Pháp luật về ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp trong khu công nghiệp hiện nay - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 28


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN TH TRANG
PHáP LUậT Về ƯU ĐãI ĐầU TƯ ĐốI VớI CáC DOANH NGHIệP
TRONG KHU CÔNG NGHIệP HIệN NAY - MộT Số VấN Đề
Lý LUậN Và THựC TIễN LUN VN THC S LUT HC H NI - 2014

I HC QUC GIA H NI
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ
công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm
bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các
môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định
của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Trang MỤC LỤC

Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1

2.2.3. Vấn đề áp dụng và bảo đảm ưu đãi đầu tư 63
2.3. Thực tiễn áp dụng pháp luật về ƣu đãi đầu tƣ đối với doanh
nghiệp trong khu công nghiệp hiện nay 64
2.3.1. Thực tiễn thực thi pháp luật về ưu đãi đầu tư đối với doanh
nghiệp trong KCN 64
2.3.2. Những bấp cập và tồn tại của pháp luật về ưu đãi đầu tư đối với
các doanh nghiệp trong khu công nghiệp 68
Kết luận chƣơng 2 80
Chƣơng 3: ĐỊNH HƢỚNG CHUNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ƢU ĐÃI ĐẦU TƢ ĐỐI VỚI
CÁC DOANH NGHIỆP TRONG KHU CÔNG NGHIỆP 81
3.1. Yêu cầu điều chỉnh và định hƣớng hoàn thiện pháp luật về ƣu
đãi đầu tƣ đối với các doanh nghiệp trong khu công nghiệp 81
3.1.1. Yêu cầu điều chỉnh của pháp luật về ưu đãi đầu tư đối với các
doanh nghiệp trong khu công nghiệp 81
3.1.2. Định hướng hoàn thiện pháp luật về ưu đãi đầu tư đối với các
doanh nghiệp trong khu công nghiệp 83
3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện về nội dung các quy định về ƣu
đãi đầu tƣ 86
3.3. Một số kiến nghị hoàn thiện về thủ tục thực hiện ƣu đãi đầu tƣ 90
Kết luận Chƣơng 3 93
KẾT LUẬN 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN : Association of Southeast Asian Nation - Hiệp hội các quốc
gia Đông Nam Á

phương. Với mục tiêu góp phần tạo dựng môi trường pháp lý ngày càng thuận lợi
cho các hoạt động đầu tư, kinh doanh và cộng đồng doanh nghiệp, đẩy mạnh thu hút
đầu tư cho sự phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam
luôn chú trọng xây dựng các chính sách ưu đãi đầu tư nhằm tạo ra một khung pháp
lý hoàn thiện và phù hợp.
Các khu công nghiệp hình thành và phát triển gắn liền với công cuộc đổi
mới, mở cửa nền kinh tế được khởi xướng từ Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng cộng
sản Việt Nam lần thứ VI. Qua các nghị quyết của Đảng tại các kỳ Đại hội từ năm
1986 đến nay đã hình thành hệ thống các quan điểm nhất quán của Đảng về phát
triển khu công nghiệp; khẳng định vai trò của khu công nghiệp là một trong những
nền tảng quan trọng để thực hiện mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành
nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Tính đến hết tháng 12/2013, cả nước có 288 khu công nghiệp được cấp giấy
chứng nhận đầu tư cho dự án phát triển kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, trong đó có
190 khu công nghiệp đã thành lập và đi vào hoạt động. Như vậy, còn 98 khu công
nghiệp đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản [3].
Việc thiết lập một cơ chế về ưu đãi đầu tư phù hợp, bình đẳng, hiệu quả là một
nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, đòi hỏi nhà nước phải áp dụng tổng hợp và linh hoạt
nhiều cơ chế khác nhau phù hợp với thực tế của quốc gia và đòi hỏi của hội nhập…
Trong đó hoàn thiện các quy định pháp luật về ưu đãi đầu tư đối với khu công
nghiệp là yêu cầu đặc biệt quan trọng.
Hơn 7 năm thực hiện Luật Đầu tư – đạo luật từng được xem là “một bước
tiến quan trọng trong tiến trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư
tại Việt Nam”, đến nay Luật Đầu tư 2005 đã cho thấy khá nhiều điểm bất cập và 2
hạn chế trong đó các quy định về ưu đãi đầu tư. Yêu cầu sửa đổi Luật đầu tư đang là
một đòi hỏi thiết yếu để hoàn thiện đạo luật với vị trí là một trong những văn bản
quan trọng nhất về kinh doanh và đầu tư. Thiết nghĩ, việc xem xét, đánh giá một

dụng các ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp trong khu công nghiệp từ đó đưa ra
một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này.
Với mong muốn chủ động đóng góp ý kiến để hoàn thiện môi trường pháp lý
minh bạch, bình đẳng, phù hợp với thực tế, thuận lợi cho cộng đồng doanh nghiệp,
Luận văn này hy vọng nhận được sự đánh giá, ủng hộ của các thầy cô trong hội
đồng, theo đó thúc đẩy việc sửa đổi các quy định pháp luật hiện hành trong thời
gian sớm nhất, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo doanh nghiệp. Đây cũng là một
trong những hành động thiết thực thực hiện theo phương châm chuyển từ một Nhà
nước quản lý điều hành sang một Nhà nước kiến tạo và phát triển.
3. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Về ưu đãi đầu tư, từ trước đến nay đã có một số công trình nghiên cứu ở
các góc độ khác nhau như: “Pháp luật về ưu đãi đầu tư ở Việt Nam” của tác giả Lê
Thị Lệ Thu; “Pháp luật của Việt Nam về ưu đãi đầu tư với thực tiễn ở tỉnh Quảng
Ngãi”, của tác giả Phạm Thị Thanh Ngọc; “So sánh luật khuyến khích đầu tư
trong nước và Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” của Phạm Thị Hải Yến;
“Hoàn thiện pháp luật về khuyến khích đầu tư trong nước” của Hoàng Minh Sơn;
“Hội nhập khu vực quốc tế về kinh tế và những vấn đề đặt ra với khung pháp lý về
đầu tư” của Lê Thanh Nga v.v…
Các công trình nghiên cứu trên từ các góc độ khác nhau đã phân tích, đánh
giá pháp luật về ưu đãi đầu tư nói chung. Tuy nhiên, mỗi công trình có sự nhìn nhận
từ các khía cạnh khác nhau, cũng có một số công trình nghiên cứu đề cập đến các
vấn đề về ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp trong khu công nghiệp song chưa
có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể, báo quát và đi sâu vào đánh giá các
quy định của pháp luật về ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp trong khu công
nghiệp hiện nay.
Đây là luận văn thạc sĩ luật học đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện về
pháp luật ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp trong khu công nghiệp ở Việt
Nam hiện nay. Luận văn: “Pháp luật về ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp

5
cùng với các báo cáo tổng kết, rà soát, đánh giá thực tiễn, các bài viết, ý kiến tranh
luận của các chuyên gia và các công trình nghiên cứu khác… Tài liệu tham khảo
từng nội dung cụ thể được trích dẫn trong Luận văn.
6. Nội dung nghiên cứu
Do thời gian nghiên cứu có hạn, luận văn chỉ tập trung vào tìm hiểu 2 vấn đề
lớn: (i) Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về ưu đãi đầu tư đối với các
doanh nghiệp trong khu công nghiệp; (ii) Thực tiễn triển khai các quy định này tại
các khu công nghiệp. Ngoài ra, luận văn còn tìm hiểu các quy định về vấn đề này
trong pháp luật một số nước khác trên thế giới để so sánh, làm sáng tỏ hơn vấn đề
cần nghiên cứu từ đó kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về ưu đãi đầu
tư nói chung và thu hút đầu tư tại các khu công nghiệp nói riêng.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu cơ bản vận dụng để thực hiện Luận văn là:
- Phương pháp luận duy vật biện chứng.
- Phương pháp luận duy vật lịch sử.
- Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh và tổng hợp.
- Phương pháp tiếp cận hệ thống.
8. Địa điểm nghiên cứu
Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp luận văn bên cạnh việc tập hợp số
liệu từ các báo cáo, các nghiên cứu, phân tích khoa học, nguồn internet… luận văn
tập trung chủ yếu vào khai thác các số liệu từ một số khu công nghiệp. Do thời gian
nghiên cứu có hạn, hơn nữa luận văn chỉ dừng lại ở phạm vi nghiên cứu của cá nhân
nên trong phạm vi đề tài địa điểm khảo sát thực tế của luận văn chủ yếu tập trung ở
một số khu công nghiệp ở các tỉnh phía bắc bao gồm nhưng không giới hạn trong
các khu công nghiệp: KCN Quế Võ và Quế Võ mở rộng – Bắc Ninh; KCN Đại
Đồng Hoàn Sơn – Bắc Ninh; KCN Nam Sơn Hạp Lĩnh – Bắc Ninh; KCN Quang
Châu – Bắc Giang; KCN Tràng Duệ - Hải Phòng; KCN Tràng Cát – Hải Phòng;
KCN Phương Nam – Quảng Ninh…

quan niệm khác nhau về KCN và mô hình phát triển KCN khác nhau. Ở một số
nước, KCN được hiểu là các công viên công nghiệp (Industrial Park) hoặc là các
cụm công nghiệp (Industrial Clusters). Có những KCN hoạt động chuyên về sản
xuất hàng xuất khẩu với quy chế miễn thuế nhập khẩu được gọi là Khu chế xuất
(KCX) (Export Processing Zones) hoặc có những KCN là Khu công nghệ cao
(Hight tech centres) hoặc khu công nghệ cao là một bộ phận của KCN. Ngoài ra,
KCN còn có những hình thái biến tướng như khu công nghệ sinh học (Bio
Technology Park), khu công nghệ sinh thái (Eco Industrial Park)….
Tuy nhiên, tựu chung lại, hiện nay, trên thế giới về cơ bản tồn tại hai mô
hình phát triển KCN:
Mô hình thứ nhất: KCN là khu vực lãnh thổ rộng tập trung nhiều hoạt động
kinh tế: sản xuất công nghiệp, dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí, khu thương mại,
văn phòng, nhà ở KCN theo quan điểm này về thực chất là khu hành chính - kinh
tế đặc biệt như KCN thương mại Indonesia, các công viên công nghiệp ở Đài Loan,
Thái Lan, Philippin và một số nước Tây Âu. Ở Thái Lan và Philippin, KCN được
quan niệm như một thành phố công nghiệp và thực tế nó là một cộng đồng tự túc và 8
độc lập. Ngoài việc cung cấp kết cấu hạ tầng, các tiện nghi, tiện ích công cộng hoàn
chỉnh và xử lý chất thải, KCN cũng bao gồm khu thương mại, dịch vụ ngân hàng,
trường học, bệnh viện, các khu vui chơi giải trí, khu nhà ở cho công nhân… Các KCN
ở Thái Lan và Inđônêxia thường có 3 bộ phận chủ yếu: Khu sản xuất hàng tiêu thụ nội
địa, khu sản xuất hàng xuất khẩu và khu thương mại dịch vụ.
Mô hình thứ hai: “KCN là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, ở đó tập
trung các doanh nghiệp công nghệ và dịch vụ sản xuất công nghiệp, không có dân
cư sinh sống”. Theo quan điểm này, ở một số nước như Malaixia, Indonesia, Thái
Lan, Đài Loan đã hình thành nhiều KCN với qui mô khác nhau.
Hai mô hình trên, dẫn đến hai định nghĩa khác nhau về KCN. Tuy nhiên,
ngoài định nghĩa trên, cũng có quan niệm lại cho rằng, KCN là một khu vực phụ,

tiền tệ, môi trường đầu tư…
Hai là, KCN là bộ phận không thể thiếu và không thể tách rời trong sự phát
triển kinh tế của một quốc gia. Nó thường là những khu vực có vị trí địa lý riêng biệt
thích hợp, có hàng rào xung quanh, giới hạn với các vùng lãnh thổ còn lại của nước sở
tại và được chính phủ nước đó cho phép hoặc rút phép xây dựng và phát triển.
Ba là, KCN là nơi thực hiện mục tiêu hàng đầu về ưu tiên chính sách hướng
ngoại, thu hút chủ yếu vốn đầu tư nước ngoài vào phát triển các loại hình sản xuất
kinh doanh phục vụ xuất khẩu. Đây là mô hình thu nhỏ về chính sách KT - XH mở
cửa của một nước.
Như vậy, KCN là một thuật ngữ chỉ một vùng lãnh thổ quốc gia được xác
định ranh giới địa lý rõ ràng. Trong đó, các doanh nghiệp công nghiệp tập trung đầu
tư, hoạt động, phát triển do có kết cấu hạ tầng tốt, có môi trường kinh doanh tốt (ưu
đãi của nhà nước về đất đai, tài chính) và có thị trường tốt (thị trường đầu vào, đầu
ra và dịch vụ). Đây là kết quả của quá trình tích tụ, tập trung, chuyên môn hóa sản
xuất công nghiệp theo lãnh thổ, là hình thức tổ chức sản xuất công nghiệp phù hợp
với yêu cầu của quá trình CNH, HĐH nền kinh tế.
Ở Việt Nam, Theo Từ Điển Bách Khoa Việt Nam, Tập 2, Hà Nội, 2002. Thì:
"Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch
vụ cho sản xuất công nghiệp, do chính phủ thành lập hay cho phép thành lập" [34].
Khái niệm về KCN được quy định trong Khoản 20, Điều 1, Luật Đầu tư
2005 thì: "Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện 10
các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập
theo quy định của Chính phủ" [44].
Nghị định 29/2008/NĐ-CP quy định về KCN, KCX và khu kinh tế cũng đưa ra
khái niệm KCN như sau: “Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp
và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được
thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này” [10, Điều 2].

hạ tầng KCN sẽ xây dựng các kết cấu hạ tầng và sau đó được phép cho các doanh
nghiệp khác thuê lại đất đã có cơ sở hạ tầng để phát triển dự án đầu tư.
- Về tổ chức quản lý: Các Khu Công nghiệp thường được đặt dưới sự quản lý của
một cơ quan quản lý nhà nước chuyên biệt. Ví dụ như Trung Quốc: Luật doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Law of the People’s
Republic of China on Foreign-Capital Enterprise) đã phân cấp thẩm quyền quản lý các
dự án đầu tư vào KCN cho Ban quản lý KCN. Chính phủ Trung Quốc còn cho phép
thành lập các Ban quản lý riêng cho những KCN có diện tích lớn (trên 500 ha).
Ở Việt Nam, hầu hết các KCN đều thành lập hệ thống Ban quản lý KCN cấp
tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương để trực tiếp thực hiện các chức năng quản lý
Nhà nước đối với hoạt động sản xuất kinh doanh trong KCN. Ngoài ra tham gia vào
quản lý tại các KCN còn có nhiều cơ quan quản lý nhà nước như: Bộ kế hoạch và
Đầu tư, Bộ Công thương, Bộ Xây dựng
1.1.1.3. Phân loại khu công nghiệp
Có nhiều cách phân loại KCN, nhưng tác giả đồng ý với các cách phân loại
như sau:
- Phân loại KCN theo tính chất ngành nghề: gồm 4 loại
+ KCN chuyên ngành: được hình thành từ các xí nghiệp công nghiệp cùng
một ngành hoặc một số ít ngành công nghiệp khác nhau nhưng cùng sản xuất ra một
số loại sản phẩm, chủ yếu hình thành từ các ngành chủ đạo như hoá chất-hoá dầu,
điện tử-tin học, vật liệu xây dựng, chế tạo và lắp ráp cơ khí (gang thép Thái Nguyên,
hoá chất Việt trì, lọc dầu Dung Quất).
+ KCN đa ngành: gồm nhiều xí nghiệp thuộc nhiều ngành công nghiệp khác
nhau. KCN đa ngành cho phép thoả mãn được yêu cầu về lãnh thổ cho sản xuất công
nghiệp, song trong quy hoạch xây dựng cần lưu ý vấn đề môi trường nhằm hạn chế tác
động ảnh hưởng xấu giữa các xí nghiệp khác nhau, tiết kiệm đầu tư hạ tầng. 12
+ KCN sinh thái: là mô hình mang tính cộng sinh công nghiệp. Các ngành

13
sản xuất. Mặt khác, KCN là địa bàn thu hút đầu tư không chỉ trong nước mà chủ
yếu là nguồn đầu tư nước ngoài nên xét theo quan hệ sở hữu vốn doanh nghiệp có
thể phân biệt các doanh nghiệp trong KCN thành hai nhóm là các doanh nghiệp
trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Ở tại Trung Quốc, để phân biệt với doanh nghiệp trong nước, pháp luật về
đầu tư nước ngoài còn đưa ra ba hình thức đầu tư cụ thể như sau:
- Liên doanh vốn (Equity Joint Venture)(“EJV”);
- Hợp tác liên doanh (Cooperative Joint Venture)(“CJV”);
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (wholly foreign-owned enterprise
(“WFOE”).
Ở Việt Nam, các KCN là khu vực tập trung thu hút rất nhiều doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo hình thức có thể là công ty 100% vốn
nước ngoài hoặc công ty liên doanh với liên doanh Việt Nam.
Như vậy, xét về nguồn vốn thì ở các KCN của Việt Nam đang tồn tại ba
nhóm doanh nghiệp:
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài;
- Doanh nghiệp liên doanh giữa nhà ĐTTN và nhà ĐTNN;
- Doanh nghiệp trong nước.
Dù khác biệt về nguồn vốn đầu tư nhưng khi đầu tư vào KCN các doanh
nghiệp này đều được quản lý theo một quy chế chung, hưởng các tiện ích và điều
kiện chung. Những điều kiện này tạo ra sự khác biệt nhất định so với các doanh
nghiệp ngoài địa bàn KCN, cụ thể:
* Khác biệt giữa các doanh nghiệp trong KCN và doanh nghiệp ngoài KCN
Về cơ cấu ngành: Trong KCN có cả các ngành truyền thống mà trong nước
có lợi thế so sánh và cả các ngành công nghiệp mới như điện tử, công nghệ thông
tin, công nghệ lắp ráp v.v Tuy nhiên, so với các doanh nghiệp ngoài KCN, doanh
nghiệp trong các KCN thường có phạm vi hoạt động hẹp hơn. Nguyên nhân do mỗi
khu công nghiệp thường chuyên biệt về sản xuất trong một số lĩnh vực riêng được
ghi nhận trong điều lệ KCN đó. Việc quy hoạch chuyên biệt một hoặc một số điều

nhà nước chuyên biệt.
Ở Việt Nam, Ban quản lý KCN do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành 15
lập và chịu sự chỉ đạo và quản lý về tổ chức, biên chế, chương trình kế hoạch công
tác và kinh phí hoạt động của UBND cấp tỉnh; chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm
tra về chuyên môn nghiệp vụ của các Bộ, ngành.
Như vậy, doanh nghiệp trong KCN và doanh nghiệp ngoài KCN có những
đặc điểm khác nhau xuất phát từ sự khác nhau về mục đích, đối tượng tham gia hay
mối liên kết của chúng đối với nền kinh tế. KCN thường được nhận một sự ưu tiên
nhất định từ phía chính quyền địa phương và Chính phủ với vai trò thúc đẩy phát
triển kinh tế vùng (địa phương).
Hiện nay, ở nước ta đã xuất hiện hàng trăm các KCN vừa và nhỏ do Trung
ương thành lập và các cụm CN ở các địa phương của chính quyền địa phương (cấp
tỉnh, thành phố). Mặc dù có một số đặc điểm đặc thù như quy mô thường nhỏ hơn,
ảnh hưởng thường hẹp hơn nhưng về bản chất không có sự khác biệt so với các
KCN của Trung ương.
Nói tóm lại, sự ra đời của các KCN nhằm mục đích cung cấp các điều kiện
về kết cấu hạ tầng tốt nhất cho việc xây dựng và vận hành của các cơ sở sản xuất
công nghiệp đặc biệt là hỗ trợ các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào nước sở tại
sẽ có được đầy đủ điều kiện mặt bằng, đường sá, hệ thống cung cấp điện, nước, hệ
thống xử lý nước thải… để sản xuất kinh doanh mang lại lợi ích cho cả hai phía.
1.1.3. Vai trò điều chỉnh pháp luật về khu công nghiệp
Việc hình thành các KCN là một đòi hỏi tất yếu không chỉ đáp ứng mục tiêu
phát triển sản xuất công nghiệp nói chung mà xét về khía cạnh pháp lý, đặc biệt là
quản lý nhà nước, các quy định pháp luật về khu công nghiệp còn giữ vai trò quan
trọng, cụ thể:
Thứ nhất, góp phần tạo lập và duy trì khu kinh tế tập trung:
Các quy định pháp luật về khu công nghiệp là cơ sở để thiết lập và phát triển

xây dựng trước đây do không quy hoạch dài hạn, nên khi có nhu cầu đẩy mạnh phát
triển công nghiệp thì các doanh nghiệp này không có địa bàn mở rộng quy mô hoặc
các doanh nghiệp bố trí xen lẫn với khu dân cư, khu hành chính, trường học… gây
ra tình trạng ô nhiễm môi trường. Việc tập trung các doanh nghiệp sản xuất vào các
KCN vừa tạo điều kiện quản lý tập trung các doanh nghiệp sản xuất vừa tạo điều
kiện kiểm soát được tốt hơn mức độ ô nhiễm bằng các quy định pháp luật về vấn đề 17
xử lý môi trường ngay từ khâu quy hoạch. Hơn nữa việc quản lý và xử lý vấn đề về
môi trường ở một khu vực tập trung như KCN sẽ tích kiệm chi phí tốt nhất do có sự
liên kết xử lý ô nhiễm và sự hỗ trợ tập trung của nhà nước.
1.2. Khái quát về ƣu đãi đầu tƣ và pháp luật về ƣu đãi đầu tƣ đối với các
doanh nghiệp trong khu công nghiệp
1.2.1. Khái niệm, bản chất, vai trò của ưu đãi đầu tư
1.2.1.1. Khái niệm ưu đãi đầu tư
Trước khi bỏ vốn để đầu tư một dự án thì nhà đầu tư phải tìm hiểu hiện tại:
Lĩnh vực nào được nhà nước ưu đãi?, địa bàn nào đang được ưu đãi ?, mức ưu đãi,
thời hạn ưu đãi quy định cụ thể ra sao? …để có thể lựa chọn và quyết định đầu tư
một cách có hiệu quả và mang lại lợi nhuận tối đa. Hầu hết các quốc gia đều sử
dụng các công cụ ưu đãi, khuyến khích đầu tư dưới hình thức này hay hình thức
khác vì các công cụ ưu đãi đầu tư đều có khả năng sử dụng rất đa dạng để thu hút sự
quan tâm của các nhà đầu tư trong và ngoài nước đối với nền kinh tế, kích thích nhà
đầu tư bỏ vốn đầu tư vào những lĩnh vực, khu vực nhất định. Một mặt khác, thực
hiện ưu đãi đầu tư cũng chính là hoạt động quản lý của nhà nước trong lĩnh vực đầu
tư. Vậy ưu đãi đầu tư là gì?
Theo định nghĩa của Diễn đàn của Liên hợp quốc về thương mại và phát triển
(UNCTAD) thì: Khuyến khích đầu tư hay còn gọi là ưu đãi đầu tư là các biện pháp
được Chính phủ sử dụng để thu hút đầu tư, hướng các dự án đầu tư vào các ngành các
khu vực cần thiết hoặc ảnh hưởng đến tính chất của đầu tư. Có thể hiểu ưu đãi đầu tư

vai trò quản lý của mình trong lĩnh vực đầu tư. Pháp luật về ưu đãi đầu tư có hợp lý
và hiệu quả thì mới đảm bảo được môi trường bình đẳng mà ở đó các nhà đầu tư có
thể phát huy hết năng lực của mình.
1.2.1.2. Bản chất của ưu đãi đầu tư
Ưu đãi đầu tư phản ánh mối quan hệ lợi ích giữa nhà nước và nhà đầu tư:
Trong mối quan hệ này, Nhà nước là chủ thể quyết định các biện pháp ưu đãi; nhà
đầu tư là chủ thể nhận ưu đãi; khách thể của quan hệ này chính là các ưu đãi cụ thể
như các khoản lợi về thuế, tiền thuê đất… Mục đích của việc cấp ưu đãi là nhà nước
mong muốn chủ thể được nhận ưu đãi - các nhà đầu tư - đầu tư vào một số địa bàn
và lĩnh vực nhất định theo định hướng phát triển kinh tế. 19
Dưới một góc độ khác, chúng ta có thể hiểu, ưu đãi đầu tư là các cam kết
của Nhà nước đối với nhà đầu tư: Các ưu đãi cụ thể đó có thể thay đổi theo từng
thời kỳ tùy theo tình hình kinh tế - chính trị - xã hội cụ thể nhưng cam kết của Nhà
nước là không thay đổi bởi nó được đảm bảo bằng một bản “hợp đồng” được ký kết
giữa Nhà nước và nhà đầu tư, đó chính là các điều khoản quy định về ưu đãi tại
Giấy chứng nhận đầu tư mà Nhà nước cấp cho nhà đầu tư.
1.2.1.3. Vai trò của ưu đãi đầu tư
Việc soạn thảo, sử dụng và thực thi các chính sách ưu đãi đầu tư nhằm
khuyến khích, hỗ trợ, thu hút và định hướng các hoạt động kinh doanh hiện nay vẫn
còn nhiều tranh luận không có hồi kết về mục tiêu và hiệu quả thực sự của các chính
sách ưu đãi đầu tư.
Quan điểm ủng hộ việc sử dụng các chính sách và biện pháp ưu đãi đầu tư
khẳng định nhu cầu cần thiết của việc sử dụng những chính sách này để có thể cạnh
tranh một cách hiệu quả với các quốc gia khác và chính sách ưu đãi có thể sử dụng
để làm giảm thiểu những nhược điểm cơ bản của một số địa phương. Nói cách khác,
các chính sách ưu đãi có vai trò hỗ trợ để bù đắp và phần nào khắc phục những
nhược điểm của thị trường. Ví dụ, các chính sách ưu đãi đầu tư được sử dụng để


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status