PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Do yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay đòi hỏi phải
nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật trong đó việc tăng
cường công tố chất lượng của Viện kiểm sát nhằm chống bỏ lọt tội phạm , không làm oan
người vô tội , là một nội dung quan trọng được thể hiện trong nhiều Nghị quyết của Đảng
về cải cách tư pháp .Nghị quyết số 08 ngày 2//1/2002 của Bộ Chính trị về nhiệm vụ trọng
tâm của cải cách tư pháp trong thời gian tới đã chỉ rõ : “ Chất lượng tư pháp nói chung
chưa đáp ứng đủ nhu cầu đòi hỏi của nhân dân ; còn nhiều trường hợp bỏ lọt tội
phạm,làm oan người vô tội ;vi phạm các quyền tự do ,dân chủ của công dân , làm giảm
sút long tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và cơ quan tư pháp’’.
Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong hoạt động tư pháp .Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay khi khởi
tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm đảm bảo không bỏ lọt tồi phạm và người
phạm tội , không làm oan người vô tội .Nâng cao chất lượng công tố của kiểm sát viên
tại phiên tòa , bảo đảm tranh tụng với luật sư , người bảo chữa và người tham gia tố tụng
khác
Hiện nay đã có một số tài liệu đề cập về quyền công tố nhưng chủ yếu được bàn
dưới góc độ lý luận chung nhà nước và pháp luật , hoặc dưới góc độ tổ chức thực tiễn
việc thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự .Trong những năm vừa qua, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao đã tổ chức toàn ngành nghiên cứu nâng cao chất lượng thực
hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp hình sự .
Trong tiến trình cải cách tư pháp hiện nay ,để góp phần đảm bảo Viện kiểm sát
tậm trung làm tốt chức năng quyền công tố , việc tiếp tục nghiên cứu các vấn đề lý luận
và thực tiễn về quyền công tố trong tố tụng hình sự là vấn đề bức xúc và cần thiết có các
biện pháp để nâng cao quyền công tố trong tố tụng hình sự .với tất cả các ý nghĩa đó em
đã chọn đề tài “Hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn
xét sử sơ thẩm vụ án hình sự” làm Tiểu luận tốt nghiệp của em .
Vấn đề quyền công tố và thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự đã được
một số sách, báo và một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập . Nổi bật
lên ở trong nước có một số tác giả đã có các bài viết về vấn đề này như Tiến sỹ Trần Văn
đi sâu chi tiết mà chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu trên địa bàn huyện Ứng Hòa thành phố
Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2014 về hoạt động thực hành quyền công tố
của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét sử sơ thẩm vụ án hình sự ở địa bàn huyện Ứng
Hòa.
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Quyền công tố nói chung nhưng chủ yếu là quyền công tố và thực hành quyền
công tố trong tố tụng hình sự việt nam
4.Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng phương pháp luận là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Đồng thời để phục vụ các nhiệm vụ khóa luận đặt ra, khóa luận còn sử dụng các phương
pháp nghiên cứu cụ thể khác như: phân tích, tổng hợp, so sánh và khảo sát thực tế…
PHN NI DUNG
Chng 1:NHNG Lí LUN CHUNG V QUYN CễNG T
lm rừ vn quyn cụng t trong t tng hỡnh s Vit Nam chỳng ta khụng
th khụng tỡm hiu nhng vn liờn quan lm c s cho vic xõy dng khỏi nim , ni
dung phm vi quyn cụng t trong t tng hỡnh s ú l nhng vn sau :
1. Sự ra đời của quyền công tố
Việc làm sáng tỏ nguồn gốc ra đời của quyền công tố có ý nghĩa quan trọng đối
với việc nhận thức đầy đủ hơn về bản chất của quyền công tố. V.I. Lênin đã viết:
Điều quan trọng nhất của một sự nghiên cứu khoa học là không nên quên sự liên
hệ lịch sử căn bản, là nhận xét mỗi vấn đề theo quan điểm sau đây: Một hiện tợng nào đó
đã xuất hiện trong quá trình lịch sử nh thế nào? Các giai đoạn chính của nó là những gì?
Và đứng trên quan điểm của sự phát triển đó để xem xét hiện tợng đó đã trở nên nh thế
nào? [48, tr. 55]
Về sự xuất hiện của quyền công tố trong lịch sử hiện nay, còn có những ý kiến khác
quá trình tố tụng tại tại phiên tòa và thực hiện quyền đó theo quy định của pháp luật. Cơ
quan thực hiện quyền công tố là mối dây liên lạc giữa các cơ quan công quyền với quần
chúng, giữa các cơ quan công quyền với nhau nhằm phục vụ lợi ích hợp pháp của các bên
theo quy định của pháp luật. Đại diện cho trờng phái này là Eistadt Hermann và tập thể
tác giả trong cuốn sách "Quyền công tố trong cơ cấu hành chính - chính trị". Các tác giả
nhấn mạnh quyền công tố là một loại quyền năng mà khi có sự phân chia triệt để ba
quyền lập pháp, hành pháp và t pháp thì cần có một loại cơ quan đợc đặt ra để thực hiện
quyền hành pháp nhng lại chống đối quyền xét xử để bảo vệ Chính phủ, đó là quyền công
tố. Nh vậy, quyền công tố tồn tại song song với quyền xét xử của Tòa án. Khi nào có xét
xử, khi đó cần phải thực hiện việc bảo vệ lợi ích của các đơng sự mà các Công tố viên cho
rằng có vi phạm pháp luật [46, tr. 95-103].
Nhóm quan điểm thứ ba cho rằng, quyền công tố xuất hiện từ khi con ngời tự bảo
vệ đợc mình khỏi những ảnh hởng của các thế lực nh tập thể bộ lạc, thị tộc, trớc đội quân
chiến thắng đối với họ (con ngời là tù binh) thể hiện bằng lời nói cuối cùng trớc khi bị áp
dụng hình phạt, bị đem bán hoặc treo cổ... Lúc này, khái niệm công tố cha mang tính Nhà
nớc mà chỉ mang tính xã hội thuần túy thể hiện sự phản kháng lại đối với các thế lực áp
bức. Sự phát triển của quyền công tố về sau này gắn liền với sự phát triển dân chủ, quyền
con ngời đợc đề cao. Đòi hỏi đó cần phải có cơ quan thay mặt Nhà nớc đứng ra bảo vệ ngời bị xét xử bởi các cơ quan t pháp [46, tr. 95-103]. Tuy nhiên, các tác giả cho rằng,
quyền công tố là một quyền t pháp phải do các cơ quan t pháp thực hiện với hai lý do:
Một là, khái niệm công tố theo nghĩa rộng, bao gồm từ khâu điều tra, truy tố, buộc tội
hoặc rút một phần hoặc toàn bộ việc buộc tội. Quá trình này gắn liền với hoạt động của
Tòa án và các cơ quan bảo vệ pháp luật. Hai là, công tố là sự bảo vệ quyền và lợi ích nói
chung trớc mọi sự lấn át từ phía các cơ quan nhà nớc chứ không chỉ có Tòa án. Trong điều
kiện ba quyền phân lập và "khi ngời ta cha thể định rõ tiêu chí chính xác sự phân lập giữa
ba quyền đó, hoặc khi mà những nguyên nhân khách quan làm suy yếu không ngừng mối
quan hệ của ba loại quyền đó thì việc phải đặt ra một cơ quan đặc biệt - cơ quan công tố
không tham dự vào bất cứ bộ phận nào là một việc làm cần thiết. Đây là những giai đoạn
đầu của thuyết tam quyền có sự lấn át từ phía lập pháp và hành pháp quá lớn đối với t
cạnh Tòa án để bảo vệ quyền lợi của nhà Vua, cũng nh bảo vệ lợi ích quốc gia. Một thời
gian sau đó vào thế kỷ XVI - XVII, Viện công tố đợc thành lập ở nhiều nớc châu Âu nh:
Italia, Hà Lan, Đức, Nga... Ngoài việc bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, cơ quan công
tố thời kỳ này còn có nhiệm vụ bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội. Chẳng hạn, trong
Sắc lệnh về "bảo vệ quyền công dân" ngày 17/4/1772 của nớc Nga có quy định: "Nếu nh
có ngời nào phạm tội làm trái Sắc lệnh này thì xem là kẻ phá hoại Quốc lập sẽ dẫn đến tội
chết không thơng tiếc, và không ai đợc ỷ lại vào công lao để làm trái luật".
Nhờ các cuộc cách mạng chính trị, giai cấp t sản trở thành giai cấp thống trị đã
xóa bỏ quan hệ sản xuất phong kiến và Nhà nớc Phong kiến, Nhà nớc T sản ra đời. Trong
Nhà nớc T sản đã có sự tách bạch rõ ràng hơn trong việc thực hiện quyền lực nhà nớc,
quyền t pháp cũng từng bớc đợc hoàn thiện, vai trò của Tòa án đợc đề cao; Viện công tố
trở thành ngời đại diện cho quyền lợi công cộng để đa vụ án ra Tòa nhằm bảo vệ lợi ích
nhà nớc và bảo đảm sự tuân thủ trật tự công cộng. Trong lĩnh vực hình sự, vai trò của
công tố luôn luôn là một bên trong vụ án nhân danh Nhà nớc để cáo buộc ngời phạm tội
[56, tr. 118 -119].
Đến cuối năm 1922, khi Nhà nớc công nông đầu tiên ra đời, theo sáng kiến của
V.I. Lênin, Viện công tố đợc chuyển thành Viện kiểm sát, ngoài chức năng công tố còn
làm nhiệm vụ quan trọng, đó là kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Mô hình Viện kiểm sát,
cơ quan thực hiện quyền công tố xuất hiện đầu tiên ở nớc Nga, sau đó là các nớc xã hội chủ
nghĩa (XHCN), trong đó có Việt Nam. Với chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát
việc tuân theo pháp luật nhằm bảo đảm tính thống nhất của pháp chế, vai trò của Viện
kiểm sát đợc đề cao trong bộ máy nhà nớc XHCN. Viện kiểm sát là cơ quan trực thuộc
Quốc hội với t cách cơ quan quyền lực nhà nớc cao nhất, đợc tổ chức theo ngành dọc từ
trung ơng xuống địa phơng.
Nh vậy, quyền công tố xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nớc và càng về sau,
cùng với sự phát triển, hoàn thiện bộ máy nhà nớc và hệ thống pháp luật, việc phân định
chức năng nhà nớc giữa các cơ quan ngày càng cụ thể, rõ ràng hơn theo hớng chuyên môn
hóa; nhận thức xã hội về lợi ích công và lợi ích t, về trách nhiệm của Nhà nớc đối với xã
vì quyền công tố nh bất cứ quyền nào mà Viện kiểm sát thực hiện luôn luôn phải đợc xem
xét trong mối liên hệ với tính đặc thù ở một lĩnh vực pháp luật cụ thể, quyền công tố chỉ
có thể xem xét trong lĩnh vực pháp luật mà cội nguồn lịch sử của nó đã gắn liền và không
thể tách rời với việc nhân danh Nhà nớc (nhân danh công quyền) chống lại hành vi vi
phạm pháp luật nghiêm trọng nhất đó là tội phạm. Từ những nội dung đó, họ đa ra khái
niệm về quyền công tố là: "quyền của Nhà nớc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ngời
phạm tội; quyền này giao cho một cơ quan thực hiện (ở nớc ta là cơ quan Viện kiểm sát).
Để làm đợc điều này, cơ quan công tố có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập tài liệu, chứng
cứ để xác định tội phạm và ngời đã thực hiện hành vi phạm tội. Trên cơ sở đó truy tố bị
can ra Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trớc phiên tòa [71, tr. 12-15].
Theo quan điểm này, quyền công tố chỉ có trong TTHS, không có trong lĩnh vực
tố tụng t pháp khác. Nhiều ngời đã không tán thành với quan điểm này vì hiểu phạm vi tác
động của quyền công tố nh vậy là quá hẹp. Bởi vì, V.I. Lênin khi đề cập đến quyền của ủy
viên công tố đã viết: "ủy viên công tố có quyền và bổn phận duy nhất là đa vụ án ra Tòa"
[50, tr. 232]. Điều đó đồng nghĩa với việc đa các vụ xâm phạm lợi ích của Nhà nớc, xâm
phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân liên quan đến lợi ích chung ra xét xử công
khai trớc phiên tòa. Do đó việc cơ quan Viện kiểm sát đứng ra khởi tố các vụ án dân sự
liên quan đến lợi ích chung cũng là nhân danh quyền lực công đa vụ việc vi phạm pháp
luật ra Tòa để xét xử. Chúng tôi đồng ý với ý kiến này, rằng quyền công tố theo bản chất
của mình đợc thực hiện nhân danh xã hội đa ngời phạm pháp ra Tòa để xét xử nhằm bảo
đảm trật tự chung. Quyền công tố không chỉ có trong lĩnh vực TTHS mà còn có cả trong
các lĩnh vực pháp luật khác.
Quan điểm thứ ba và cũng là quan điểm tơng đối phổ biến trong ngành kiểm sát
nhân dân, đợc đa vào giáo trình giảng dạy về công tác kiểm sát của Trờng Cao đẳng Kiểm
sát. Quan điểm này cho rằng, quyền công tố đợc thể hiện đầu tiên trong lĩnh vực hình sự,
TTHS, về sau cùng với sự phát triển của xã hội và sự hoàn thiện hệ thống pháp luật, quyền
công tố đợc mở rộng sang lĩnh vực dân sự và ngày nay tiếp tục mở rộng sang các lĩnh vực
t pháp khác. Theo họ, quyền công tố là quyền của Nhà nớc XHCN giao cho Viện kiểm sát
ràng nên không còn là những ngôn từ chung nữa [73, tr. 86-88]. Chúng tôi nhận thấy, việc
đa ra quan niệm về quyền công tố trên đây đã mắc một sai lầm có tính nguyên tắc ở chỗ
đã coi quyền công tố chỉ là sự buộc tội tại phiên tòa khi thấy việc thực hành quyền đó là
thuộc Viện kiểm sát, họ đã cắt khúc nội dung quyền công tố và lấy một số hoạt động phổ
biến dễ thấy của quyền này nh truy tố, luận tội tại phiên tòa là quyền công tố nên đã
nhầm lẫn giữa quyền công tố và thực hành quyền công tố. Việc thu hẹp khái niệm, nội
dung và phạm vi thực hiện quyền công tố nh thế là không có căn cứ, bởi vì trên thực tế
hoạt động truy tố và duy trì quyền công tố của Kiểm sát viên trớc Tòa chỉ là một phần
thực hành quyền công tố theo đúng nghĩa của nó.
Từ những điều vừa trình bày trên cho thấy, cội nguồn của các quan điểm khác
nhau về quyền công tố là do cha xác định đúng đối tợng, nội dung và phạm vi của quyền
công tố trong mối quan hệ với các lĩnh vực pháp luật. Do vậy dẫn đến có quan điểm thu
hẹp hoặc mở rộng phạm vi của quyền công tố, hoặc nhầm lẫn giữa quyền công tố với việc
tổ chức thực hiện quyền công tố, giữa quyền năng công tố với thẩm quyền tố tụng của các
cơ quan tiến hành tố tụng, hoặc quyền khởi kiện của đơng sự với quyền khởi tố của cơ
quan công tố trong lĩnh vực tố tụng dân sự.
Xuất phát từ kết quả nghiên cứu lịch sử ra đời của quyền công tố, những đặc trng
khác biệt giữa hoạt động công tố và t tố cũng nh sự khác nhau về cách thức tổ chức thực
hiện quyền công tố trong lịch sử và ở mỗi quốc gia trên thế giới hiện nay cho phép đi đến
nhận xét rằng, để xác định đúng đắn khái niệm về quyền công tố cần phải xuất phát từ
những cơ sở có tính nguyên tắc sau đây:
Một là: Quyền công tố là quyền của Nhà nớc, xuất hiện cùng với sự ra đời của
Nhà nớc và thay đổi theo bản chất Nhà nớc. Với tính cách là một quyền lực công đợc bắt
nguồn từ nhu cầu phải duy trì trật tự xã hội để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị và
những lợi ích chung có liên quan mà bất kỳ nhà nớc nào (chủ nô, phong kiến, t sản hay
XHCN) cũng đều cần phải can thiệp duy trì vì đó là môi trờng tồn tại của Nhà nớc, là
trách nhiệm xã hội của Nhà nớc chứ không phải trách nhiệm cá nhân hay một nhóm ngời,
xã hội cơ bản và quan trọng gắn liền với sự tồn tại và phát triển của Nhà nớc, thể hiện rõ
trách nhiệm của Nhà nớc trớc toàn xã hội. Những quan hệ xã hội cơ bản và quan trọng
không chỉ đợc xác lập và bảo vệ bằng luật hình sự, luật TTHS mà còn cả các lĩnh vực
pháp luật khác nh Luật dân sự, Luật hành chính... Do đó những hành vi phạm tội và
những hành vi vi phạm pháp luật khác liên quan đến lợi ích chung, lẽ tất nhiên nó xâm
phạm đến một hay một số cá nhân trong cộng đồng. Nhng cái chính là nó xâm hại đến sự
tồn tại của chế độ, đến hệ thần kinh của Nhà nớc, của cả xã hội. Điều này thể hiện rõ nhất
ở hành vi phạm tội nên quyền công tố đợc thể hiện rõ nét nhất, đậm nét trong các giai
đoạn TTHS, còn trong các lĩnh vực tố tụng khác nh dân sự, hành chính, lao động thì
quyền công tố dờng nh nhờng chỗ cho quyền tự định đoạt của các đơng sự. Chỉ trong
những trờng hợp trật tự công cộng và lợi ích của Nhà nớc có nguy cơ bị xâm hại thì Nhà
nớc mới đứng ra để can thiệp. Nghiên cứu pháp luật nớc ngoài cho thấy, cơ quan công tố
ở nhiều nớc trên thế giới đều đợc trao quyền nhân danh công quyền để can thiệp vào
những vụ án dân sự, hành chính, kinh tế quan trọng liên quan đến lợi ích công cộng.
Chẳng hạn, ở Cộng hòa Pháp, Viện công tố có chức năng:
Đại diện cho quyền lợi của xã hội, của Nhà nớc trớc Tòa án, bảo đảm cho pháp
luật đợc đợc tuân thủ, những hành vi phạm pháp đợc xét xử nghiêm minh, việc xét xử đợc
đúng đắn. Về hình sự Công tố viên truy tố ngời phạm tội ra trớc Tòa án; về dân sự Công
tố viên khởi tố những việc gây thiệt hại đến trật tự chung nh yêu cầu: cấm quyền của một
số ngời, hủy bỏ một cuộc hôn nhân bất hợp pháp, tham gia một số việc kiện khác. Công
tố ủy viên là ngời đại diện cho Nhà nớc, cho xã hội điều tra phát hiện những vụ việc phạm
pháp và quyết định khởi tố, lập cáo trạng đa vụ án hình sự ra Tòa. Trong lĩnh vực dân sự,
Công tố ủy viên đứng phụ đơn trong các vụ nh bảo vệ quyền trẻ em, những ngời tàn tật,
tâm thần, hủy bỏ hôn nhân bất hợp pháp, lập hội bất chính [59, tr. 212-232].
ở Việt Nam, theo quy định của các pháp lệnh: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các
vụ án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các vụ án lao động, thì Viện kiểm sát - cơ quan thực hành quyền công tố đều có
quyền khởi tố đối với một số vụ án dân sự, lao động, hành chính liên quan đến trật tự
hoạt động cụ thể của quyền công tố. Hoàn toàn không thể đồng tình với quan điểm cho
rằng: Nếu nội dung quyền công tố của VKSND trong các lĩnh vực tố tụng dân sự, tố tụng
kinh tế, lao động... chỉ bao gồm quyền khởi tố vụ án (tức là Viện kiểm sát thay mặt cho đơng sự để khởi kiện vụ án) thì không chỉ Viện kiểm sát mà cả một số tổ chức, đoàn thể xã
hội có quyền khởi kiện vụ án theo quy định của pháp luật cũng là những chủ thể thực hiện
quyền công tố. Quan điểm này cho rằng quyền khởi tố và quyền khởi kiện chỉ khác nhau
về mặt thuật ngữ còn về bản chất thì quyền khởi tố và quyền khởi kiện vụ án chỉ là một:
đều là quyền yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án để bảo vệ quyền và lợi ích các đơng sự. Mặt
khác, nếu hiểu khái niệm quyền công tố chỉ bao gồm quyền khởi tố vụ án thì trong TTHS
sẽ có rất nhiều chủ thể thực hiện quyền công tố (Tòa án, cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, Bộ
đội biên phòng...) [52, tr. 75-80].
Chúng tôi nhận thấy, theo bản tính của mình quyền công tố nh một sợi dây quyện
chặt vào suốt quá trình tố tụng về vụ án mà nòng cốt là việc đa vụ án ra Tòa. Việc chia cắt
hoặc lấy một vài quyền năng thuộc nội dung quyền công tố và cho rằng có nhiều cơ quan
thực hành quyền công tố là sai lầm không thể chấp nhận đợc, không phải chủ thể nào có
quyền khởi tố vụ án hình sự, chủ thể nào có quyền khởi tố vụ án dân sự, hành chính, lao
động đều là chủ thể thực hành quyền công tố mà phải xác định chủ thể nào đ ợc giao
nhiệm vụ đa vụ án ra Tòa thì chủ thể ấy chính là cơ quan thực hành quyền công tố vì
quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nớc đa vụ án ra Tòa, quyền yêu cầu xử lý các vụ
việc xâm phạm đến lợi ích chung một cách công khai bằng con đờng Tòa án.
Tuy nhiên, việc tổ chức thực hành quyền công tố đợc quy định rất khác nhau ở
mỗi quốc gia, mỗi thời kỳ lịch sử, tùy thuộc vào các điều kiện và hoàn cảnh cụ thể. Ngay
trong cùng một nớc với một chế độ chính trị xác định, ở mỗi giai đoạn phát triển của nó
cũng có những thay đổi nhất định trong việc thực hành quyền công tố. Trên thế giới phần
lớn các nớc chỉ giao quyền này cho Viện công tố, nhng có nớc, ngoài Viện công tố ngời
ta còn giao cho cơ quan Hải quan, Thuế vụ (Vơng quốc Anh) với tính cách là cơ quan
chuyên môn cũng có quyền trực tiếp đa vụ án ra Tòa trong lĩnh vực mà các cơ quan đó
phụ trách [101, tr. 185-186].
ở nớc ta, trớc Hiến pháp năm 1959 cũng đã tồn tại quyền công tố. Từ năm 1960 đến
của Viện kiểm sát không chỉ bó hẹp trong lĩnh vực t pháp hình sự mà còn thể hiện ở các
lĩnh vực tố tụng khác. Có thể nói nơi nào mà pháp luật cho phép Viện kiểm sát nhân danh
lợi ích nhà nớc, lợi ích xã hội đa vụ án ra Tòa để xét xử thì nơi đó có việc thực hành
quyền công tố. Thực hành quyền công tố chính là quá trình truy cứu trách nhiệm pháp lý
đối với ngời phạm pháp (bị can, bị cáo, bị đơn dân sự...) nên quá trình này bắt đầu từ việc
khởi tố vụ án hoặc khởi kiện và chấm dứt khi có phán quyết có hiệu lực pháp luật của cơ
quan xét xử hoặc khi có căn cứ triệt tiêu quyền công tố ở giai đoạn sớm hơn.
Từ những điều trình bày trên cho phép đi đến kết luận rằng: Quyền công tố ở
Việt Nam là quyền của Nhà nớc giao cho Viện kiểm sát đa vụ án ra Tòa n xét xử để
bảo vệ lợi ích Nhà nớc, lợi ích chung và bảo vệ lợi ích của công dân đợc thực hiện
trong tố tụng hình sự, tố tụng dân sự và trong các lĩnh vực tố tụng t pháp khác.
3. Thc hnh quyn cụng t trong t tng hỡnh s
3.1 . Khỏi nim thc hnh quyn cụng t
Trong khoa học luật TTHS, việc xác định quyền công tố và theo đó là thực hành
quyền công tố có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn. Giải quyết đợc rõ ràng,
rành mạch những vấn đề trên giúp cho việc xác định chính xác vai trò, vị trí cũng nh trách
nhiệm của Viện kiểm sát trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm.
Thời gian qua mặc dù vẫn còn có ý kiến khác nhau, nhng vấn đề về quyền công
tố cũng đã đợc quan tâm nghiên cứu trên cả phơng diện lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên,
vấn đề thực hành quyền công tố, phạm vi và nội dung của nó, mối quan hệ giữa chức năng
thực hành quyền công tố với thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
TTHS còn ít đợc đề cập và cha đợc rõ ràng. Trong các tài liệu pháp lý ở nớc ta mới chỉ đề
cập chủ yếu đến quyền công tố và cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Một số
chuyên đề về nâng cao chất lợng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động t
pháp do VKSNDTC tổ chức nghiên cứu cũng chỉ đa ra một số biện pháp pháp lý, kiến
nghị để nâng cao hiệu quả các công tác thực hiện chức năng nh: kiểm sát điều tra, kiểm
sát xét xử các vụ án hình sự. Trong nội dung nghiên cứu của các chuyên đề này cha phân
biệt rành mạch hành vi tố tụng nào là thực hành quyền công tố, hành vi tố tụng nào là
can thiệp của bất cứ cơ quan nhà nớc nào.
Trong giai đoạn điều tra, cơ quan điều tra chỉ có quyền đề nghị việc áp dụng, thay
đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, còn việc quyết định là do Viện kiểm sát; cơ
quan điều tra có quyền độc lập thu thập tài liệu chứng cứ, nhng việc bảo đảm cho các tài
liệu chứng cứ ấy có đủ cơ sở để truy tố bị can hay không là do Viện kiểm sát chịu trách
nhiệm. Trong trờng hợp không đủ căn cứ để buộc tội, Viện kiểm sát có quyền yêu cầu cơ
quan điều tra bổ sung tài liệu chứng cứ; có quyền đình chỉ vụ án; yêu cầu cơ quan có
thẩm quyền xử lý kỷ luật hoặc xử lý hành chính ngời đã có hành vi vi phạm pháp luật.
Khi có đủ tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội và xét thấy cần xử lý ng ời đó trớc Tòa án thì Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can ra Tòa. BLTTHS nớc ta đã quy định
thẩm quyền công tố của Viện kiểm sát trong TTHS rất lớn là "đợc áp dụng các biện pháp
do BLTTHS để xác định tội phạm và xử lý ngời phạm tội" (Điều 23 BLTTHS). Nh vậy, về
thực hành quyền công tố là chức năng mà không cơ quan nhà nớc nào làm thay Viện kiểm
sát. Về vấn đề này, tháng 7 năm 1967, khi ủy ban Thờng vụ Quốc hội thảo luận Báo cáo
của VKSNDTC, Đồng chí Trờng Chinh, Chủ tịch ủy ban Thờng vụ Quốc hội lúc đó đã
kết luận: "Không có cơ quan nhà nớc nào có thể thay thế ngành kiểm sát để sử dụng
quyền công tố. Bắt giam, điều tra, tha, truy tố, xét xử có đúng ngời, đúng tội hay không,
có đúng đờng lối chính sách của Đảng và Nhà nớc hay không, điều đó chính là Viện kiểm
sát phải trông nom bảo đảm làm tốt".
Từ những nội dung đợc trình bày trên, chúng tôi cho rằng: Thực hành quyền
công tố là việc Viện kiểm sát sử dụng các biện pháp do luật định để truy cứu trách
nhiệm hình sự đối với ngời phạm tội, đa ngời phạm tội ra xét xử trớc Tòa án và bảo vệ
sự buộc tội đó.
3.2 Phm vi thc hnh quyn cụng t
Xác định đúng đắn phạm vi thực hành quyền công tố có ý nghĩa quan trọng để
nâng cao hiệu quả hoạt động này nhằm chống bỏ lọt tội phạm, không làm oan ngời vô tội.
Hiện nay, trong giới luật học khi đề cập đến phạm vi thực hành quyền công tố
còn có nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng, phạm vi thực hành quyền công tố chỉ
là việc truy tố và buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm hình sự. Có ý kiến thu hẹp
mọi trờng hợp quyền công tố kéo dài đến tận khi bản án có hiệu lực pháp luật mà nó có
thể bị triệt tiêu ở giai đoạn tố tụng sớm hơn theo quy định của luật TTHS. Điều này có
nghĩa là, không phải mọi vụ án đều đợc đa ra xét xử trớc Tòa án, khi chấm dứt quyền
công tố thì đồng thời cũng không có việc thực hành quyền công tố. Vì vậy, chúng tôi
hoàn toàn tán thành với quan điểm cho rằng, "hoạt động công tố phải đợc thực hiện ngay
từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội
phạm và ngời phạm tội" [32, tr. 7]. Đó chính là phạm vi thực hành quyền công tố.
Kết quả nghiên cứu cho thấy những căn cứ dẫn đến triệt tiêu quyền công tố và
theo đó chấm dứt việc thực hành quyền công tố là:
- Không có sự kiện phạm tội
Không có sự kiện phạm tội có thể là hoàn toàn không có sự việc phạm pháp xảy
ra; sự kiện xảy ra không phải là tội phạm; hành vi phạm pháp không cấu thành tội phạm
mà chỉ là vi phạm pháp luật khác. Trong trờng hợp này không đợc khởi tố vụ án, nếu đã
khởi tố thì phải ra quyết định hủy bỏ. Bởi vì không có căn cứ để tiếp tục thực hiện quyền
công tố.
- Ngời thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không có năng lực trách nhiệm
hình sự
Theo luật hình sự Việt Nam, chủ thể của tội phạm phải là ngời có năng lực trách
nhiệm hình sự. Vì vậy, ngời thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi không có
năng lực trách nhiệm hình sự thì không phải là ngời phạm tội. Điều 13 BLHS năm 1999
quy định: Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là trờng hợp ngời thực hiện
hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác,
làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình và do đó họ
không phải chịu trách nhiệm hình sự. Nh vậy, khi xác định đợc ngay từ đầu ngời thực
hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không có năng lực trách nhiệm hình sự thì không đợc
phát động quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ. Khi đã phát động
quyền công tố rồi để điều tra, kết quả điều tra mới chứng minh đợc ngời thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội không có năng lực trách nhiệm hình sự thì phải đình chỉ điều tra
đã thực hiện. Nhng nếu trong thời hạn nói trên ngời phạm tội cố tình trốn tránh và bị truy
nã thì ngời phạm tội không đợc hởng thời hiệu nói trên. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm
hình sự cũng không áp dụng đối với các tội phạm đặc biệt nguy hiểm, xâm phạm an ninh
quốc gia (chơng XI BLHS); các tội phá hoại hòa bình, chống loài ngời (chơng XXIV
BLHS).
- Tội phạm đã đợc đại xá
Không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những ngời phạm vào tội đã đợc đại
xá. Những tội phạm đợc đại xá là những tội phạm nhất định xảy ra trớc khi ban hành văn
bản đại xá.
- Ngời phạm tội đã chết, trừ trờng hợp cần tái thẩm đối với ngời khác
Truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt là nhằm trừng trị, giáo dục
ngời phạm tội trở thành ngời có ích cho xã hội. Ngời phạm tội đã chết thì không còn đối tợng để truy cứu trách nhiệm hình sự, do đó chấm dứt việc thực hành quyền công tố, trừ trờng hợp cần truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ngời khác, thì thực hành quyền công tố
đợc tiến hành theo thủ tục tái thẩm.
- Miễn trách nhiệm hình sự
Theo qui định tại Điều 25 BLHS năm 1999 thì ngời phạm tội có thể đợc miễn
trách nhiệm hình sự, nếu khi tiến hành điều tra, xét xử do sự chuyển biến của tình hình
mà hành vi phạm tội hoặc ngời phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.
- Hiệu lực của Bộ luật hình sự về mặt thời gian
Theo qui định tại Điều 7 BLHS năm 1999 thì: Điều luật quy định một tội phạm
mới..., không áp dụng đối với hành vi phạm tội đã đợc thực hiện trớc khi điều luật đó có
hiệu lực thi hành. Điều luật xóa bỏ một tội phạm hoặc quy định một hình phạt nhẹ hơn đợc áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trớc khi điều luật đó đợc ban hành.
Trong luật hình sự Việt Nam không áp dụng nguyên tắc hồi tố.
Nh vậy, không phải trong mọi trờng hợp quyền công tố đều chấm dứt khi bản án
có hiệu lực, không bị kháng nghị mà quyền công tố có thể bị triệt tiêu ở giai đoạn tố tụng
sớm hơn khi có một trong các căn cứ nêu trên. Theo đó, việc thực hành quyền công tố cũng
chấm dứt ở giai đoạn tố tụng đó.
Từ những lập luận trên cho phép đi đến kết luận rằng: Phạm vi thực hành quyền
công tố bắt đầu từ khi khởi tố vụ án và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật,