BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÙI THỊ TRÀ MY
TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ HÌNH SỰ TẠI VIỆT NAM –
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Quốc tế
Mã số: 60 38 01 08
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. NGUYỄN THỊ THUẬN
HÀ NỘI - 2016
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Thị Thuận đã tận
tình giúp đỡ, chỉ bảo và hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin bày tỏ sự kính trọng và cảm ơn chân thành đến trường Đại học
Luật Hà Nội, các thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã tạo mọi
điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thiện luận văn.
Vì thời gian có hạn và vốn kiến thức hạn hẹp nên luận văn không tránh
khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận được sự góp ý của thầy cô giáo và các
bạn để luận văn được hoàn thiện hơn.
1.3.Nội dung tương trợ tư pháp về hình sự ................................................. 16
1. 4. Vai trò của hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự ............................ 17
CHƯƠNG 2 ................................................................................................. 21
TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ HÌNH SỰ THEO ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ
MÀ VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN VÀ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM21
2.1.Các điều ước quốc tế đa phương .......................................................... 21
2.2.Các điều ước quốc tế song phương về tương trợ tư pháp hình sự ......... 30
2.3. Pháp luật Việt Nam về hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự........... 36
2.3.1. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự39
2.3.2. Nội dung tương trợ tư pháp về hình sự.......................................... 41
2.3.3. Hình thức tương trợ tư pháp về hình sự ........................................ 45
2.3.4. Các trường hợp từ chối tương trợ tư pháp .................................... 48
2.3.5.Trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp về hình sự ............................... 54
CHƯƠNG 3 ................................................................................................. 57
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN
HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM .. 57
3.1.Thực tiễn thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự ở Việt Nam .............. 57
3.1.1. Thực tiễn tương trợ tư pháp về hình sự ở Việt Nam trước khi Luật
tương trợ tư pháp năm 2007 có hiệu lực ................................................ 57
3.1.2. Thực tiễn tương trợ tư pháp về hình sự ở Việt Nam sau khi Luật
tương trợ tư pháp năm 2007 có hiệu lực ................................................ 61
3.2. Một số hạn chế của pháp luật và thực tiễn thực hiện tương trợ tư pháp
về hình sự ở Việt Nam ............................................................................... 64
3.2.1.Những bất cập trong quy định của pháp luật ................................. 65
3.2.2.Những bất cập trong thực tiễn tương trợ tư pháp về hình sự ......... 73
3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tương trợ tư pháp về hình
sự ............................................................................................................... 75
3.3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về tương trợ tư pháp hình sự ....... 75
trách nhiệm hình sự đối với những đối tượng không ở trong phạm vi lãnh thổ
nước mình nếu như không có sự giúp đỡ, hợp tác của các quốc gia khác.
Chính vì vậy, hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự giữ vai trò hết sức
2
quan trọng trong quan hệ giữa các nước từ trước tới nay và đặc biệt là trong
quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm quốc tế.
Trong lộ trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, nước ta đã đạt được
những thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có tương trợ tư
pháp về hình sự. Tuy nhiên, hoạt động tương trợ tư pháp tại Việt Nam hiện
nay chưa thực sự mang lại hiệu quả do pháp luật trong nước còn nhiều bất
cập, chưa có sự tương thích với pháp luật quốc tế; đồng thời đội ngũ cán bộ
làm công tác tương trợ tư pháp còn hạn chế cả về số lượng và chất lượng.
Vì những lý do trên, nghiên cứu vấn đề "Tương trợ tư pháp về hình sự
tại Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" mang tính cấp thiết không
những về lý luận mà còn là đòi hỏi thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt
động tương trợ tư pháp về hình sự ở nước ta.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, hợp tác quốc tế về đấu tranh phòng chống tội phạm nói
chung, tương trợ tư pháp về hình sự nói riêng là vấn đề được nhiều nhà nghiên
cứu quan tâm, đề cập trong các công trình nghiên cứu khoa học. Trong phạm
vi nghiên cứu của luận văn, có thể kể đến một số công trình như các đề tài
nghiên cứu khoa học cấp bộ: Viện nghiên cứu khoa học pháp lý -Bộ Tư pháp
(2000), Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Pháp lệnh tương trợ tư pháp quốc
tế, Hà Nội. Tổng cục Cảnh sát, Bộ Công an (2000), Dẫn độ tội phạm và tương
trợ tư pháp hình sự trong phòng chống tội phạm ở Việt Nam- thực trạng và
giải pháp, Hà Nội.
Về sách và giáo trình, có thể kể đến: Nguyễn Thị Thuận (2007), Luật
đề này. Ngoài ra, đối tượng nghiên cứu của luận văn còn là tình hình thực tiễn
tương trợ tư pháp về hình sự tại Việt Nam.
Về phạm vi nghiên cứu, theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều
ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, tương trợ tư pháp về hình sự bao gồm
cả hoạt động dẫn độ và chuyển giao người bị kết án. Tuy nhiên, trong phạm vi
4
đề tài này, xin được đề cập đến các nội dung tương trợ tư pháp về hình sự theo
quy định của pháp luật Việt Nam và theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam
là thành viên. Theo đó, tương trợ tư pháp về hình sự bao gồm:
- Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan đến tương trợ tư pháp về
hình sự;
- Triệu tập người làm chứng, người giám định;
- Dẫn giải người đang chấp hành hình phạt tù để cung cấp chứng cứ
- Thu thập, cung cấp chứng cứ như lấy lời khai của người bị hại, người
làm chứng, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, xác minh lý lịch,
thu thập và cung cấp tài liệu…
- Truy cứu trách nhiệm hình sự
- Trao đổi thông tin
- Các hoạt động tương trợ tư pháp khác.
Hoạt động dẫn độ tội phạm tuy cũng là một hình thức tương trợ tư pháp
nhưng do đã được đề cập nhiều trong các công trình nghiên cứu khoa học
khác. Hơn nữa, dẫn độ tội phạm là lĩnh vực rộng, có nhiều đặc thù so với các
hoạt động nêu trên nên sẽ không đề cập đến trong phạm vi đề tài này.
4. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu đề tài tương trợ tư pháp về hình sự tại Việt Nam nhằm hai
mục tiêu chính:
Thứ nhất, về mặt lý luận, luận văn làm rõ những vấn đề chung về tương
hiệu quả hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự tại Việt Nam. Cụ thể các câu
hỏi của luận văn như sau:
-Tương trợ tư pháp về hình sự là gì?
-Pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế quy định như thế nào về
tương trợ tư pháp hình sự? Có sự tương thích hay không?
- Tương trợ tư pháp hình sự tại Việt Nam diễn ra như thế nào?
- Làm thế nào để khắc phục những khó khăn, hạn chế trong tương trợ tư
pháp hình sự tại Việt Nam?
6
6.Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Việc nghiên cứu đề tài được dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác-Lê nin luận về duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và tư tưởng Hồ
Chí Minh về nhà nước và pháp luật cũng như cơ sở lý luận của khoa học luật
hình sự và pháp luật quốc tế.
Luận văn kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu luật học như:
phương pháp phân tích, so sánh, mô tả, liệt kê. Phương pháp phân tích nhằm
đưa ra những nhận định và tìm hiểu sâu hơn về pháp luật điều chỉnh hoạt động
tương trợ tư pháp về hình sự, thực trạng tương trợ tư pháp hình sự tại Việt
Nam; phương pháp so sánh được sử dụng để đánh giá sự tương thích giữa
pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế; phương pháp mô tả, liệt kê dùng để
nêu ra những quy định của pháp luật hiện hành và mô tả thực trạng của hoạt
động tương trợ tư pháp hình sự ở Việt Nam.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Pháp luật điều chỉnh hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự bao gồm
điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia, do đó một trong những mục đích và
cũng là ý nghĩa của luận văn là hệ thống hóa và làm rõ các vấn đề lý luận và
pháp lý cơ bản của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về tương trợ tư
thời kỳ, ở các nước khác nhau tồn tại những học thuyết, quan điểm, các cơ sở
lý luận khác nhau về tương trợ tư pháp trong quan hệ quốc tế.
Dưới đây là một số quan điểm về tương trợ tư pháp hình sự theo lý luận
pháp luật và thực tiễn tư pháp của một số nước :
Ở Cộng hòa liên bang Đức, tương trợ tư pháp hình sự được hiểu theo
truyền thống tư pháp Đức đó là việc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của
các nước khác nhau trợ giúp lẫn nhau trong tống đạt giấy tờ, tài liệu tư pháp
và thực hiện các hành vi tố tụng riêng biệt khác nhau để thu thập chứng cứ
trong một vụ việc tố tụng tư pháp. Pháp luật Nhật Bản, Italy và một số nước
khác thuộc hệ thống pháp luật châu Âu lục địa có cách hiểu về khái niệm
tương trợ tư pháp về hình sự tương tự cách hiểu nói trên của Đức1.
Ô-xtrây-lia có quan niệm về tương trợ tư pháp hình sự là việc các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền trợ giúp lẫn nhau trong một số hoạt động tố
tụng hình sự như: thu thập chứng cứ của người làm chứng tại Ô-xtrây-lia phục
vụ quá trình tố tụng ở nước ngoài; sắp xếp cho người làm chứng (nếu tự
nguyện) đến nước khác để cung cấp chứng cứ trong quá trình tố tụng ở nước
ngoài; xin phê chuẩn và thực hiện lệnh tạm giữ và tịch thu tài sản do phạm tội
mà có.2
1
Bộ tư pháp, Báo cáo tổng thuật cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Luật tương trợ tư pháp năm 2007
2
Luật tương trợ tư pháp về hình sự năm 1987 của Australia
9
Liên bang Nga có quan niệm tương trợ tư pháp cơ bản tương tự giống
10
Thứ nhất, chủ thể thực hiện hoạt động tương trợ tư pháp về nguyên tắc
đều do pháp luật của mỗi quốc gia quy định. Pháp luật Việt Nam quy định các
cơ quan thực hiện tương trợ tư pháp bao gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; Bộ Công an; Cơ quan điều tra; Tòa án nhân
dân cấp tỉnh; Bộ Ngoại giao, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và
một số cơ quan khác có liên quan. Phía nước ngoài cũng có các cơ quan có
thẩm quyền tương ứng được quy định trong pháp luật mỗi quốc gia.
Thứ hai, về phạm vi tương trợ tư pháp về hình sự, nếu được hiểu theo
nghĩa hẹp thì chỉ bao gồm các hành vi tố tụng riêng biệt do các bên thỏa thuận
hợp tác giúp đỡ lẫn nhau. Điều này cũng đồng nghĩa với bản chất của vấn đề
tương trợ tư pháp là việc hỗ trợ cho nhau trong thực hiện các hành vi tố tụng
riêng biệt (như tống đạt giấy tờ, thực hiện ủy thác điều tra, thu thập chứng cứ,
dẫn độ tội phạm, thi hành án...). Còn hiểu theo nghĩa rộng thì các vấn đề
tương trợ tư pháp ở đây còn bao gồm cả dẫn độ, chuyển giao người bị kết án
và một số hoạt động khác hỗ trợ việc thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự.
Thứ ba, cơ sở pháp lý để thực hiện tương trợ tư pháp là điều ước quốc
tế (song phương hoặc đa phương) giữa các nước và pháp luật các nước liên
quan về tương trợ tư pháp. Điều ước quốc tế giữa các nước liên quan về tương
trợ tư pháp được ưu tiên áp dụng; nếu không có điều ước quốc tế liên quan thì
tương trợ tư pháp được thực hiện theo pháp luật của nước được yêu cầu thực
hiện, chủ yếu tuân theo nguyên tắc có đi có lại - nguyên tắc phổ biến trong đời
sống quốc tế được nhiều nước áp dụng.
Thứ tư, mục đích của hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự là nhằm
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân của các
quốc gia trên lãnh thổ của nhau, đấu tranh có hiệu quả với tội phạm quốc tế,
tội phạm có tính chất quốc tế, góp phần củng cố và phát triển quan hệ hữu
bình đẳng chủ quyền của các quốc gia. Chủ quyền là thuộc tính chính trị-pháp
lý vốn có của quốc gia, thể hiện quyền tối thượng của quốc gia trong lãnh thổ
12
của mình và quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế. Trong phạm vi
lãnh thổ của mình, mỗi quốc gia có quyền tối thượng về lập pháp, hành pháp
và tư pháp mà không có bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài, đồng thời quốc
gia được tự do lựa chọn cho mình phương thức thích hợp nhất để thực thi
quyền lực trong phạm vi lãnh thổ. Trong quan hệ quốc tế, mỗi quốc gia có
quyền tự quyết định chính sách đối ngoại của mình mà không có sự áp đặt từ
chủ thể khác trên cơ sở tôn trọng chủ quyền của mọi quốc gia. Điều này có
nghĩa là các quốc gia dù lớn hay nhỏ, gia trong cộng đồng quốc tế dù giàu
hay nghèo đều có quyền độc lập như nhau trong quan hệ quốc tế. Trong lĩnh
vực tương trợ tư pháp hình sự, việc các quốc gia áp dung nguyên tắc "có đi có
lại" đã thể hiện sự bình đẳng về chủ quyền trong hợp tác quốc tế. Ngoài ra,
nguyên tắc này còn được thể hiện qua việc các quốc gia có quyền từ chối các
yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự nếu việc thực hiện yêu cầu đó có thể làm
tổn hại đến chủ quyền, an ninh quốc gia.
Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác đòi hỏi các quốc gia có
nghĩa vụ tiến hành hợp tác quốc tế để giải quyết các vấn đề kinh tế, văn hóa,
xã hội và nhân đạo trong phạm vi quốc tế, đồng thời duy trì hòa bình và an
ninh quốc tế bằng cách tiến hành các biện pháp tập thể có hiệu quả. Trong lĩnh
vực tương trợ tư pháp về hình sự, nguyên tắc này là cơ sở để các quốc gia hợp
tác với các quốc gia khác để giải quyết các yêu cầu tương trợ tư pháp, góp
phần đấu tranh phòng chống tội phạm.
Nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện cam kết quốc tế được hiểu là
khi các bên chủ thể trong quan hệ quốc tế tham gia vào ký kết các điều ước
quốc tế thì phải trên cơ sở của sự thỏa thuận và tự nguyện bình đẳng. Đồng
Khi tham gia điều ước quốc tế, Việt Nam phải tuân thủ những nghĩa vụ
pháp lý quốc tế được quy dịnh trong điều ước đó với tư cách là thành viên.
Mọi hoạt động hợp tác quốc tế cũng như tương trợ tư pháp của Việt Nam
14
không được trái với các nghĩa vụ của Việt Nam theo các điều ước này. Theo
đó, Việt Nam phải nghiêm chỉnh tuân thủ các nghĩa vụ quốc tế đã cam kết,
việc hợp tác của Việt Nam với quốc gia, tổ chức quốc tế này không được làm
phương hại đến quan hệ hợp tác quốc tế đã được thiết lập trước đó của Việt
Nam với các quốc gia, tổ chức quốc tế khác. Đây chính là sự nhất quán trong
chính sách đối ngoại của Việt Nam, bảo đảm uy tín của Việt Nam trên trường
quốc tế.
Trong trường hợp nếu các điều ước quốc tế và pháp luật Việt Nam có
quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì theo quy định của Luật ký kết, gia
nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005, nay đã được thay thế bởi Luật
Điều ước quốc tế năm 2016 thì điều ước quốc tế sẽ được ưu tiên áp dụng5.
Thứ ba, tương trợ tư pháp về hình sự được thực hiện trên cơ sở nguyên
tắc có đi có lại.
“Có đi có lại” là một trong những nguyên tắc pháp lý quan trọng và phổ
biến. Theo nguyên tắc này, các quốc gia sẽ dành sự đối xử một cách tương
xứng với những gì quốc gia kia dành cho quốc gia mình. Nguyên tắc "có đi có
lại" được áp dụng trong quan hệ giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ khi giữa các
quốc gia đó chưa ký kết điều ước quốc tế song phương, hoặc không cùng
tham gia điều ước quốc tế đa phương nhưng có yêu cầu hợp tác trong lĩnh vực
nào đó.
Hiện nay, trong lĩnh vực tư pháp hình sự, các quốc gia trên thế giới
thường áp dụng nguyên tắc “có đi có lại”. Nguyên tắc này có ưu thế là trực
tiếp giải quyết nhanh chóng yêu cầu của cả hai bên nhưng phải được thực hiện
nhằm tạo điều kiện thuận lợi để mỗi bên thực hiện các yêu cầu nhiệm vụ đã
cam kết trong đấu tranh chóng tội phạm và giải quyết nhiệm vụ cụ thể của
từng vụ án hình sự. Các hoạt động cụ thể của hợp tác phải trong khuôn khổ
những mục đích và phạm vi hợp tác đã thỏa thuận và tiến hành theo chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan chuyên trách ở mỗi bên theo quy
6
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 hiện đang bị lùi thời hạn thi hành theo Nghị quyết số 144/2016/QH13
ngày 29/6/2016 của Quốc hội
16
định của các điều ước, thỏa thuận đã ký kết7;
-Nguyên tắc tội phạm kép: là một trong những nguyên tắc cơ bản của
luật hình sự quốc tế, theo đó các quốc gia sẽ từ chối tương trợ tư pháp về hình
sự nếu đó là yêu cầu tương trợ tư pháp nhằm phục vụ cho hoạt động điều tra,
truy tố, xét xử một hành vi mà pháp luật hình sự nước mình không coi đó là
hành vi phạm tội. Tuy nhiên, tội phạm kép không có nghĩa là pháp luật của
quốc gia yêu cầu tương trợ và quốc gia được yêu cầu tương trợ phải quy định
hành vi phạm tội đó trong một nhóm tội hoặc cùng tội danh và điều quan
trọng là hành vi phạm tội đó có những yếu tố cấu thành tội phạm cơ bản tương
đương theo quy định của pháp luật hai bên.
Bên cạnh đó, thực hiện hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự còn phải
tuân thủ nguyên tắc chỉ đạo về hợp tác quốc tế theo ngành, lĩnh vực do cơ
quan chủ quản xác định phù hợp với nguyên tắc chung do Đảng và Nhà nước
ta đã ban hành. Thực hiện các nguyên tắc này đòi hỏi cơ quan tiến hành tố
tụng phải tuyệt đối tuân thủ quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và
pháp luật của Nhà nước ta về đối ngoại; các quy định của bộ, ngành chủ quản
của cơ quan tiến hành tố tụng, về hợp tác quốc tế giữa cơ quan tiến hành tố
cáo là người nước ngoài phạm tội tại Việt Nam hoặc ngược lại. Bởi tự các cơ
quan có thẩm quyền của Việt Nam không thể thực hiện các hoạt động trên nếu
không có sự hợp tác, trợ giúp của các cơ quan có thẩm quyền của nước liên
quan vì nó vượt khỏi phạm vi về thẩm quyền tài phán quốc gia của Việt Nam.
1. 4. Vai trò của hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự
Trong quá trình đổi mới toàn diện các lĩnh vực của đời sống đất nước,
phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế
quốc tế, việc nắm bắt và hiểu đúng, sử dụng đúng “luật chơi” chung của cộng
đồng quốc tế luôn đóng vai trò quan trọng trong phát triển nhiều mặt của đất
nước. Để đạt được điều đó, cần phải xây dựng và phát triển hệ thống pháp luật
quốc gia hài hòa với các chuẩn mực quốc tế, trên nền tảng văn hóa pháp lý
thực tại quốc gia, không bị lạc hậu so với thế giới.
Lĩnh vực tương trợ tư pháp ở nước ta cũng có những đòi hỏi tương tự
như vậy. Tương trợ tư pháp từ lâu đã được coi là một yêu cầu đòi hỏi hết sức
18
khách quan, là một xu hướng vận động tất yếu, không thể thiếu được trong bối
cảnh mở rộng quan hệ quốc tế, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh
tế quốc tế. Chính vì vậy, ngày càng có nhiều nước quan tâm đến các hoạt
động tương trợ tư pháp trong phát triển quan hệ với các nước và phát triển
kinh tế nước mình.
Tương trợ tư pháp về hình sự có ý nghĩa quan trọng về chính trị - xã hội
cũng như pháp lý, góp phần thể chế hoá và thực hiện đường lối đối ngoại đa
phương hoá, đa dạng hoá, tăng cuờng hội nhập, hợp tác quốc tế đã được ghi
nhận trong các Văn kiện của Đảng và Nhà nước ta. Nghị quyết số 49- NQ/TW
ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị đã xác định: “Tổ chức thực hiện tốt các điều
ước quốc tế mà Nhà nước ta đã tham gia. Tiếp tục ký kết hiệp định tương trợ
tư pháp với các nước khác, trước hết là với các nước láng giềng, các nước
vai trò của mình trong việc ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm xuyên quốc gia,
góp phần bảo đảm hòa bình và an ninh quốc tế, bảo vệ công lý trên phạm vi
toàn cầu.
Thứ hai, tương trợ tư pháp về hình sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân mỗi quốc gia. Tội phạm nếu không được các quốc gia hợp tác để
trừng trị sẽ kéo theo những hậu quả vô cùng nghiêm trọng cho cộng đồng quốc
tế, trong đó có những thiệt hại cho quyền và lợi ích hợp pháp của riêng mỗi
công dân. Vì vậy, tương trợ tư pháp hình sự là yếu tố quan trọng trong việc bảo
vệ những quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong mỗi quốc gia.
Thứ ba, tương trợ tư pháp về hình sự góp phần giữ vững an ninh quốc
gia. Trước tình hình tội phạm ngày càng phức tạp với phạm vi hoạt động trên
toàn cầu, an ninh quốc gia sẽ dễ dàng bị xâm hại. Đặc biệt là với Việt Nam,
khi các quy định của pháp luật còn lỏng lẻo là cơ hội cho tội phạm từ các
nước khác xâm nhập, ảnh hưởng đến tình hình chính trị, an ninh quốc gia. Vì
vậy, tương trợ tư pháp là hoạt động không thể thiếu để ngăn chặn tội phạm,
bảo vệ an ninh quốc gia.
Cuối cùng, tương trợ tư pháp hình sự thúc đẩy mối quan hệ giữa các
20
quốc gia. Hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự thúc đẩy quan hệ hữu nghị,
hợp tác cùng có lợi giữa các nước, thông qua đó, các cơ quan nhà nước và đội
ngũ công chức thực hiện công tác này có thể trao đổi, học tập kinh nghiệm,
mở rộng sự hiểu biết về công tác chuyên môn. Điều đó là hoàn toàn cần thiết
và có lợi cho công cuộc hội nhập quốc tế, củng cố và nâng cao vai trò và vị
thế của các cơ quan tư pháp của mỗi quốc gia trên trường quốc tế.
Tóm lại, sau khi nghiên cứu một cách tổng quát về hoạt động tương trợ
tư pháp về hình sự, có thể nhận định: Tương trợ tư pháp về hình sự là một
hoạt động hợp tác giữa các quốc gia trong lĩnh vực hình sự với chủ thể là các