1
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ TUYẾT NHUNG
CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ
CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ
SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TẠI HẢI PHÒNG -
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄn
Chuyên ngành : Luật hình sự
Mã số : 60 38 40
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2012
Công trình được hoàn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt MỞ ĐẦU
1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG, NHIỆM
VỤ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG GIAI
ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
6
1.1.
Đặc điểm của giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và vai
trò của Viện kiểm sát
6
1.1.1.
Đặc điểm của giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
6
1.1.2.
Vai trò của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự
8
Cơ quan Viện kiểm sát ở một số nước trên thế giới
40
4
Chương 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
44
2.1.
Thực trạng thực hiện chức năng nhiệm vụ của Viện kiểm sát
nhân dân thành phố Hải Phòng trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự
44
2.1.1.
Đặc điểm tình hình có liên quan đến hoạt động thực hiện
chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
44
2.1.2.
Thực trạng thực hiện chức năng nhiệm vụ của Viện kiểm sát
nhân dân thành phố Hải Phòng
51
2.2.
Những tồn tại trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ
của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng
78
2.2.1.
Những tồn tại
78
2.2.2.
105
KẾT LUẬN
119
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
120
5
PHỤ LỤC
127
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BCA
: Bộ Công an
BLHS
: Bộ luật hình sự
BLTTHS
: Bộ luật tố tụng hình sự
CQCSĐT
: Cơ quan cảnh sát điều tra
CQĐT
: Cơ quan điều tra
CQTHTT
: Cơ quan tiến hành tố tụng
ĐTV
Điều tra viên
HĐND
: Viện kiểm sát nhân dân thành phố
6
VKSQSTW
: Viện kiểm sát quân sự Trung ương
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
7
Lời cam đoan Tôi xin cam đoan đây là công
trình nghiên cứu khoa học của
riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo
độ tin cậy, chính xác và trung
thực. Những kết luận khoa học của
luận văn cha từng đợc ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Tuyết Nhung
tụng khác tổ chức sắp xếp lại các đơn vị Viện kiểm sát nhân dân các
cấp để thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt
động tư pháp [8].
Và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã chỉ rõ bên cạnh việc cải cách, sửa đổi hệ
thống pháp luật của nước ta, cần phải:
Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ
chức bộ máy các cơ quan tư pháp. Trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện tổ
chức và hoạt động của Tòa án Đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử,
xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố
tụng và người tham gia tố tụng theo hướng đảm bảo tính công khai, dân
chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét
xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp [9].
10
Từ những quy định trên cho thấy Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm và chú
trọng đến hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân. Để hoạt động xét xử của Tòa án
được tiến hành có hiệu quả và đạt hiệu lực cao; đảm bảo việc xét xử khách quan,
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân thì VKS có vai trò rất quan trọng.
Theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003, Luật tổ
chức Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) năm 2002, trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
các vụ án hình sự, VKSND có chức năng, nhiệm vụ cụ thể là: kiểm sát hoạt động
chấp hành pháp luật của Tòa án về thẩm quyền xét xử, thủ tục xét xử của Tòa án các
cấp, việc chuyển vụ án; về thời hạn chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử của Tòa án, việc ra
các quyết định của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử; việc áp dụng, thay đổi
biện pháp ngăn chặn của Tòa án; kiểm sát việc chấp hành thủ tục tố tụng về thành
phần Hội đồng xét xử (HĐXX) và những người tham gia phiên tòa; kiểm sát việc
xét xử của tòa án, kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố
tụng, những người tham gia tố tụng, những người tham dự phiên tòa kiểm sát việc
cơ quan bảo vệ pháp luật và trong hoạt động đấu tranh, phòng chống tội phạm bảo
vệ quyền con người. Vì vậy, em chọn đề tài: "Chức năng, nhiệm vụ của Viển kiểm
sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại Hải Phòng - Một số vấn đề lý
luận và thực tiễn" làm luận văn thạc sĩ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu
Bàn đến vấn đề này đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu, có nhiều bài viết
liên quan đến hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKS trong giai đoạn
xét xử nói chung và xét xử sơ thẩm nói riêng như: "Kỹ năng thực hành quyền công
tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự"- TS. Nguyễn Văn
Huyên, Học viện tư pháp. Trong ngành kiểm sát cũng có một số chuyên đề nghiên
cứu về vấn đề này: chuyên đề "Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và
kiểm sát xét xử các vụ án hình sự" của Vụ THQCT và KSXX án hình sự của Viện
kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC); và một số chuyên đề nghiên cứu về một số
hoạt động của VKS trong giai đoạn xét xử: "Nâng hiệu quả công tác kiểm sát án
hình sự, hạn chế thấp nhất việc Tòa án tuyên bị cáo không phạm tội năm 2008" của
VKSNDTC. Tại Hải Phòng cũng đã có một số chuyên đề liên quan đến hoạt động
12
thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKS ở giai đoạn xét xử: Chuyên đề "Nâng cao
chất lượng tranh tụng tại phiên tòa hình sự ở Hải Phòng theo tinh thần Nghị quyết
49", chuyên đề: "Nâng cao chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm án hình sự",
chuyên đề: "Phiên tòa theo tinh thần cải cách tư pháp", chuyên đề "tổ chức các
phiên tòa nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử của
Kiểm sát viên" Các chuyên đề này chủ yếu đề cập đến một trong những hoạt động
thực tiễn thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKSND chưa mang tính khái quát,
chuyên sâu về mặt lý luận.
Trong phạm vi nghiên cứu, Luận văn tập trung làm sáng tỏ một số vấn đề lý
luận về chức năng, nhiệm vụ của VKSND. Trên cơ sở thực tiễn của Viện kiểm sát
nhân dân thành phố (VKSNDTP) Hải Phòng từ năm 2004 - 2011, Luận văn tiến
hành phân tích, đánh giá việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKSNDTP Hải
- Trong phạm vi nghiên cứu luận văn chỉ đề cập đến hoạt động thực hiện
chức năng, nhiệm vụ của VKSND trong giai đoạn xét xử sở thẩm vụ án hình sự, cụ
thể là VKSNDTP Hải Phòng, không đề cập đến hoạt động của VKS quân sự.
6. Phương pháp tiếp cận vấn đề
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác -
Lênin và tư tưởng của Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật làm nền tảng cho
quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
- Các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như: thu thập số liệu,
thông tin; thống kê, tổng hợp, phân tích, đánh giá, so sánh và dự báo tình hình
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục nội
dung của luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Chương 2: Thực tiễn thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát
nhân dân thành phố Hải Phòng.
Chương 3: Những kiến nghị, đề xuất, giải pháp.
14
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN
XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT
1.1.1. Đặc điểm của giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Để đảm bảo cho việc phát hiện, xác định tội phạm và người phạm tội được
chính xác, xử lý nghiêm minh, không để lọt tội phạm, làm oan người vô tội đồng
thời bảo về các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, BLTTHS nước ta quy định
những phán quyết về tội phạm và người phạm tội. Tại phiên tòa, chứng cứ được đưa
ra xem xét, đánh giá một cách chính thức và chỉ những chứng cứ nào được đưa ra
xem xét tại phiên tòa mới được dùng làm căn cứ chứng minh tội phạm mới là cơ sở
để HĐXX đưa ra các quyết định của mình. Vì vậy, hoạt động đánh giá chứng cứ,
nhân danh Nhà nước ra bản án của HĐXX được xem là hoạt động điều tra chính thức
tại phiên tòa.
Thứ hai, quyết định truy tố của VKS chỉ là cơ sở để Tòa án quyết định đưa
vụ án ra xét xử còn việc phán quyết về sự việc phạm tội, hành vi của bị cáo thuộc
chức năng của Tòa án. Theo quy định tại Điều 196 BLTTHS quy định: "Tòa án chỉ
xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà VKS truy tố " [34]. Vì vậy,
có thể nói hoạt động truy tố của VKS hướng tới việc tạo căn cứ, giới hạn cho hoạt
động xét xử của Tòa án.
Thứ ba, bản án và quyết định của Tòa án là căn cứ pháp lý để tiến hành hoạt
động thi hành án, biến việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội của
các CQTHTT phát huy tác dụng trên thực tế.
Thứ tư, theo nguyên nghĩa, quyền tư pháp gắn liền với hoạt xét xử của Tòa
án, nên ở các nước trên thế giới như Hoa Kỳ, Pháp coi Tòa án là cơ quan đại diện
cho quyền tư pháp và hoạt động xét xử là giai đoạn trung tâm của tố tụng hình sự.
16
Theo quy định tại Điều 20 BLTTHS quy định: "Tòa án thực hiện chế độ hai
cấp xét xử" [34], trong đó xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đóng vai trò quan trọng, đây
là giai đoạn đầu tiên của Tòa án có thẩm quyền tiến hành xét xử và tuyên một người
có bị coi là có tội hay không. Các quyết định, phán quyết của Tóa án cấp sơ thẩm là
những điều kiện, cơ sở để Tóa án cấp phúc thẩm xem xét lại bản án chưa có hiệu
lực pháp luật hoặc là căn cứ để Tóa án cấp trên xét lại bản án có hiệu lực pháp luật
của Tòa án cấp dưới theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
1.1.2. Vai trò của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự
Song hành với nhiệm vụ xét xử của tòa án là nhiệm vụ THQCT và KSXX
trách nhiệm của từng cá nhân, cơ quan hữu quan đến đâu, phải được đặt dưới sự
giám sát của cơ quan VKS.
1.2. KHÁI NIỆM CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG
GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
Vai trò của VKS được thể hiện cụ thể trong việc thực hiện chức năng nhiệm
vụ của mình đặc biệt trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự.
1.2.1. Khái niệm chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
Đề cập đến "chức năng" của một cơ quan là nói đến những mặt, những
phương diện hoạt động có tính chất cơ bản, tương đối ổn định. Theo từ điển Tiếng
Việt của Viện ngôn ngữ học năm 2001 thuật ngữ "chức năng" theo từ điển định nghĩa
"là hoạt động, tác dụng bình thường hoặc đặc trưng của một cơ quan…" [90, tr. 191].
Theo từ điển Luật học và giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật
của Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, định nghĩa:
Chức năng của nhà nước là hoạt động nhà nước cơ bản nhất,
mang tính thường xuyên, liên tục, ổn định tương đối, xuất phát từ bản
chất, cơ sở kinh tế - xã hội, nhiệm vụ chiến lược, mục tiêu cơ bản của nhà
nước và có ý nghĩa quyết định tới sự tồn tại và phát triển của nhà nước
Chức năng của Nhà nước là hoạt động chủ yếu của bộ máy nhà nước mà
18
tất cả các cơ quan nhà nước đều tham gia thực hiện với mức độ, phạm vi
nhất định xuất phát từ vị trí, vai trò, thẩm quyền của mình [19], [46].
Theo đó, chức năng của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là những hoạt
động chủ yếu thường xuyên có tính ổn định tương đối, trực tiếp thể hiện bản chất, nhiệm
vụ chiến lược, mục tiêu lâu dài của nhà nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Để thực hiện tốt chức năng của Nhà nước thì bản thân mỗi cơ quan nhà
nước phải thực hiện tốt chức năng của mình. Do đó, cần phân biệt khái niệm "chức
năng của cơ quan nhà nước" với "chức năng của nhà nước". Theo giáo trình Lý luận
chung về nhà nước và pháp luật của Khoa Luật định nghĩa: "chức năng của Cơ quan
nói riêng và với cơ quan nhà nước nói chung là bảo vệ những cơ sở của chế độ Hiến
định, nhân thân, cũng như các quyền và tự do của con người và của công dân, đồng
thời bảo vệ pháp chế và trật tự pháp luật, góp phần giữ gìn hòa bình và an ninh của
nhân loại trong khu vực và trên toàn thế giới.
Hiện nay, các nhà luật học có nhiều quan điểm khác nhau về quyền công tố
và THQCT. Trong đó, có quan điểm cho rằng: quyền công tố của VKS được tiến
hành tại Tòa án thể hiện bằng quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án thông qua
Cáo trạng, bằng việc đọc Cáo trạng tại phiên tòa, bằng lời buộc tội của KSV khi
tranh luận và đề nghị kết tội với mức và loại hình phạt nhất định. Theo TS Lê Hữu
Thể thì:
Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc
buộc tội, hay nói cách khác là quyền nhân danh quyền lực công thực
hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền
này là quyền của Nhà nước, Nhà nước giao cho VKS thực hiện. Để làm
được điều này, cơ quan công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu
thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội.
Trên cơ sở đó quyết định việc truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự
buộc tội đó trước phiên tòa [38].
Theo đó, phạm vi của quyền công tố trong giai đoạn xét xử bắt đầu từ khi
VKS chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cùng bản cáo trạng truy tố bị can về tội danh cụ
20
thể đến Tòa án để xét xử và kết thúc khi bản án đã tuyên của Tòa án có hiệu lực
pháp luật không bị kháng cáo, kháng nghị.
Trong quá trình đấu tranh, chống và phòng ngừa tội phạm, Nhà nước ta đã trao
quyền công tố cho Cơ quan duy nhất là VKS. Theo đó, VKS sử dụng tất cả các quyền
năng được nhà nước trao cho thông qua hệ thống các văn bản pháp luật quy định cụ thể
về chức năng, nhiệm vụ… để truy tố người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử. Như
vậy, có thể hiểu THQCT là việc cơ quan VKS thực hiện tổng hợp các quyền năng pháp
lý được nhà nước trao cho để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với
mục đích giải quyết các vụ án một cách khách quan" [14].
Do vậy, hoạt động tư pháp cần được hiểu là hoạt động mang tính quyền lực
nhà nước của các Cơ quan tư pháp gồm CQTHTT (CQĐT, VKS, Tòa án), cơ quan thi
hành án và các cơ quan, tổ chức liên quan hoặc bổ trợ cho hoạt động xét xử của Tòa
án, được quy định trong tố tụng và trực tiếp liên quan đến quá trình giải quyết vụ án.
Hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự là hoạt động của các CQTHTT thực hiện,
mang tính quyền lực nhà nước, được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự và trực
tiếp liên quan đến quá trình giải quyết các vụ án hình sự. Theo quy định của pháp luật
hiện hành, trong quá trình THQCT, VKS thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo
pháp luật tức là kiểm tra, giám sát các CQTHTT, những người tiến hành tố tụng và
những người tham gia tố tụng trong việc áp dụng và chấp hành pháp luật. Nếu phát
hiện vi phạm tùy từng trường hợp cụ thể sẽ có biện pháp xử lý để khắc phục kịp thời
nhằm mang lại hiệu quả cao trong quá trình thực thi pháp luật.
Trong giới luật học hiện nay, cũng có nhiều quan điểm khác nhau về khái
niệm KSHĐTP. Có quan điểm cho rằng: KSHĐTP chỉ bao gồm các hoạt động tố
tụng như điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Có quan điểm khác cho rằng:
KSHĐTP còn bao gồm cả các hoạt động bổ trợ tư pháp hoặc là một dạng của giám
sát nhà nước về tư pháp… Theo TS Trần Văn Nam: "KSHĐTP là hoạt động kiểm
sát việc tuân theo pháp luật của VKS đối với các tổ chức và cá nhân trong hoạt động
tư pháp nhằm đảm bảo pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất" [25].
Theo em, KSHĐTP cần được hiểu: là hoạt động giám sát việc tuân theo
pháp luật của duy nhất cơ quan VKS đối với các CQTHTT, tổ chức, cá nhân trong
22
hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án trong lĩnh vực hình sự và các lĩnh
vực dân sự, hành chính, kinh doanh, thương mại, lao động nhằm đảm bảo cho pháp
luật được nghiêm chỉnh chấp hành và áp dụng thống nhất.
Từ khái niệm trên có thể hiểu: KSHĐTP trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự là tổng thể những hoạt động giám sát của VKS đối với Tòa án, tổ chức,
cá nhân trong quá trình đưa vụ án ra xét xử để tuyên một người là có tội nhằm đảm
UBND các cấp nên hoạt động của Thanh tra chỉ liên quan đến hoạt động chỉ đạo
điều hành trong lĩnh vực hành pháp.
1.2.2. Khái niệm nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
Theo Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học năm 2001 thì nhiệm vụ
được hiểu là: "Công việc phải làm vì một mục đích và trong một thời gian nhất
định" [90, tr. 718].
Như vậy, nhiệm vụ của cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan tư pháp nói
riêng được hiểu là những hoạt động cụ thể của từng cơ quan đó, trong một thời gian
nhất định nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành mình để cùng thực hiện
nhiệm vụ chung của cả bộ máy nhà nước là bảo vệ chế độ XHCN, quyền làm chủ
của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà
nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật chống
mọi hành vi phạm tội; đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu
tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Do đó, có thể hiểu: nhiệm vụ của Viện kiểm
sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là những hoạt động cụ thể của
Viện kiểm sát từ khi Tòa án thụ lý xét xử cho đến khi bản án có hiệu lực pháp luật
không bị kháng cáo, kháng nghị nhằm thực hiện chức năng thực hành quyền công
tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.
Trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự, Luật tổ chức VKSND năm 2002
quy định cụ thể những nhiệm vụ THQCT, KSHĐTP của VKS như: đọc cáo trạng,
luận tội đối với bị cáo, tranh luận với người bào chữa và những người tham gia tố
tụng khác (Điều 17); kiểm sát hoạt động xét xử của TAND, những người tham gia
tố tụng (Điều 18); kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm,
24
kiến nghị với TAND và các cơ quan hữu quan, khởi tố vụ án hình sự nếu có dấu hiệu
tội phạm (Điều 19).
1.3. NỘI DUNG CỦA CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA VIỆN KIỂM SÁT
TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.3.1. Chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố
định tái phạm, tái phạm nguy hiểm chưa chính xác dẫn đến khung khoản truy tố chưa
chính xác); hoặc sau khi bổ sung thêm các tài liệu chứng cứ thuộc các trường hợp nêu
trên KSV thấy việc truy tố của VKS không khách quan, chưa chính xác, chưa đúng
thì báo cáo lãnh đạo viện về việc rút quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa.
Theo quy định tại điều 181 BLTTHS; điều 25, khoản 2 điều 69 BLHS thì
trong các trường hợp sau VKS rút quyết định truy tố:
Không có sự việc phạm tội.
Hành vi không cấu thành tội phạm.
Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách
nhiệm hình sự.
Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ
vụ án có hiệu lực pháp luật.
Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự: 5 năm đối với tội ít
nghiêm trọng, 10 năm đối với tội nghiêm trọng, 15 năm đối với tội rất nghiêm
trọng, 20 năm đối với tội đặc biệt nghiêm trọng.
Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp tái
thẩm đối với người khác.
Các trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự: tự ý nửa chừng chấm dứt
hành vi phạm tội; do chuyển biến của tình hình vào thời điểm điều tra, truy tố, xét
xử hành vi không còn nguy hiểm cho xã hội nữa; người phạm tội tự thú trước khi bị
phát giác, thành khẩn khai báo, phạm tội ít nghiêm trọng, hạn chế đến mức thấp
nhất hậu quả tội phạm xảy ra xét thấy không cần thiết phải truy cứu trách nhiệm
hình sự; người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng, gây hại không lớn, có
26
nhiều tình tiết giảm nhẹ đã được gia đình và tổ chức nhận giáo dục, không cần phải
truy cứu trách nhiệm hình sự với họ.
- Hoạt động giải quyết việc Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung: khi nhận
được quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung của Tòa án, VKS tiến hành xem xét các
căn cứ được quy định tại điều 179 BLTTHS đó là: cần xem xét thêm các chứng cứ