Phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 25



1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHAN THỊ HỒNG HÀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
CHO CÔNG CHỨC CẤP XÃ -
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hµ néi – 2010

1.1.
Mục đích và yêu cầu phổ biến, giáo dục pháp luật cho công
chức cấp xã
7
1.1.1.
Những nguyên lý chung về phổ biến, giáo dục pháp luật áp
dụng đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho công
chức cấp xã
8
1.1.2.
Đặc điểm của đội ngũ công chức cấp xã và công tác phổ
biến, giáo dục cho công chức cấp xã
12
1.1.2.1.
Khái niệm công chức cấp xã và công tác phổ biến, giáo dục
pháp luật cho công chức cấp xã
12
1.1.2.2.
Mục đích của phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức
cấp xã
19
1.1.2.3.
Chủ thể và đối tượng phổ biến, giáo dục pháp luật cho công
chức cấp xã
21
1.1.2.4.
Nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã
25
1.1.2.5.
Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã

CHO CÔNG CHỨC CẤP XÃ
37
2.1.
Thực trạng đội ngũ công chức cấp xã và thể chế về phổ biến,
giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã
37
2.1.1.
Thực trạng đội ngũ công chức cấp xã
37
2.1.2.
Thể chế về phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã
43
2.2.
Tình hình phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã
48
2.2.1.
Chính quyền cấp xã với nhiệm vụ phổ biến, giáo dục pháp
luật cho công chức cấp xã
48
2.2.2.
Cơ quan và công chức chuyên trách phổ biến, giáo dục pháp
luật cho công chức cấp xã
49
2.2.3.
Đội ngũ những người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp
luật cho công chức cấp xã
51
2.2.4.
Cơ sở vật chất và việc sử dụng các nguồn lực cho công tác
phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã

67
3.2.
Các giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả công tác phổ biến,
giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã hiện nay
72
3.2.1.
Giải pháp về nâng cao năng lực của chủ thể phổ biến, giáo
dục pháp luật cho công chức cấp xã
72
3.2.1.1.
Nâng cao chất lượng của chủ thể phổ biến, giáo dục pháp
luật cho công chức cấp xã
72
3.2.1.2.
Hoàn thiện cơ sở pháp lý cho công tác phổ biến, giáo dục
pháp luật đối với công chức cấp xã
73
3.2.1.3.
Đầu tư cần thiết và thỏa đáng hơn cho công tác phổ biến,
giáo dục pháp luật đối với công chức cấp xã
76
3.2.2.
Giải pháp về nâng cao năng lực tiếp cận pháp luật của công
chức cấp xã
77
3.2.2.1.
Nâng cao nhận thức cho công chức cấp xã về vai trò của
pháp luật trong đời sống xã hội và đối với chính quyền cơ sở
77
3.2.2.2.

tấm gương để nhân dân học tập, làm theo và có tác động trực tiếp đến lòng tin
của nhân dân với Đảng và Nhà nước.
Công cuộc đổi mới đất nước ta trong gần 25 năm qua đã đạt được
những thành tựu quan trọng cả về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh,
quốc phòng, nhất là ở cơ sở. Trong những thành tựu đó có sự đóng góp tích
cực của đội ngũ công chức cấp xã (trước đây là đội ngũ cán bộ chuyên trách
cấp xã). Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế,
đặc biệt là yêu cầu tăng cường pháp chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt
Nam xã hội chủ nghĩa đòi hỏi đội ngũ công chức nói chung, trong đó có đội
ngũ công chức cấp xã phải thường xuyên tìm hiểu kịp thời cập nhật văn bản
pháp luật, từ đó có sự hiểu biết, nắm vững và thực thi công vụ đúng pháp luật,
đồng thời, vận động, tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân chấp hành nghiêm
chỉnh pháp luật. 9
Trong những năm qua, hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho
công chức cấp xã đã được Đảng và Nhà nước quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và
coi đó là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công cuộc quản lý xã hội
bằng pháp luật. Ngày 09 tháng 12 năm 2003, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã
ban hành Chỉ thị số 32-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong
công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật
của cán bộ, nhân dân. Ngày 17 tháng 01 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã
có Quyết định số 13/2003/QĐ-TTg ban hành kèm theo Chương trình phổ
biến, giáo dục pháp luật từ năm 2003 đến năm 2007. Ngày 16 tháng 12 năm
2004, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 212/2004/QĐ-TTg phê duyệt
Chương trình hành động quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao ý
thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn từ năm
2005 đến năm 2010. Tiếp đó, ngày 12 tháng 3 năm 2008, Thủ tướng Chính
phủ đã có Quyết định số 37/2008/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phổ biến,

quan tâm. Nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này đã được công bố như:
- Giáo dục pháp luật với việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa,
Luận án Phó Tiến sĩ luật học (nay là Tiến sĩ) của tác giả Trần Ngọc Đường
(bảo vệ tại Liên Xô cũ);
- Giáo dục pháp luật qua hoạt động nhà trường phổ thông ở nước ta
hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học của Lê Đình Quý, 1992;
- Giáo dục pháp luật thông qua hoạt động Tư pháp ở Việt Nam, Luận
án tiến sĩ luật học của Dương Thị Thanh Mai, 1996;
- Giáo dục pháp luật trong các trường đại học, trung học chuyên
nghiệp và dạy nghề (không chuyên luật) ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ
luật học của Đinh Xuân Thảo, 1996;
- Đổi mới giáo dục pháp luật trong hệ thống các trường chính trị ở
nước ta hiện nay, Đề tài khoa học cấp bộ của Khoa Nhà nước và Pháp luật -
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1999; 11
- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công
cuộc đổi mới, Đề tài khoa học cấp Bộ của Bộ Tư pháp, 1994;
- Giáo dục pháp luật cho cán bộ chính quyền cấp xã ở tỉnh Đắc Lắc
hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật học của Đỗ Văn Dương, 2002;
- Giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Bình Định-
thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ luật học của Trần Văn Trầm, 2002;
- Giáo dục pháp luật cho cán bộ chính quyền cấp xã ở tỉnh Quảng Trị
hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật học của Cao Thị Hà, 2003;
- Giáo dục pháp luật cho nông dân tỉnh Thái Bình trong giai đoạn
hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật học của Hoàng Trung Thành, 2004;
- Thực hiện chương trình giáo dục pháp luật cho cán bộ chính quyền
cấp xã ở các trường chính trị tỉnh, Luận văn thạc sĩ luật học của Ngô Quốc
Dụng, 2005;

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; quan điểm, chủ trương đường lối,
chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên
cứu cụ thể như phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê, điều tra, khảo sát
5. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn thực hiện
các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Khái quát, hệ thống các vấn đề lý luận về phổ biến, giáo dục pháp
luật nói chung và phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã nói 13
riêng, đồng thời làm rõ yêu cầu khách quan của việc phổ biến, giáo dục pháp
luật cho công chức cấp xã;
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động phổ biến, giáo dục pháp
luật cho công chức cấp xã trong thời gian qua;
- Đề xuất các giải pháp nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động
phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã trong giai đoạn hiện nay
và kiến giải việc hoàn thiện pháp luật trong vấn đề này.
6. Đóng góp mới của luận văn
- Nghiên cứu đặc điểm về phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức
cấp xã và những yêu cầu khách quan của việc phổ biến, giáo dục pháp luật
cho đội ngũ công chức này.
- Đánh giá có hệ thống và toàn diện công tác phổ biến, giáo dục pháp
luật cho công chức cấp xã.
- Đề xuất được các quan điểm, giải pháp nhằm đổi mới, nâng cao hiệu

mà trước hết là cán bộ, công chức. Pháp luật được ban hành ra là để điều
chỉnh các quan hệ xã hội theo hướng phục vụ quyền và lợi ích hợp pháp của
toàn thể nhân dân lao động, một công cụ hữu hiệu để nhà nước quản lý xã hội
và là công cụ để mỗi cá nhân - công dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình, của Nhà nước và các chủ thể khác trong xã hội.
Mục đích của pháp luật được thực hiện thông qua hành vi xử sự cụ thể
của mỗi cá nhân. Hành vi xử sự của các chủ thể phù hợp với các quy định của
pháp luật sẽ giữ cho các quan hệ xã hội được ổn định, ngược lại nếu hành vi
xử sự không phù hợp với các quy định của pháp luật thì các quan hệ xã hội sẽ
mất ổn định, mục đích của sự ban hành pháp luật không đạt được, pháp luật 15
không phát huy được hiệu quả trong cuộc sống. Hành vi pháp luật của cá
nhân phụ thuộc vào ý thức pháp luật của họ. Ý thức pháp luật càng cao thì sự
tôn trọng, tuân thủ pháp luật càng cao. Chính vì vậy, công tác phổ biến, giáo
dục pháp luật có ý nghĩa rất lớn trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất
nước, tăng cường pháp chế và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân. Chỉ thị số 02/1998/CT-TTg ngày
07 tháng 01 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác phổ
biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay nêu rõ: "Công tác phổ biến,
giáo dục pháp luật luôn giữ vị trí quan trọng trong đời sống xã hội. Trong
công cuộc đổi mới của đất nước ta hiện nay, công tác này càng có vai trò quan
trọng về nhiều mặt" [7].
Phổ biến, giáo dục pháp luật vừa mang tính thực tiễn vừa mang tính
khoa học, do đó trước tiên phải nghiên cứu khái niệm phổ biến, giáo dục pháp
luật dưới góc độ lý luận, khoa học để đối chiếu vào thực hiện và tổ chức thực
hiện tốt trong thực tiễn.
1.1.1. Những nguyên lý chung về phổ biến, giáo dục pháp luật áp
dụng đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã

đoạn, từng thời kỳ và đối với từng loại khách thể giáo dục khác nhau. Ngược
lại, nếu buông trôi, thả lỏng thì các ảnh hưởng tiêu cực khách quan sẽ có điều
kiện lan rộng.
Có quan điểm cho rằng nên hiểu giáo dục pháp luật theo nghĩa rộng,
đó là ảnh hưởng của các nhân tố chủ quan và khách quan. "Giáo dục pháp luật
được quan niệm là tổng thể các tác động, ảnh hưởng của nhân tố chủ quan và
khách quan đến sự hình thành ý thức, hành vi và kỹ năng xử sự theo các giá
trị, chuẩn mực pháp luật của con người" [25].
Có quan điểm cho rằng, nên hiểu pháp luật theo nghĩa hẹp để phân
biệt phạm trù giáo dục pháp luật với phạm trù hình thành ý thức pháp luật: 17
Giáo dục pháp luật là hoạt động có định hướng, có tổ chức,
có chủ định của chủ thể giáo dục để cung cấp tri thức pháp luật, bồi
dưỡng tình cảm và hành vi hợp pháp cho đối tượng giáo dục nhằm
mục đích hình thành ở họ ý thức pháp luật đúng đắn và thói quen
hành động phù hợp với các quy định của pháp luật và đòi hỏi của
nền pháp chế hiện hành [29].
Theo quan niệm này, giáo dục pháp luật là một nhân tố chủ quan quan
trọng, chủ đạo trong quá trình hình thành ý thức của con người bên cạnh nhân
tố khách quan là các điều kiện tồn tại của xã hội như chế độ kinh tế, chính trị
với những giai đoạn cụ thể của sự phát triển xã hội ấy, như C.Mác đã viết:
"Con người vốn là sản phẩm của hoàn cảnh và giáo dục. Và do đó, con người
thay đổi vốn là sản phẩm của hoàn cảnh và giáo dục đã thay đổi" [28, tr. 20].
Với những quan niệm về phổ biến, giáo dục pháp luật nêu trên,
nguyên lý chung của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là những nguyên
tắc chung, phương pháp và cách thức nhằm đưa pháp luật vào cuộc sống.
Nguyên lý công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đối với công chức cấp xã
vừa có những đặc điểm của nguyên lý chung, vừa có những đặc điểm đặc

pháp luật cho những đối tượng của đội ngũ công chức cấp xã có sự tham gia
của nhiều chủ thể với những vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền
khác nhau cùng thực hiện tác động giáo dục tới các đối tượng công chức cấp
xã nhằm đạt được mục đích đã đề ra.
Đối tượng phổ biến, giáo dục pháp luật tương đối phong phú, đa dạng
bởi vì trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và
quản lý xã hội bằng pháp luật, các chủ thể công chức cấp xã đều cần phải có
sự hiểu biết pháp luật để có thể tham gia vào những quan hệ xã hội tùy theo
lĩnh vực hoạt động và địa vị pháp lý của mình.
Phổ biến, giáo dục pháp luật có sự tác động một cách thường xuyên,
liên tục và lâu dài chứ không phải chỉ là sự tác động nhất thời của chủ thể đến 19
đối tượng. Đó là một quá trình đưa pháp luật vào cuộc sống gắn liền với hoạt
động quản lý nhà nước. Đối tượng công chức cấp xã sẽ chịu sự tác động có tổ
chức, định hướng của các thông tin pháp luật, do vậy, chủ thể giáo dục pháp
luật phải hiểu biết được trình độ, nhân thân, đặc điểm của đội ngũ công chức
này để có những phương thức, định hướng truyền tải thông tin đến đối tượng
sao cho hiệu quả nhất. Đồng thời, phổ biến, giáo dục pháp luật phải được thực
hiện ngay trong quá trình xây dựng pháp luật như cung cấp thông tin, phản
ánh, tập hợp các ý kiến đóng góp của các cơ quan, các địa phương Trong
quá trình thực hiện pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật không chỉ dừng lại
ở mức độ thông tin, giáo dục phòng ngừa chung mà còn tác động lên ý thức,
khả năng phát hiện, đề xuất của các đối tượng thi hành nhằm đổi mới, hoàn
thiện hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ công
chức cấp xã và yêu cầu phát triển toàn xã hội.
1.1.2. Đặc điểm của đội ngũ công chức cấp xã và công tác phổ biến,
giáo dục cho công chức cấp xã
1.1.2.1. Khái niệm công chức cấp xã và công tác phổ biến, giáo dục

Khác với các bộ phận khác trong hệ thống chính trị ở cơ sở, chính
quyền cấp xã được nhà nước trao quyền lực đặc biệt, được áp dụng các biện
pháp cưỡng chế nhà nước trong khuôn khổ pháp luật và có nguồn lực để thực
hiện quản lý nhà nước ở cơ sở. Đường lối, chủ trương của tổ chức cơ sở đảng -
hạt nhân chính trị, lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị ở cơ sở chỉ có thể đi
vào đời sống của nhân dân thông qua hoạt động của chính quyền cấp xã.
Chính quyền cấp xã thể chế hoá và hiện thực hoá các chủ trương, đường lối,
chính sách của Đảng trong cuộc sống.
Có đưa cuộc sống vào pháp luật thì mới có thể đưa pháp
luật vào cuộc sống được bởi vì pháp luật khi phù hợp cuộc sống,
được người dân chấp nhận, tin tưởng thì mới có thể "trở thành hành
vi thực tế" của họ. Đành rằng, nếu chỉ có người dân tin tưởng, tôn 21
trọng và tuân thủ không thôi thì cũng chưa đủ để có thể đưa pháp
luật vào cuộc sống một cách toàn diện được, mà nó còn đòi hỏi từ
phía nhà nước, nơi đề ra và tổ chức thực thi pháp luật [34, tr. 43].
Chính quyền cấp xã tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức chính trị -
xã hội và các đoàn thể nhân dân thực hiện có hiệu quả quyền làm chủ của
nhân dân trong quản lý mọi mặt của đời sống xã hội ở cơ sở, tiếp thu các kiến
nghị của các tổ chức chính trị - xã hội về những vấn đề liên quan đến quyền
và lợi ích hợp pháp của nhân dân địa phương.
Để tổ chức thực hiện tốt các nhiệm vụ của chính quyền cấp xã chính là
đội ngũ công chức cấp xã. Hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã phụ
thuộc rất nhiều vào năng lực, trình độ, phẩm chất của đội ngũ công chức này.
Vấn đề đặt ra là công chức cấp xã là ai?
Các nhà lý luận và thực tiễn ở nước ta đã đưa ra nhiều quan niệm về
cán bộ, công chức, viên chức và khái niệm người lao động với tính chất chung
là người làm công ăn lương. Việc quan niệm thế nào là cán bộ, thế nào là

nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc
quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên
nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong các cơ quan đơn vị
thuộc công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan
chuyên nghiệp.
g- Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo
nhiệm kỳ trong thường trực hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân; Bí
thư, phó bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội
xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã);
h- Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh
chuyên môn nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã [40]. 23
Cụ thể hóa các quy định của Pháp lệnh Cán bộ, công chức, ngày 10
tháng 10 năm 2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 114/2003/NĐ-CP
về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn, theo đó khoản 2 Điều 2 quy định:
Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh
chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã (gọi chung là
công chức cấp xã), gồm có các chức danh sau đây:
a- Trưởng công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy);
b- Chỉ huy trưởng quân sự;
c- Văn phòng - Thống kê;
d- Địa chính - Xây dựng;
đ- Tài chính - Kế toán;
e- Tư pháp - Hộ tịch;
g- Văn hoá - Xã hội [9].
Mới đây nhất, khái niệm công chức và cán bộ, công chức cấp xã đã
được ghi nhận tại Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008, cụ thể là:
2. Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ

chức cấp xã càng trở lên cần thiết, điều đó bắt nguồn từ những lý do sau:
Thứ nhất, xuất phát từ yêu cầu cải cách hành chính, xây dựng Nhà
nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, đội
ngũ công chức cấp xã cần nâng cao hiểu biết pháp luật, trước hết để phục vụ
Nhà nước, phục vụ nhân dân và sau đó là lực lượng nòng cốt tiên phong thực
hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân trên địa
bàn góp phần nâng cao dân trí pháp luật trong nhân dân.
Thứ hai, phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã là một
trong những hình thức thực hiện các chủ trương, chính sách hướng về cơ sở
của Đảng và Nhà nước ta, là hoạt động nhằm đáp ứng yêu cầu tăng cường 25
quản lý xã hội bằng pháp luật, góp phần nâng cao hiểu biết và ý thức tôn
trọng pháp luật đối với cơ sở.
Thứ ba, xuất phát từ thực trạng tổ chức và hoạt động của chính quyền
và công chức cấp xã ở nước ta trong những năm qua còn bộc lộ nhiều hạn
chế, bất cập. Mặc dù Đảng và Nhà nước ta có nhiều quan tâm củng cố, kiện
toàn chính quyền và đội ngũ công chức cấp xã, nhưng những kết quả phổ
biến, giáo dục pháp luật ở địa phương còn chưa đạt như mong muốn, vẫn còn
hiện tượng vi phạm pháp luật, thậm chí có nơi vẫn còn tình trạng "mù luật".
Điều đó là vấn đề mà toàn xã hội quan tâm, nhất là tệ quan liêu, tham nhũng
trong bộ máy chính quyền và công chức cấp xã, làm ảnh hưởng nghiêm trọng
đến các quan hệ và chuẩn mực xã hội.
Những vấn đề nêu trên đặt ra yêu cầu phải cung cấp và nâng cao kiến
thức pháp luật cho công chức cấp xã. Đội ngũ công chức này khi tham gia vào
các quan hệ pháp luật để thực thi nhiệm vụ, họ là những người đại diện cho
đơn vị Ủy ban nhân dân cấp xã để thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý.
Hành vi xử sự của họ là tấm gương tuân thủ pháp luật không những của cá
nhân họ mà còn của cơ quan công quyền ở địa phương mà họ đại diện. Trước

đối với phổ biến, giáo dục pháp luật ở từng giai đoạn trong điều kiện lịch sử
cụ thể. Theo quan điểm chung của nhiều nhà khoa học, mục đích phổ biến,
giáo dục pháp luật nhằm: (1). Hình thành, làm sâu sắc và từng bước mở rộng
hệ thống tri thức pháp luật của công dân (mục đích nhận thức); (2). Hình
thành tình cảm và lòng tin đối với pháp luật (mục đích cảm xúc); (3). Hình
thành động cơ, hành vi và thói quen xử sự theo pháp luật (mục đích hành vi).
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản
Việt Nam đã nhấn mạnh yêu cầu: "Cán bộ quản lý các cấp từ trung ương đến
đơn vị cơ sở phải có kiến thức về quản lý hành chính và hiểu biết pháp luật,
cần sử dụng nhiều hình thức và biện pháp để giáo dục, nâng cao ý thức pháp
luật và làm tư vấn pháp luật cho nhân dân" [14, tr. 121]. Nghị quyết Đại hội
Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục nhấn 27
mạnh yêu cầu "thường xuyên giáo dục pháp luật, xây dựng ý thức sống và
làm việc theo pháp luật" [15, tr. 92]. Trong nhiệm vụ xây dựng Đảng, Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng cũng nhấn mạnh yêu cầu về trình độ
năng lực của cán bộ, đảng viên phải "có hiểu biết cơ bản về chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách
pháp luật của Nhà nước" [24, tr. 300]. Với chủ trương của Đảng, mục đích phổ
biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã càng trở lên quan trọng nhằm:
- Trang bị cho đội ngũ công chức này những kiến thức pháp luật giúp
họ có trình độ nhận thức nhất định, thậm chí một bộ phận phải đảm bảo có
trình độ lý luận về pháp luật phục vụ nhiệm vụ được giao; Hình thành, làm
sâu sắc và từng bước mở rộng hệ thống tri thức pháp luật cho công chức cấp
xã, công dân trên địa bàn; làm cho mọi đối tượng có sự am hiểu về pháp luật,
nhận thức đúng đắn về giá trị xã hội, vai trò điều chỉnh của pháp luật; giúp
cho con người tổ chức một cách có ý thức hoạt động của mình và tự đánh giá
kiểm tra, đối chiếu hành vi với các chuẩn mực pháp luật, có tình cảm và lòng

Nhà nước giao trọng trách thay mặt Nhà nước xử lý các công việc ở địa
phương thuộc thẩm quyền quản lý trong phạm vi sở tại, do vậy, họ là những
người trực tiếp tham gia hoạt động quản lý của chính quyền cơ sở. Chính vì lý
do đó, phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã phải tác động đến
hoạt động quản lý nhà nước trong phạm vi thẩm quyền của đội ngũ công chức
này. Hơn nữa, các đối tượng trong đội ngũ công chức cấp xã có trình độ nhận
thức, vị trí, vai trò khác nhau đối với hoạt động của chính quyền cơ sở, do
vậy, yêu cầu phổ biến, giáo dục pháp luật đối với từng đối tượng công chức
cấp xã cũng có sự khác nhau. Mục đích phổ biến, giáo dục pháp luật đối với
từng đối tượng công chức cấp xã trên cơ sở đó cũng có sự khác biệt.
1.1.2.3. Chủ thể và đối tượng phổ biến, giáo dục pháp luật cho công
chức cấp xã
Phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã đa dạng về chủ thể
với những vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm xã hội khác nhau

Trích đoạn Phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã đòi hỏi tính chuyên ngành Phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã phải gắn với giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức Phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã là phổ biến, giáo dục cho các chủ thể thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật cho THỰC TRẠNG PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÔNG CHỨC CẤP XÃ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status