Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn thành phố bắc ninh, tỉnh bắc ninh - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRƯƠNG KHẮC DƯƠNG

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN
XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số

: 60.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. Phùng Thế Vắc

HÀ NỘI, 2017

HÀ NỘI - năm


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số
liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực.
Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính
theo quy định của Học Viện Khoa học xã hội.
Vậy tôi xin viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật – Học Viện Khoa học

THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ ............................................................................................... 44
3.1. Quan điểm về quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh .................................................................... 44
3.2. Nguyên nhân của kết quả đạt được và những hạn chế trong thực hành quyền công
tố ở giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân thành phố
Bắc Ninh ............................................................................................................................ 45
3.3. Giải pháp..................................................................................................................... 50

3.4. Kiến nghị .......................................................................................................... 66
KẾT LUẬN ...................................................................................................................... 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................... 72


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLTTHS

: Bộ Luật tố tụng hình sự

BLHS

: Bộ Luật hình sự

CQĐT

: Cơ quan điều tra

KSĐT

: Kiểm sát điều tra

nước, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm chỉ đạo đẩy mạnh đổi mới về tổ chức và hoạt
động đối với hệ thống các cơ quan tư pháp, trong đó có Viện kiểm sát nhân dân.
Theo quy định tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013 và Điều 2 Luật tổ chức Viện
kiểm sát nhân dân năm 2014 thì Viện kiểm sát (VKS) có chức năng thực hành quyền
công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp.
Viện kiểm sát có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong vụ án hình sự, do vậy hoạt động của VKS là một quy trình xuyên suốt
từ hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Trong tố tụng
hình sự Viện kiểm sát có chức năng đặc biệt quan trọng bởi lẽ quyết định truy tố của
VKS (bản cáo trạng) là cơ sở pháp lý để Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử tại
phiên tòa sơ thẩm. Hầu hết các vụ án bị tuyên oan, sai, bỏ lọt tội đều có nguyên nhân
từ việc không làm tốt chức năng, nhiệm vụ hoặc do nghiệp vụ còn non yếu của KSV
hoặc do KSV chưa bảo đảm đúng quy trình trong xét xử sơ thẩm. Vì thế hoạt động
thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm của Viện kiểm sát theo đúng quy định
của pháp luật sẽ giúp cho Toà án nhân dân tuyên một bản án khách quan, đúng người,
đúng tội, đúng pháp luật và có tính thuyết phục cao, góp phần quan trọng vào công tác
đấu tranh phòng ngừa vi phạm và tội phạm, đồng thời hạn chế việc kháng cáo, kháng
nghị lên cấp trên. Quá trình KSV căn cứ vào các quy định của pháp luật để đề nghị
Toà án Nhân dân tuyên bị cáo đúng tội danh, đề nghị mức án có căn cứ pháp luật, phù
hợp với hành vi mà bị cáo đã gây ra, đó chính là việc Kiểm sát viên thực hành tốt
quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.

1


Thêm vào đó, Theo quy định của Bộ luật hình sự (BLHS) và Bộ luật tố tụng
hình sự (BLTTHS) Việt Nam thì xét xử là một trong những hoạt động tư pháp quan
trọng của Nhà nước nhằm đảm bảo mọi hành vi vi phạm pháp luật có tính chất nguy
hiểm cho xã hội có dấu hiệu tội phạm phải được đưa ra xử lý trước pháp luật. Tuy
nhiên, dư luận nhân dân còn chưa hài lòng với một số phiên toà xét xử mà ở đó, Kiểm

- Luận văn Thạc sĩ Luật học của Trần Thị Đông (2008): “ Chất lượng THQCT
trong giai đoạn XX sơ thẩm các vụ án hình sự của VKSND tỉnh Hà Nam”.
- Luận văn Thạc sĩ Luật học của Trần Quốc Hoàn (2009): “ Ap dụng pháp luật
THQCT trong giai đoạn XX sơ thẩm các vụ án hình sự của VKSND tinhr Nam Định”.
- “Chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án
hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang”, Luận văn thạc sĩ Luật của Hoàng
Tùng, năm 2009.
- “Năng lực áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn xét xử
sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân Quận Hà Đông- Thành phố hà
Nội”, Luận văn thạc sĩ Luật của Nguyễn Thị Tuyết Mai, năm 2011.
Ngoài các tác giả nêu trên còn có rất nhiều công trình khoa học, các bài viết của
nhiều tác giả khác tập chung nghiên cứu liên quan đến các vấn đề: áp dụng pháp luật
trong XX các vụ án hình sự, nâng cao chất lượng THQCT các vụ án hình sự; nâng cao
vai trò, trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong
XX và KSXX các vụ án hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp… Có thể kể ra một số
công trình, bài viết đó là:
- Bàn về việc tranh luận của KSV tại phiên toà hình sự sơ thẩm (2007), TS.
Dương Thanh Biểu, Tạp chí kiểm sát;
- Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động THQCT của KSV (2007), ThS. Trần
Văn Quý, Tạp chí nghiên cứu lập pháp.
- Phương hướng hoàn thiện các quy định của Bộ luật TTHS về XX sơ thẩm các
vụ án hình sự (2011), TS Đinh Văn Quế, Tạp chí Tóa án nhân dân.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Trình bày cơ sở lý luận về đánh giá đúng thực trang cũng như đề xuất các giải
pháp nhằm nâng cao nhận thức một cách thống nhất và đầy đủ trong việc áp dụng thực
hành QCT trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở thành phố Bắc Ninh, đáp ứng yêu cầu
cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, góp phần cùng với

3

các vấn đề lý luận cũng như đánh giá thực trạng, đề xuất giải pháp trong thực hành

4


quyền công tố ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân
thành phố Bắc Ninh.
Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, xem xét vấn đề nghiên cứu trong
mối liên hệ giữa lý luận với thực tiễn, các quy định của pháp trong thực hành quyền
công tố ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân và thực
tế áp dụng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh.
Phương pháp lịch sử đòi hỏi nghiên cứu hoạt động trong thực hành quyền công tố ở
giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh
phải đặt trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Thực trạng thực hành quyền công tố ở giai đoạn xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh chỉ được xem
xét một cách toàn diện, đầy đủ khi đặt chúng trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
Phương pháp thống kê: được sử dụng khi đánh giá thực trạng thực hành quyền
công tố ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân thành
phố Bắc Ninh.
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả cũng sử dụng phương pháp
so sánh, phương pháp khảo sát thực tế.
6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu về thực hành quyền công tố trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc
Ninh. Luận văn đã góp phần nghiên cứu những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật
trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm
sát nhân dân, làm phong phú thêm những vấn đề lý luận của lĩnh vực này.
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng
dạy, học tập trong các Trường Đại học chuyên ngành luật và không chuyên ngành luật,
hệ thống các trường chính trị của Đảng.

luật tất yếu chung của sự phát triển lịch sử. Đó là, quyền công tố luôn gắn liền với bản
chất của Nhà nước, là một bộ phận cấu thành và không tách rời khỏi công quyền.
"Công tố" theo Đại từ điển tiếng Việt, "công" có nghĩa là "thuộc về Nhà nước,
tập thể, trái với tư", còn "tố" có nghĩa là "nói về những sai phạm tội lỗi của người khác
một cách công khai trước người có thẩm quyền hoặc trước nhiều người", "công tố" có
nghĩa là "điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Toà án"
[17, tr.453, 459, 1663].
Như vậy, công tố có mối liên hệ chặt chẽ với pháp luật, đặc biệt là pháp luật
hình sự. Bất kỳ Nhà nước nào cũng hết sức quan tâm đến lĩnh vực hình sự, khi một
hành vi bị coi là tội phạm được thực hiện sẽ làm phát sinh một quan hệ pháp luật giữa
một bên là Nhà nước và bên kia là người phạm tội. Trong mối quan hệ này, Nhà nước
là chủ thể quyền lực (quyền lực công), là người thực hiện sự buộc tội, đối tượng bị
Nhà nước cáo buộc là người đã thực hiện hành vi tội phạm. Công tố, vì thế được hiểu
hành vi bị coi là tội phạm trước Toà án.
Ở Việt Nam, quyền công tố và thực hành quyền công tố được nhắc đến nhiều
khi đề cập đến chức năng của Viện Kiểm sát các cấp. Thuật ngữ "thực hành quyền
công tố" được đưa ra trong Hiến pháp 2013 (Điều 138 Hiến pháp 2013) và được nhắc
lại ở Điều 1, Điều 3 Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân, bên cạnh khái niệm truyền
thống "kiểm sát việc tuân theo pháp luật" đã xuất hiện khái niệm "quyền công tố" và

7


"thực hành quyền công tố". Có nhiều quan điểm khác nhau về nội dung, lĩnh vực,
phạm vi chủ thể tham gia thực hành quyền công tố. Nhưng về nội dung và phạm vi
thực hành quyền công tố là những yếu tố không thể thay đổi ở bất kỳ quốc gia nào. Có
thể khái quát một số quan điểm chính sau.
Quan điểm thứ nhất cho rằng, "Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho
Viện kiểm sát truy tố người phạm tội ra Toà án, thực hiện sự buộc tội tại phiên toà
(thực hiện quyền công tố)" [38].

tố là một hoạt động độc lập nhân danh quyền lực công.
Với nhận thức của mình, tác giả ủng hộ quan điểm thứ năm nêu trên về khái
niệm quyền công tố, bởi các lý do sau đây:
Thứ nhất, tác giả nhận thấy quan điểm này đã khẳng định được quyền công tố
là quyền của Nhà nước, nhân danh nhà nước để buộc tội đối với người có hành vi vi
phạm mà pháp luật hình sự coi là tội phạm xâm hại trật tự chung của xã hội và nó chỉ
có trong lĩnh vực hình sự. Quan điểm này cũng phù hợp với quan điểm truyền thống
nghiên cứu của lịch sử nhà nước và pháp luật về quyền công tố.
Thứ hai, quan điểm này cũng thừa nhận quyền công tố gắn liền với quyền tài
phán của toà án. Đó là quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội ra
toà và bảo vệ sự buộc tội trước phiên toà. Tuy nhiên, cũng cần nhận thức rằng, không
có nghĩa cứ phải đưa được người phạm tội ra toà mới là thực hành quyền công tố. Trên
thực tế, quyền công tố có thể bị triệt tiêu bất cứ lúc nào khi sự việc là đối tượng tác
động của quyền công tố có đủ căn cứ để triệt tiêu.
Thứ ba, quan điểm cũng thừa nhận quyền công tố chỉ có thể do một cơ quan
thực hiện và độc lập với cơ quan tài phán (ở Việt Nam thực hiện quyền này là Viện
kiểm sát).
Thứ tư, quan điểm này cũng phù hợp với quan điểm của Đảng về xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phù hợp với tiến trình cải cách tư pháp hiện nay.
Từ những phân tích như trên tác giả xin đưa ra khái niệm quyền công tố: Quyền
công tố là quyền của nhà nước giao cho Viện kiểm sát thực hiện các quyền năng theo
quy định của pháp luật để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với
người phạm tội, trên cơ sở bảo đảm việc thu thập đầy đủ chứng cứ để xác định tội
phạm và người phạm tội.
Hiến pháp năm 2013, điều 109 cũng nói thêm “Khi thực hành quyền công tố và
kiểm sát hoạt động tư pháp, Kiểm sát viên tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân.”

9



10


đang đẩy mạnh thực hiện các Nghị quyết của Đảng về cải cách bộ máy nhà nước nói
chung, cải cách tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp nói riêng.
Như đã trình bày ở phần trên, tác giả luận văn tán thành với quan điểm cho rằng
QCT là quyền của Nhà nước giao cho VKS thực hiện nhằm truy cứu TNHS đối với
người phạm tội. Đây là quyền chỉ có trong lĩnh vực TTHS, bắt đầu từ khi có tội phạm
xảy ra và kết thúc khi bản án đã có hiệu lực pháp luật hoặc khi có quyết định đình chỉ
vụ án theo quy định của pháp luật. Theo đó, Nhà nước đã xây dựng các thiết chế, các
cơ chế để đảm bảo thực hiện QCT, trong đó quy định các quyền năng pháp lý thuộc
nội dung QCT. Như vậy, có thể thấy QCT là quyền lực Nhà nước, còn THQCT là cách
thức Nhà nước tổ chức thực hiện quyền lực ấy. Việc tổ chức THQCT được quy định
rất khác nhau ở mỗi quốc gia, mỗi thời kỳ lịch sử, tuỳ thuộc vào bản chất chế độ chính
trị, điều kiện và hoàn cảnh của từng nước.
Song thực tế ở nước ta, theo quy định của pháp luật hiện hành và chủ trương
của Đảng, Nhà nước về cải cách tư pháp, chức năng THQCT chính thức được giao cho
hệ thống cơ quan nhà nước độc lập, đó là VKSND - Cơ quan duy nhất THQCT. Tuy
vậy, việc phát động QCT cũng có cả ở cơ quan điều tra nhưng chỉ có hiệu lực khi các
quyết định khởi tố của cơ quan điều tra được VKS phê chuẩn. Nếu các quyết định của
cơ quan điều tra không có căn cứ hoặc trái pháp luật thì VKS có quyền hủy bỏ các
quyết định này. Nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có dấu hiệu bỏ lọt tội
phạm hoặc người phạm tội mới thì Hội đồng xét xử có quyền ra quyết định khởi tố vụ
án hoặc yêu cầu VKS khởi tố vụ án hình sự nhưng quyết định đó phải được gửi cho
VKS xem xét, nếu không có căn cứ thì VKS sẽ kháng nghị lên cơ quan cấp trên.
Theo đó, về mặt pháp lý chỉ có VKS là cơ quan có quyền độc lập phát động
QCT mà không phải chịu sự can thiệp của bất cứ cơ quan nhà nước nào và THQCT là
chức năng Hiến định mà không cơ quan nhà nước nào làm thay VKS, cố Tổng Bí thư
Trường Chinh đã khẳng định: “Không có cơ quan nhà nước nào thay thế ngành Kiểm

kiểm sát nhân dân cấp huyện, thành phố khi thực hành quyền công tố các vụ án thuộc
thẩm quyền có giá trị bắt buộc thi hành không chỉ đối với người tham gia tố tụng và đối
với cả những người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng.
Theo quy định của pháp luật, Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất có quyền luận
tội bị cáo tại phiên toà, đề xuất hình phạt và các biện pháp tư pháp khác. Vì vậy, việc
áp dụng pháp luật một cách đúng đắn trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân nhằm bảo đảm cho hoạt động

12


truy tố và xét xử các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm được đúng người,
đúng tội, đúng pháp luật.
THQCT ở giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự là một dạng hoạt động áp
dụng pháp luật nói chung. Vì vậy, nó cũng tuân theo các quy trình chung và được thực
hiện qua những giai đoạn sau:
- Giai đoạn thứ nhất: Nghiên cứu hồ sơ vụ án, xem xét, đánh giá các tình tiết,
chứng cứ có liên quan đến sự kiện pháp lý, đối tượng và quyết định xử lý do cơ quan
có thẩm quyền ở giai đoạn điều tra, truy tố cung cấp.
Đây là khâu đầu tiên, có ý nghĩa rất quan trọng đến quá trình thực hành quyền
công tố ở giai đoạn XXST các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân. Đây là
nhiệm vụ trọng tâm của Kiểm sát viên khi được phân công thực hành quyền công tố vụ
án hình sự. Chỉ có nghiên cứu hồ sơ, nắm vững nội dung vụ án để đưa ra các Yêu cầu
điều tra chính xác, đầy đủ cho Điều tra viên thì Kiểm sát viên mới có đầy đủ căn cứ để
thể hoàn thành việc buộc tội bị cáo tại phiên toà. Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, đánh giá
các tình tiết cụ thể của nó để xác định tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của
hành vi do đối tượng đã gây ra như: Có hành vi phạm tội hay không? Hành vi đó ở
mức độ nào (đủ điều kiện để khởi tố chưa)? Năng lực chịu trách nhiệm hình sự (đủ
tuổi chịu trách nhiệm hình sự chưa)? Xảy ra ở đâu? Khi nào? Ai là người thực hiện?
Công cụ phương tiện phạm tội? Nhân thân? Trình tự, thủ tục thu thập tài liệu chứng

Ngoài việc nghiên cứu các chứng cứ buộc tội thì Kiểm sát viên thụ lý vụ án đó phải
nghiên cứu các chứng cứ gỡ tội cho bị cáo, xem xét các chứng cứ buộc tội thu thập có
đảm bảo đúng theo các quy định của pháp luật hay không?
Như vậy, việc nghiên cứu hồ sơ chuẩn bị thực hành quyền công tố tại phiên toà
là giai đoạn khởi đầu hết sức quan trọng của quá trình giải quyết vụ án, nó có ý nghĩa
quyết định đến việc hoàn thành nhiệm vụ của Kiểm sát viên tại phiên toà. Nếu chuẩn bị
tốt ở giai đoạn này, Kiểm sát viên có điều kiện chủ động, tự tin tiến hành hoạt động tố
tụng tiếp theo. Việc nghiên cứu hồ sơ ở mỗi vụ án có đặc thù riêng, tuỳ thuộc vào từng
vụ án cụ thể mà Kiểm sát viên có phương pháp nghiên cứu phù hợp. Từ kết quả nghiên
cứu định hướng cho Kiểm sát viên có những quyết định nhạy bén và đúng đắn tại phiên
tòa. Việc nghiên cứu hồ sơ vụ án ban đầu có một ý nghĩa hết sức quan trọng đảm bảo
cho việc ra quyết định áp dụng pháp luật của Viện kiểm sát đảm bảo đúng pháp luật,
việc giải quyết vụ án hình sự được tuân thỉ theo đúng quy định của pháp luật.

14


- Giai đoạn thứ hai: Xem xét, dẫn nguồn, lựa chọn các quy phạm pháp luật để
áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố giai đoạn XXST các vụ án hình sự
của Viện kiểm sát nhân dân.
Giai đoạn này được thực hiện dựa trên ý thức pháp luật, trình độ hiểu biết, kiến
thức pháp luật của Kiểm sát viên được giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố xét xử
sơ thẩm các vụ án hình sự của VKSND. Kiểm sát viên có thẩm quyền áp dụng pháp
luật trong thực hành quyền công tố xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát
nhân dân cần phải xem xét, đánh giá đầy đủ sự kiện pháp lý đã xảy ra, những công
việc đã xử lý ở giai đoạn điều tra, đề xuất của Cơ quan điều tra về quan điểm áp dụng
pháp luật để xử lý vụ án, quyết định truy tố người phạm tội để xét xử ở Toà án có đúng
thẩm quyền hay không, đồng thời phải nghiên cứu, xem xét các quy định pháp luật áp
dụng để xử lý vụ án. Để từ đó xác định nội dung quy phạm được áp dụng, phạm vi quy
phạm pháp luật được áp dụng trong hoạt động thực hành quyền công tố xét xử các vụ

án, bị cáo cụ thể để đề ra các quyết định chính xác, khách quan, đúng người, đúng tội,
đúng pháp luật.
- Giai đoạn thứ tư: Tổ chức thực hiện quyết định áp dụng pháp luật.
Việc tổ chức thực hiện quyết định áp dụng pháp luật là giai đoạn cuối cùng của
quá trình áp dụng pháp luật. Khác với các quyết định áp dụng pháp luật của các cơ
quan nhà nước khác, quyết định áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở
giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân được thi hành
ngay mà mặc nhiên không phải triển khai các biện pháp tổ chức thi hành.
Chẳng hạn khi Viện kiểm sát rút toàn bộ cáo trạng trước khi mở phiên toà thì vụ án
phải đình chỉ theo quy định tại Điều 108 Bộ luật tố tụng hình sự, Thẩm phán ra quyết định
đình chỉ vụ án khi Viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố trước khi mở phiên toà.
1.2. Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về thực hành quyền
công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự
- Trước khi mở phiên tòa sơ thẩm
Sau khi kết thúc điều tra, nếu xác định có tội phạm và cần phải truy cứu trách
nhiệm hình sự đối với bị can thì Cơ quan điều tra phải làm bản kết luận điều tra.
Trường hợp vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn, khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra
không làm bản kết luận điều tra mà ra quyết định đề nghị truy tố. Bản kết luận điều tra
(quyết định đề nghị truy tố) cùng toàn bộ hồ sơ vụ án phải được chuyển sang VKS để xem
xét, giải quyết theo thẩm quyền (Điều 162 BLTTHS 2003). Trong thời hạn không quá hai
mươi ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, ba mươi ngày đối

16


với với tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày VKS nhận được hồ
sơ vụ án và bản kết luận điều tra; Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát
có thể gia hạn, nhưng không quá mười ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm
nghiêm trọng; không quá mười lăm ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng; không quá ba
mươi ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng VKS xem xét thấy có đủ các căn cứ để

luật gốc quy định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của VKS thì BLHS, BLTTHS là
những cơ sở pháp lý cơ bản và quan trọng nhất của hoạt động THQCT ở giai đoạn
XXST các vụ án hình sự.
Bộ luật hình sự là văn bản pháp luật duy nhất quy định về tội phạm và hình
phạt, được hiểu là các quy phạm nội dung của pháp luật hình sự; căn cứ pháp lý quan
trọng nhất trong việc giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự. Nó là yếu tố bảo đảm
hàng đầu cho việc THQCT nói chung và đặc biệt là trong giai đoạn XXST các vụ án
hình sự nói riêng. Xuất pháp từ tầm quan trọng đó, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm
xây dựng, hoàn thiện các quy phạm pháp luật hình sự, là lĩnh vực được pháp điển sớm
hơn so với những ngành luật khác. Bộ luật hình sự năm 1985 được Quốc hội thông qua
ngày 27/6/1985, là công cụ hữu hiệu để đấu tranh phòng và chống tội phạm, góp phần
quan trọng giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích
của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các công dân, tổ chức trong xã hội. Song
trước đòi hỏi của thực tiễn, BLHS đã được 4 lần sửa đổi bổ sung (ngày 28/12/1989,
12/8/1991, 22/12/1992, 10/5/1997) và được thay thể bởi BLHS năm 1999 (Quốc hội
khoá X thông qua ngày 21/12/1999); tiếp tục được sửa đổi, bổ sung ngày 19/6/2009.
Bộ luật hình sự năm 1999 ra đời đánh dấu một bước phát triển mới cao hơn của hoạt
động lập pháp hình sự nước ta trong suốt hơn năm mươi năm qua, vì nó được hình
thành không chỉ trên cơ sở tổng hợp những kinh nghiệm, thành tựu của thực tiễn hình
sự và các tri thức về khoa học tiên tiến trên thế giới. Đây chẳng những là công cụ sắc
bén, hữu hiệu của Đảng, Nhà nước và của nhân dân để đấu tranh phòng, chống tội
phạm mà còn là cơ sở pháp lý quan trọng bậc nhất cho việc THQCT nói chung và
THQCT ở giai đoạn XXST các vụ án hình sự.
Ngày 27/11/2015 Bộ luật hình sự 2015 được ban hành gồm 3 Phần, 26 Chương,
426 Điều thay vì Bộ luật hình sự 1999 gồm 2 Phần, 24 chương, 344 Điều. Mặc dù đến
nay chưa có hiệu lực nhưng theo tinh thần Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày
27/11/2015 của Quốc hội thì các điều khoản của Bộ luật hình sự năm 2015 xóa bỏ một
tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định về hình phạt nhẹ hơn, tình
tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án


hiệu lực thi hành của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13; Bộ luật Tố tụng hình sự số
101/2015/QH13; Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13; Luật Thi
hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13; và bổ sung dự án Luật sửa đổi, bổ sung

19


một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 vào chương trình xây dựng luật,
pháp lệnh năm 2016.
Bên cạnh hai Bộ luật nói trên, cơ sở pháp lý để đảm bảo TTHQCT ở giai đoạn
XXST các vụ án hình sự còn phải kể đến các Thông tư liên tịch, Nghị quyết của các cơ
quan chức năng hướng dẫn thi hành.
Bộ luật hình sự, BLTTHS Việt Nam hiện hành và các văn bản hướng dẫn về cơ
bản đã đáp ứng được yêu cầu của đất nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp
quyền XHCN của dân, do dân, vì dân và yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp. Song
hiện nay, qua thực tế áp dụng cũng còn nhiều quy định chưa cụ thể, chưa được hướng
dẫn để áp dụng thống nhất, có những quy định còn mâu thuẫn, chồng chéo… điều đó,
ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động hình sự nói chung và trong THQCT ở giai đoạn
XXST các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân nói riêng.
Bảo đảm về tổ chức
Bảo đảm về mặt tổ chức là yêu cầu không thể thiếu và là yếu tố quan trọng nhất
để nâng cao chất lượng hoạt động của mỗi cơ quan tổ chức, trong đó công tác cán bộ
được xác định là khâu then chốt.
Người cán bộ, công chức tốt là người phải có đủ trình độ, năng lực hoàn thành
tốt công việc được giao, đồng thời là người có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt. Đối với
Viện kiểm sát nhân dân thì Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Chuyên viên, công chức trong
cơ quan nếu trình độ năng lực yếu kém sẽ tác động trực tiếp đến việc oan, sai, bỏ lọt tội
phạm, xét xử thiếu công minh. Thực hiện pháp luật nghiêm minh là yêu cầu đối với tất
cả các chủ thể thực hiện pháp luật, nhưng đối với cán bộ của Viện kiểm sát nhân dân
yêu cầu khắt khe và chuẩn mực hơn vì hoạt động này ảnh hưởng trực tiếp đến tính

trợ tư pháp… Kiện toàn tổ chức và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các
cơ quan này là yếu tố quan trọng bảo đảm việc áp dụng pháp luật trong thực hành
quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự của Viện kiểm sát nhân dân.
Các bảo đảm khác
Thứ nhất, đó là sự giám sát của các thiết chế xã hội.
Nghị quyết số 08 năm 2002 của Bộ chính trị đã nhấn mạnh tăng cường sự giám
sát của Quốc hội, Hội đồng nhân sân, của các tổ chức xã hội và của công dân đối với
công tác tư pháp.., điều đó chứng minh rằng Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng và đặc
biệt quan tâm, nhìn nhận chính xác tầm quan trọng của việc phải tăng cường giám sát
đối với cơ quan tiến hành tố tụng nhằm đảm bảo sự độc lập trong xét xử, nhưng cũng

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status