Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất một số vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 21

MỤC LỤC
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
BLDS : Bộ luật dân sự
DSPT : Dân sự phúc thẩm
DSST : Dân sự sơ thẩm
TAND : Tòa án nhân dân
TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao
UBND : Ủy ban nhân dân
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài.
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là một trong những hợp đồng
quan trọng của giao dịch dân sự nói chung, bởi nó là một quan hệ dân sự phổ
biến trong cuộc sống của nhân dân ta và là một trong những phương thức pháp
lý hữu hiệu giúp cho cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác xác lập và
thực hiện việc chuyển quyền sử dụng đất nhằm thỏa mãn các nhu cầu trong sản
xuất kinh doanh và trong đời sống sinh hoạt hàng ngày.
Trên phương diện lý luận, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là một
dạng của hợp đồng tặng cho tài sản. Do tài sản trong hợp đồng này là quyền sử
dụng đất - một tài sản đặc biệt quan trọng, vì thế việc dịch chuyển nó thông
qua hợp đồng tặng cho được pháp luật quy định chặt chẽ hơn nhiều so với việc
tặng cho các tài sản thông thường khác.
Xuất phát từ tầm quan trọng và ý nghĩa thiết thực nêu trên của hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất, Luật đất đai năm 2003 và Bộ luật Dân sự Việt
Nam năm 2005 đã quy định cụ thể, chi tiết, chặt chẽ và tương đối hoàn thiện
về việc xác lập, thực hiện cũng như các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất, tạo nên sự ổn định về quan hệ tặng cho quyền sử
dụng đất trong giai đoạn hiện nay, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước.
Tuy nhiên trên thực tế, việc tặng cho quyền sử dụng đất ở nước ta diễn
ra rất đa dạng, phong phú và trải qua nhiều thời kỳ khác nhau, mỗi thời kỳ có
những nét riêng biệt của nó do sự tác động của nhiều yếu tố chủ quan và khách

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
a. Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Là những quy định của pháp luật về
hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; vấn đề thực hiện hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất trên thực tế và việc giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực
này .
b. Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Tặng cho quyền sử dụng đất là một
vấn đề phức tạp và rộng lớn, có thể được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác
nhau. Trong phạm vi của luận văn Thạc sĩ luật học, tác giả chỉ tập trung nghiên
cứu khái niệm, đặc điểm của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và các quy
định của pháp luật về loại hợp đồng này. Nghiên cứu thực tiễn giải quyết các
tranh chấp về tặng cho quyền sử dụng đất của Tòa án nhân dân.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Cơ sở phương pháp luận trong việc nghiên cứu đề tài của luận văn là
Triết học Mác - Lênin. Trong quá trình nghiên cứu, tác giả dựa trên phép duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử, ngoài ra tác giả còn sử dụng các phương
pháp nghiên cứu khoa học khác như: phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê, hệ
thống hóa để làm rõ những nội dung cơ bản, chủ yếu của hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất, so sánh với các quy định pháp luật của một số nước trên
thế giới về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất để thấy được những mặt tích
cực và hạn chế trong việc quy định của pháp luật về vấn đề này, từ đó kiến
nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về tặng cho
quyền sử dụng đất trong giai đoạn hiện nay.
5. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài.
a. Mục đích nghiên cứu đề tài.
Việc nghiên cứu đề tài nhằm góp phần làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm
pháp lý và ý nghĩa của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, làm rõ cơ sở
pháp lý của việc xác lập, thực hiện hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và
thực tiễn giải quyết tranh chấp về vấn đề này; đồng thời còn nhằm chỉ ra các
nguyên nhân, những mặt bất cập trong việc quy định pháp luật làm ảnh hưởng
đến sự tồn tại và phát triển của quan hệ tặng cho quyền sử dụng đất trong giai

Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp về hợp
đồng tặng cho quyền sử dụng đất và hướng hoàn thiện pháp luật.
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG TẶNG CHO
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
1.1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA HỢP ĐỒNG TẶNG CHO QUYỀN SỬ
DỤNG ĐẤT.
1.1.1. Khái niệm về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.
Trong cuộc sống hàng ngày, để tồn tại và phát triển thì con người phải
tham gia vào nhiều mối quan hệ xã hội khác nhau, một trong những mối quan
hệ xã hội đó chính là hợp đồng dân sự. Thông qua hợp đồng dân sự, con người
chuyển giao cho nhau các lợi ích vật chất nhằm đáp ứng các yêu cầu trong sinh
hoạt, tiêu dùng hàng ngày. Như vậy hợp đồng dân sự là một loại giao dịch phổ
biến, thông dụng và diễn ra thường xuyên trong đời sống của con người, nó
chiếm giữ một vị trí quan trọng trong việc thiết lập các quan hệ tài sản giữa
người với người và đóng một vai trò lớn trong đời sống xã hội.
Để thỏa mãn các nhu cầu trong sản xuất, tiêu dùng con người thường
tặng cho nhau những tài sản nhất định. Cũng như các hợp đồng thông dụng
khác, tặng cho tài sản chỉ làm phát sinh quan hệ hợp đồng khi bên được tặng
cho nhận tài sản. Như vậy hợp đồng tặng cho là một hợp đồng thực tế, đặc
điểm thực tế của hợp đồng được thể hiện ở chỗ: khi bên được tặng cho nhận tìa
sản thì khi đó quyền của các bên mới phát sinh hay nói cách khác là hợp đồng
được coi là ký kết và có hiệu lực khi các bên chuyển giao tài sản.
Hợp đồng tặng cho còn là hợp đồng không có đền bù, điều này được thể
hiện ở chỗ: bên tặng cho chuyển giao tài sản và quyền sở hữu tài sản cho bên
được tặng cho, còn bên được tặng cho không có nghĩa vụ trả lại cho bên tặng
cho bất kỳ lợi ích nào. Với các đặc điểm như vậy nên khái niệm về hợp đồng
tặng cho tài sản được quy định tại Điều 465 BLDS năm 2005 như sau:
"Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên
tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho

phương diện khách quan có thể nêu khái niệm của pháp luật về hợp đồng tặng
cho quyền sử dụng đất như sau:
Pháp luật về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là sự quy định của
Nhà nước về việc chuyển dịch quyền sử dụng đất từ bên tặng cho sang bên
được tặng cho.
Theo phương diện chủ quan thì: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
là một giao dịch dân sự, trong đó các bên tự trao đổi, thỏa thuận với nhau về
việc tặng cho quyền sử dụng để làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự
nhất định nhằm thỏa mãn các nhu cầu sử dụng đất. Như vậy hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất không chỉ là sự thỏa thuận để dịch chuyển quyền sử dụng
đất từ bên tặng cho sang bên được tặng cho mà nó còn là sự thỏa thuận để làm
phát sinh hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của mỗi bên. Do đó trên phương
diện chủ quan có thể nêu một cách khái quát về khái niệm của hợp đồng tặng
cho quyền sử dụng đất như sau: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là sự
thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao quyền sử dụng đất cho bên
được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận
nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng đất.
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất theo nghĩa chủ quan và pháp luật
về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất theo nghĩa khách quan là hai khái
niệm không đồng nhất với nhau nhưng bổ trợ cho nhau. Hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất theo nghĩa chủ quan là quan hệ tặng cho được hình thành từ
sự thỏa thuận giữa các bên để thỏa thuận nhu cầu sử dụng đất, còn pháp luật về
hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là sự quy định và yêu cầu của Nhà nước
đối với các thỏa thuận của các bên trong việc tặng cho quyền sử dụng đất. Khi
các bên thỏa thuận tặng cho nhau quyền sử dụng đất theo đúng quy định của
pháp luật thì được Nhà nước thừa nhận sự thỏa thuận đó và hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất có hiệu lực.
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là một dạng của hợp đồng tặng
cho tài sản nên nó cũng có đặc điểm là một hợp đồng thực tế, nghĩa là chỉ khi
nào bên tặng cho chuyển giao quyền sử dụng đất cho bên được tặng cho và bên

tặng cho quyền sử dụng đất, có thể đưa ra một khái niệm khoa học về hợp
đồng tặng cho quyền sử dụng đất như sau:
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận bằng văn bản
giữa bên tặng cho và bên được tặng cho, theo đó bên tặng cho giao quyền sử
dụng đất cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng
cho đồng ý nhận theo quy định của pháp luật về đất đai; Đồng thời nó còn là
một phương tiện pháp lý quan trọng bảo đảm cho việc dịch chuyển quyền sử
dụng đất từ bên tặng cho sang bên nhận tặng cho nhằm thỏa mãn các nhu cầu
về sử dụng đất.
1.1.2. Đặc điểm pháp lý của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là hợp đồng tặng cho tài sản, do
vậy nó cũng có đầy đủ các đặc điểm của hợp đồng tặng cho. Hợp đồng tặng
cho quyền sử dụng đất có các đặc điểm pháp lý sau đây:
- Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là hợp đồng thực tế.
Cũng như các hợp đồng tặng cho tài sản khác, hợp đồng tặng cho quyền
sử dụng đất là hợp đồng thực tế, đặc điểm thực tế của hợp đồng được thể hiện
khi bên được tặng cho nhận được quyền sử dụng đất từ bên tặng cho chuyển
giao theo đúng quy định của pháp luật, nghĩa là tại thời điểm đăng ký quyền sử
dụng đất ở cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì bên được tặng cho được coi là
nhận được quyền sử dụng đất từ bên tặng cho chuyển giao, khi đó hợp đồng
tặng cho mới có hiệu lực và quyền của bên được tặng cho mới phát sinh. Do
đặc điểm này của hợp đồng tặng cho mà mọi việc thỏa thuận về việc tặng cho
quyền sử dụng đất đều chưa có hiệu lực khi các bên chưa chuyển giao quyền
sử dụng đất cho nhau.
Đối với hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất thì đối tượng của hợp
đồng chính là quyền sử dụng đất - một loại tài sản đặc biệt quan trọng nên việc
dịch chuyển nó thông qua hợp đồng tặng cho được pháp luật quy định chặt chẽ
hơn nhiều so với việc tặng cho các tài sản thông thường khác, đó là sự quy
định về chủ thể, điều kiện, hình thức, nội dung của hợp đồng tặng cho quyền
sử dụng đất. Theo quy định của pháp luật thì không phải ai có quyền sử dụng

đất. Đối với hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất thì tiền đề để hình thành nên
nó là các mối quan hệ tình cảm sẵn có giữa các chủ thể, trên cơ sở của mối
quan hệ tình cảm ấy, các chủ thể thiết lập với nhau hợp đồng tặng cho quyền
sử dụng đất để giúp đỡ lẫn nhau nhằm thỏa mãn nhu cầu về sử dụng đất. Vì
vậy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là hợp đồng không có đền bù và
thường được giao kết trên cơ sở tình cảm và tinh thần tương thân tương ái giữa
những người có quan hệ họ hàng thân thuộc hoặc quen biết nhau.
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là hợp đồng không có đền bù, đặc
điểm này được thể hiện ở chỗ: bên tặng cho chuyển giao quyền sử dụng đất
của mình cho bên được tặng cho, còn bên được tặng cho không có nghĩa vụ trả
lại cho bên tặng cho bất kỳ một lợi ích nào. Đây chính là điểm cho phép chúng
ta phân biệt giữa hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất với các hợp đồng dân
sự khác như: hợp đồng vay tài sản, hợp đồng mua bán tài sản v.v
Như vậy có thể thấy rằng: hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất thường
được hình thành trên cơ sở quan hệ tình cảm của con người, nó là phương tiện
pháp lý quan trọng để dịch chuyển quyền sử dụng đất từ người này (cá nhân,
pháp nhân, tổ chức ) sang người khác (cá nhân, pháp nhân, tổ chức ) nhằm
thỏa mãn nhu cầu đất và là hợp đồng không có đền bù, chính yếu tố không có
đền bù đã tạo cho hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là hợp đồng đặc biệt
trong các hợp đồng dân sự.
1.2. Ý NGHĨA CỦA HỢP ĐỒNG TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT.
Trong đời sống giao lưu dân sự, ở mỗi chế độ xã hội khác nhau có
những quy định pháp luật khác nhau về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất,
nhưng tựu trung lại thì hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được hình thành
và xây dựng trên cơ sở quan hệ tình cảm giữa con người với nhau. Xuất phát từ
mối quan hệ tình cảm, con người tặng cho nhau quyền sử dụng đất để khai
thác, sử dụng nhằm đáp ứng các nhu cầu trong sản xuất, kinh doanh và trong
sinh hoạt hàng ngày. Với mục đích như vậy nên hợp đồng tặng cho quyền sử
dụng đất có các ý nghĩa sau:
- Nâng cao tình đoàn kết và phát huy tinh thần tương thân tương ái trong

dụng đất một cách hợp lý và có hiệu quả, góp phần làm cho sản xuất, kinh
doanh ngày càng phát triển.
- Là cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp về tặng cho quyền sử
dụng đất.
Mặc dù Nhà nước thừa nhận người sử dụng đất hợp pháp có quyền tặng
cho người khác quyền sử dụng đất của mình nhưng phải theo đúng các quy
định của pháp luật về đất đai, tuy nhiên trên thực tế có một số người tặng cho
nhau quyền sử dụng đất nhưng không tiến hành làm các thủ tục chuyển quyền
mà vẫn giao đất cho nhau sử dụng và trong quá trình sử dụng phát sinh các
mâu thuẫn dẫn đến tranh chấp về quyền sử dụng đất.
Với các tranh chấp này thường được kiện ra Tòa án và cơ quan Tòa án
căn cứ vào các quy định của pháp luật về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
để giải quyết, nếu giữa hai bên tranh chấp đã làm hợp đồng và hoàn tất các thủ
tục về tặng cho quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật thì bên
được tặng cho có quyền sử dụng đất vì hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
đã có hiệu lực pháp luật, ngược lại nếu hai bên chưa tiến hành hoàn tất hợp
đồng tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật thì quyền sử
dụng đất chưa được chuyển giao cho bên được tặng cho nên bên được tặng cho
chưa được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất này. Như vậy hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất là cơ sở pháp lý để Tòa án căn cứ vào đó giải
quyết các tranh chấp về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.
- Tạo sự thuận lợi cho Nhà nước trong việc quản lý đất đai.
Sự chuyển dịch quyền sử dụng đất từ người này sang người khác thông
qua hợp đồng tặng cho được pháp luật quy định tương đối chặt chẽ, với sự quy
định cụ thể về điều kiện, nội dung và hình thức của hợp đồng tặng cho quyền
sử dụng đất, Nhà nước đã kiểm soát và theo dõi được sự dịch chuyển quyền sử
dụng đất của các chủ thể tặng cho nhau. Theo quy định của pháp luật thì việc
tặng cho quyền sử dụng đất giữa các chủ thể phải được lập thành văn bản, có
công chứng hoặc chứng thực và phải được đăng ký tại cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền. Thông qua việc đăng ký này, Nhà nước theo dõi, kiểm soát được

Như vậy pháp luật thời Lý - Trần chưa quy định về khế ước tặng cho đất
đai nhưng Nhà nước đã thừa nhận chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất, đồng
thời bảo vệ quyền sở hữu tư nhân này, điều đó cho thấy Nhà nước Lý - Trần đã
tôn trọng, cho phép người sở hữu tư nhân về ruộng đất có quyền định đoạt tài
sản của mình như quyền mua bán, cầm đợ, thừa kế hay tặng cho đất đai v.v
Đến thời Lê, với việc ban hành bộ Quốc Triều Hình luật 1483 (Bộ luật
Hồng Đức) thì các quy định về hợp đồng và sở hữu đã được phát triển và hoàn
thiện hơn, trong đó đáng chú ý là các quy định pháp luật về quyền sở hữu, nhất
là sở hữu ruộng đất rất được coi trọng. Bộ luật Hồng Đức đã quy định hai chế
độ sở hữu ruộng đất, đó là: Ruộng đất thuộc sở hữu Nhà nước gọi là ruộng
công và ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân gọi là ruộng tư. Đối với sở hữu tư
nhân về ruộng đất thì không những Nhà nước thừa nhận mà còn chú trọng bảo
vệ bằng luật pháp, vì vậy trong Bộ luật Hồng Đức đã quy định rất nghiêm khắc
và rõ ràng đối với những người có hành vi xâm chiếm, nhận khống đất đai
hoặc bán trộm đất của người khác. Cụ thể như tại Điều 357 - Bộ luật Hồng
Đức quy định: "Nếu xâm chiếm bờ cõi ruộng đất, nhổ bỏ mốc giới của người
khác, hay tự mình lại lập ra mốc giới thì xử biếm 2 tư", hoặc tại Điều 382 - Bộ
luật Hồng Đức cũng quy định: "Bán trộm ruộng đất của người khác thì xử tội
biếm, bán từ 10 mẫu trở lên thì xử tội đồ, trả tiền mua cho người mua và phải
trả thêm một lần tiền mua nữa để trả cho người chủ có ruộng đất và người mua,
mỗi người một phần nửa, ruộng đất thì phải trả người chủ có. Nếu người biết
mà cứ mua, thì xử phạt 80 trượng và mất số tiền mua".
Cùng với việc quy định về quyền sở hữu ruộng đất, pháp luật thời Lê
cũng quy định về hình thức giao dịch đất đai như: cầm cố, mua bán, thừa kế
phải được thể hiện dưới dạng văn khế (khế ước) viết và phải có sự bình đẳng,
tự nguyện của hai bên, cũng như có sự chứng kiến của quan lại thì khế ước đó
mới có hiệu lực. Tại Điều 366 - Quốc Triều Hình Luật quy định: "Những
người làm chúc thư văn khế mà không nhờ quan trưởng trong làng viết thay và
chứng kiến thì phạt 80 trượng, phạt tiền theo việc nặng nhẹ, chúc thư văn khế
ấy không có giá trị. Nếu biết chữ mà viết lấy thì được".

luật, đây là lần đầu tiên các quyền năng của chủ sở hữu được phân định rõ ràng
và nội dung của từng quyền được quy định tương đối cụ thể. Về hình thức sở
hữu: pháp luật thừa nhận và bảo vệ hình thức sở hữu của các pháp nhân công,
sở hữu của các pháp nhân tư, sở hữu tư nhân, sở hữu chung. Còn tài sản thì
được chia ra làm hai loại: Động sản và bất động sản, trong đó đất đai (điền địa)
được xếp vào bất động sản.
Do pháp luật quy định đất đai thuộc sở hữu tư nhân nên các quyền năng:
chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của chủ sở hữu đất đai được pháp luật thừa
nhận và bảo vệ, vì vậy quyền tặng cho đất đai cũng được Nhà nước cho phép.
Trong Bộ dân Luật Bắc Kỳ 1931, tại các Điều 951 đến Điều 994 có các quy
định về: "Khế ước sinh thời tặng dữ", theo đó thì "cho tặng là khế ước do bên
tặng chủ bỏ đứt ngay một tài sản gì để cho bên người thụ tặng nhận lấy", tài
sản cho tặng ở đây có thể là đất đai.
Như vậy, tặng cho đất đai là một khế ước được pháp luật thừa nhận, tuy
nhiên pháp luật cũng quy định tương đối chặt chẽ đối với "Khế ước sinh thời
tựng dữ" mà đối tượng của nó là đất đai. Những khế ước loại này phải được
lập thành văn bản, có chứng nhận của viên chức thị thực trước mặt người thụ
tặng và người thụ tặng phải đồng ý nhận thì khế ước mới có hiệu lực. Đây là
quy định nhằm quản lý chặt chẽ đất đai, đồng thời cũng là cơ sở cho việc giải
quyết tranh chấp của các bên liên quan trong vấn đề tặng cho ruộng đất.
Với các quy định như trên, có thể thấy pháp luật nước ta ở thời kỳ này
chịu ảnh hưởng của pháp luật nước Pháp nhưng cũng có những bước phát triển
mới, trong đó có quy định về tặng cho đất đai là một điểm tiến bộ, đáp ứng
được nhu cầu của người dân trong cuộc sống.
1.3.2. Những quy định của pháp luật về hợp đồng tặng cho quyền sử
dụng đất từ năm 1945 đến trước năm 1980.
Sau khi cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa ra đời, trong những ngày đầu Nhà nước ta chưa thể xây dựng
ngay một hệ thống pháp luật đầy đủ, nhưng không thể để một ngày không có
luật, vì vậy ngày 10/10/1945 Hồ Chủ Tịch đã ký sắc lệnh số 90/SL về việc tạm

22/02/1952 quy định về thủ tục trước bạ đối với việc mua bán, tặng cho và đổi
nhà cửa, ruộng đất. Tại Điều 1 của Sắc lệnh quy định: "Các việc mua bán, cho
và đổi nhà cửa, ruộng đất bắt buộc phải trước bạ, rồi mới được sang tên trong
địa bộ và sổ thuế". Đối với việc mua bán, tặng cho, nhận đổi nhà cửa, ruộng
đất thì phải lập thành văn tự và văn tự này phải được Ủy ban kháng chiến hành
chính xã hay thị xã thị thực, cụ thể tại Điều 3 của Sắc lệnh quy định: "Trước
khi đem đi trước bạ, văn tự phải được Ủy ban hành chính xã hay thị xã nhận
thực chữ ký của các người mua, bán, tặng cho, nhận đổi ". Như vậy với việc
quy định tại Sắc lệnh số 85/SL này, Nhà nước đã đề cập tới đối tượng, chủ thể,
hình thức của văn tự mua bán, thừa kế, tặng cho ruộng đất, điều đó chứng tỏ
Nhà nước đã thừa nhận việc tặng cho đất đai là một quyền năng của chủ sở
hữu đất đai.
Đến ngày 4/2/1953 Luật cải cách ruộng đất được Quốc hội nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa thông qua tại khóa họp lần thứ III. Tại Điều 31 của
Luật cải cách ruộng đất quy định: "Người được chia ruộng đất có quyền sở hữu
đối với ruộng đất đó người được chia có quyền chia gia tài, cầm, bán, cho
v.v ruộng đất được chia" [15, tr.13].
Với quy định này, Luật pháp nước ta thừa nhận quyền sở hữu tư nhân
đối với đất đai, đồng thời cho phép chủ sở hữu đất đai được thực hiện các
quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đất đai.
Ngày 10/5/1959 bằng chỉ thị số 722, Tòa án nhân dân tối cao đã đình chỉ
việc áp dụng luật lệ của đế quốc, phong kiến. Từ đây các quan hệ dân sự chỉ
thực hiện theo pháp luật của Nhà nước Việt Nam, đó là các quy định trong
Luật cải cách ruộng đất 1953 và một số sắc lệnh như sắc lệnh 97/SL, sắc lệnh
85/SL v.v
Ngày 31/12/1959, Hiến pháp (1959) được Quốc hội nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa thông qua, tại Điều 14 của Hiến pháp ghi nhận: "Nhà nước chiểu
theo pháp luật, bảo hộ quyền sở hữu về ruộng đất và các tư liệu sản xuất nông
dân".
Ngày 3/6/1963 Thủ tướng Chính phủ ra thông tư số 48/TTg về việc thực

bỏ các hình thức sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất, trong đó có đất đai,
khẳng định chỉ có một hình thức sở hữu duy nhất đối với đất đai đó là sở hữu
toàn dân do Nhà nước thông nhất quản lý. Tại Điều 19 - Hiến pháp năm 1980
đã quy định: "Đất đai, núi rừng, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên tỏng
lòng đất, ở vùng biển và thềm lục địa, các xí nghiệp công nghiệp, nông nghiệp,
lâm nghiệp, ngư nghiệp, thương nghiệp cùng các tài sản khác mà pháp luật
quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân" [9, tr.15].
Tại Quyết định số 201 - CP ngày 01/1980 của Hội đồng Chính phủ và
Luật đất đai năm 1987 đều quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà
nước thống nhất quản lý, nên nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, chuyển dịch
nhượng đổi, tặng cho đất đai. Do đó tất cả các giao dịch dân sự về đất đai trong
thời gian này đều bị coi là trái pháp luật.
Đến Hiến pháp năm 1992 và Luật đất đai năm 1993, Nhà nước đã cho
phép người sử dụng đất hợp pháp được chuyển quyền sử dụng đất theo quy
định của pháp luật, nhưng các văn bản pháp luật trong thời gian này chưa có
văn bản nào đề cập hoặc quy định về quyền tặng cho quyền sử dụng đất.
Bộ luật dân sự năm 1995 ra đời, đã quy định quyền sử dụng đất là tài
sản và người sử dụng đất có các quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê,
thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất. Riêng đối với tặng cho quyền sử dụng đất
thì Bộ luật không quy định, như vậy có thể thấy: Trong suốt giai đoạn từ năm
1980 đến trước ngày Luật đất đai năm 2003 có hiệu lực thì pháp luật nước ta
chưa có văn bản pháp luật nào quy định về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng
đất.
1.3.4. Những quy định của pháp luật về hợp đồng tặng cho quyền sử
dụng đất từ 1/7/2004 đến nay.
Để đáp ứng các yêu cầu thực tế của người sử dụng đất, Luật đất đai năm
2003 ra đời và có hiệu lực từ ngày 01 - 7 - 2004 đã quy định cụ thể về quyền
tặng cho quyền sử dụng đất, các điều kiện tặng cho quyền sử dụng đất v.v
trên cơ sở đó Bộ luật dân sự năm 2005 được ban hành, đã quy định chi tiết, cụ
thể về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; vì đối tượng của loại hợp đồng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status