có hiệu lực khi phù hợp với mức
độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân (quy định tại Bộ luật dân sự năm 2005
từ Điều 17 đến Điều 23)
-
Người từ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trù
trường hợp bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi, tuyên bố hạn chế năng
lực hành vi. Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ được quyền xác lập
mọi hợp đồng dân sự.
5
-
Người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có năng lực hành vi dân
sự chưa đầy đủ thì việc xác lập, thực hiện các hợp đồng của họ phải được
người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu
sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác.
“Giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp
luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.
Ðiều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép
chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.
6
Ðạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người
trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.”
Nội dung của hợp đồng là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các bên
chủ thể tham gia hợp đồng được thể hiện trong các điều khoản của hợp đồng.
Mục đích của hợp đồng là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được
khi xác lập hợp đồng đó.
Nội dung của hợp đồng bao gồm nhiều điều khoản như đối tượng, giá, địa
điểm, thời gian thực hiện hợp đồng… Bất kỳ điều khoản nào trong nội dung
của hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội thì hợp
đồng đó bị coi là vô hiệu. Tương tự như vậy, mục đích của hợp đồng mà vi
phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái với đạo đức xã hội thì hợp đồng cũng
vô hiệu.
3.
Điều kiện về sự tự nguyện của hợp đồng
Điều 4 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Quyền tự do cam kết, thoả
thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu
cam kết, thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo
đức xã hội.
Trong quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp
đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe doạ, ngăn cản bên nào…”
Sự tự nguyện ở đây bao gồm các yếu tố cấu thành là tự do ý chí và bày tỏ ý
hành vi bạo lực vật chất hoặc sự khủng bố tinh thần, làm bên kia tê liệt ý chí
hoặc làm mất khả năng kháng cự nên đã xác lập hợp đồng trái với nguyện
vọng đích thực của họ.
Hợp đồng xác lập tại thời điểm người xác lập không nhận thức và làm chủ
được hành vi của mình: Điều 133 Bộ luật dân sự quy định “Người có năng
lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không
nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Toà án
tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu”. Thời điểm không nhận thức và làm
chủ được hành vi của mình có thể là do dùng rượu, bia hay các chất kích thích
khác làm tạm thời mất đi khả năng nhận thức của họ. Trong trường hợp này,
8
họ phải chứng minh được trong lúc giao kết hợp đồng, họ đang ở trong tình
trạng không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình.
4.
Điều kiện về hình thức của hợp đồng
Hình thức của hợp đồng dân sự là phương thức bày tỏ ý chí của các bên
tham gia quan hệ hợp đồng dân sự, là phương tiện để ghi nhận nội dung mà
các chủ thể đã thỏa thuận. Tùy vào độ tin tưởng lẫn nhau của các bên giao kết
hợp đồng mà có thể thỏa thuận, lựa chọn một hình thức hợp đồng cụ thể. Tại
điều 401 Bộ luật dân sự đã quy định:
1.
Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc
bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải
được giao kết bằng một hình thức nhất định.
ghi nhận nội dung giao kết hợp đồng bằng một văn bản. Trong văn bản đó,
các bên phải ghi đầy đủ những nội dung cơ bản của hợp đồng và cùng ký tên
xác nhận vào văn bản. Khi có tranh chấp, hợp đồng được giao kết bằng hình
thức văn bản tạo ra chứng cứ pháp lý chắc chắn hơn so với hình thức miệng.
Vì vậy, đối với những hợp đồng mà việc thực hiện không cùng lúc với việc
giao kết thì các bên thường chọn hình thức này.
-
Hình thức có chứng nhận, chứng thực:
Đối với những hợp đồng có tính chất phức tạp, dễ xảy ra tranh chấp và đối
tượng của nó là những tài sản mà Nhà nước cần phải quản lý, kiểm soát khi
chúng được dịch chuyển từ chủ thể này sang chủ thể khác thì các bên cần phải
lập thành văn bản có công chứng, chứng thực. Hợp đồng được lập ra theo hình
thức này có giá trị chứng cứ cao nhất. Vì vậy, đối với những hợp đồng mà
pháp luật không yêu cầu phải lập theo hình thức này nhưng để quyền lợi của
mình được đảm bảo, các bên vẫn có thể chọn hình thức này để giao kết.
Mối quan hệ giữa hình thức và hiệu lực của hợp đồng dân sự:
-
Hình thức hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng,
nếu pháp luật có qui định. Khi pháp luật qui định hợp đồng phải được lập
theo một hình thức xác định thì các bên phải tuân thủ. Nếu hợp đồng
không được lập đúng hình thức luật định, thì hợp đồng đó bị coi là vi phạm
điều kiện về hình thức. Hậu quả pháp lý của hợp đồng bị vi phạm về hình
thức là hợp đồng đó chưa được coi là hợp pháp và có hiệu lực.
-
khi hợp đồng ký kết, theo yêu cầu của nguyên đơn, đôi bên đã ký kết hợp
đồng mượn nhà tại Phòng công chứng nhằm mục đích để bên cho thuê được
lợi khi nộp thuế cho Nhà nước. Hợp đồng này cũng bị tòa tuyên xử vô hiệu do
giả tạo.
Tuy nhiên trên thực tế, không phải trường hợp nào cũng dễ xác định hợp
đồng đó có vô hiệu hay không khi vi phạm các điều kiện có hiệu lực của hợp
đồng.
Đối với trường hợp vi phạm do trái với đạo đức xã hội gây nhiều khó khăn
trong thực tế. Bởi mỗi xã hội có quan niệm của mình về đạo đức, nên không
có đạo đức chung mà chỉ có đạo đức xã hội. Mặc dù khái niệm “đạo đức xã
11
hội” đã được định nghĩa cụ thể, rõ ràng trong Bộ luật dân sự năm 2005, nhưng
phạm trù “đạo đức” thực tế khá trừu tượng và không phải là bất biến, đôi khi
phụ thuộc rất lớn vào nhận thức chủ quan của mỗi người. Cả trên phương diện
lý luận và thực tiễn, vấn đề như thế nào là hợp đồng trái ‘đạo đức xã hội’, hiện
vẫn còn nhiều tranh cãi. Có quan điểm cho rằng, qui phạm đạo đức là loại qui
phạm vừa mang tính chủ quan của mỗi người, vừa mang tính xã hội và tính
giai chấp sâu sắc. Bên cạnh đó, đạo đức còn mang tính dân tộc và tính hiện
đại. Hơn nữa, thực tế vận dụng qui định này để tuyên bố hợp đồng vô hiệu
trong từng trường hợp cụ thể là điều không đơn giản.
Về hình thức của hợp đồng ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng. Có thể
thấy đây là vấn đề mà pháp luật hiện hành còn khá nhiều bất cập.
Thứ nhất, quy định về hình thức hợp đồng vẫn còn nhiều điểm thiếu sót,
chưa nhất quán, chưa đảm bảo logic pháp lý giữa các điều luật liên quan, ví dụ
như ở khoản 2 Điều 122 quy định: “Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện
có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.” Ở đây,
nhà làm luật chỉ đề cập đến trường hợp pháp luật có quy định mà không dự
liệu khả năng khi các bên có thỏa thuận lựa chọn hình thức hợp đồng là điều
định tại Điều 136 và Điều 409 Bộ luật dân sự năm 2005, khi hợp đồng có đều
khoản không ghi rõ ràng thì không chỉ dựa vào ngôn từ của hợp đồng mà còn
phải căn cứ vào ý chí chung của các bên để giải thích điều khoản đó. Rõ ràng,
ý chí chung của các bên được đánh giá cao hơn hình thức biểu hiện ra bên
ngoài. Ý chí của các bên được hiểu là ý chí được biểu hiện tại thời điểm ký
kết hợp đồng. Trong khi đó, nếu theo điều 134 Bộ luật dân sự và Nghị quyết
số 01/2003 thì pháp luật có vẻ như ý chí được biểu hiện sau thời điểm hợp
đồng được ký kết. Điều này trái với lý thuyết về tự do ý chí cũng như nguyên
tắc giải thích hợp đồng.
2.
Phương hướng hoàn thiện
Các điều kiện bắt buộc để hợp đồng có hiệu lực là những yêu cầu phải
pháp lý phải được tuân thủ khi xác lập, giao kết hợp đồng mà nếu thiếu các
điều kiện đó thì hợp đồng đương nhiên vô hiệu hoặc có thể bị vô hiệu. Vấn đề
điều kiện có hiệu lực của hợp đồng đã được quy định khá rõ ràng trong Bộ
13
luật dân sự năm 2005, tuy nhiên một số vấn đề về hình thức của hợp đồng
chưa được hoàn thiện.
Về vấn đề quy định hình thức của hợp đồng: khoản 2 điều 122 nên sửa đổi
để làm sao có thể có sự linh động khi hai bên muốn hình thức hợp đồng là
điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. Cũng có ý kiến nêu lên việc sửa đổi, bổ
sung như sau: “Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của
giao dịch dân sự trong trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có
quy định giao dịch phải được lập bằng một hình thức xác định.” Còn khoản 1
Điều 401 cũng nên sửa đổi theo hướng mở rộng và quy định linh hoạt hơn về
hình thức của hợp đồng, bảo đảm tối đa quyền tự do lựa chọn hình thức hợp
15