Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRƢƠNG THỊ THU THẮM

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG
GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN TRÀ BỒNG,
TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRƢƠNG THỊ THU THẮM

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG
GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN TRÀ BỒNG,
TỈNH QUẢNG NGÃI

Chuyên ngành : Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số
:
60.38.01.04

quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ...................................21
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG
GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN TRÀ BỒNG, TỈNH QUẢNG NGÃI ......................................................31
2.1. Khái quát chung về tình hình tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân
dân huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi .....................................................................31
2.2. Thực trạng thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự trên địa bàn huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi trong 05 năm gần đây .......32
CHƢƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG CÔNG TÁC THỰC
HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ
ÁN HÌNH SỰ ...........................................................................................................51
3.1. Hoàn thiện pháp luật hiện hành ..........................................................................51
3.2. Hoàn thiện về tổ chức ........................................................................................60
3.3. Hoàn thiện công tác cán bộ ................................................................................66
3.4. Các giải pháp khác .............................................................................................71
KẾT LUẬN ..............................................................................................................77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS:

Bộ luật hình sự

BLTTHS:

Bộ luât tố tụng hình sự

HĐXX:


TTHS:

Tố tụng hình sự

VKS:

Viện kiểm sát

VKSND:

Viện kiểm sát nhân dân

VKSNDTC:

Viện kiểm sát nhân dân tối cao


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu

Tên bảng

bảng
2.1.
2.2.

Tỷ lệ công bố cáo trạng/ số vụ án đã xét xử
Tỷ lệ Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung/số vụ VKS truy
tố


Thực hành quyền công tố là chức năng Hiến định của Viện kiểm sát nhân dân
được ghi nhận ở nhiều văn bản pháp lý khác nhau: Các bản Hiến pháp năm 1980,
năm 1992 và Hiến pháp năm 2013. Trên cơ sở quy định của Hiến pháp được cụ thể
hóa chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân trong Luật tổ
chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981, năm 1992, năm 2002 và năm 2014, trong
Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, năm 2003, năm 2015 và Nghị quyết số 08NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác
tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính
trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Thực tiễn những năm gần đây công tác thực hành quyền công tố của ngành
Kiểm sát nhân dân Việt Nam đã có những thành tựu đáng kể, đã hạn chế tình trạng
truy tố oan, sai; đã phát hiện, khởi tố, xử lý kịp thời các hành vi phạm tội và tội
phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
góp phần hiệu quả trong công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm, giữ vững an
ninh trật tự, an toàn xã hội, tạo được niềm tin đối với Đảng và nhân dân.
Song song với những kết quả đạt được, hiện nay vẫn còn một số vụ án truy tố
oan, sai gây bức xúc trong nhân dân, một phần là do Kiểm sát viên không làm tốt
công tác thực hành quyền công tố. Mặt khác, về lý luận và thực tiễn hiện nay còn rất
nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quyền công tố, phạm vi thực hành quyền
công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định
về thực hành quyền công tố còn chung chung và trong giai đoạn xét xử sơ thẩm nói
riêng ở một chừng mực nào đó còn chưa rõ ràng, cụ thể, sự phân định giữa chức
năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát xét xử trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm chưa rõ ràng dẫn đến chưa thống nhất về mặt nhận thức, thậm chí còn có
những quan điểm trái ngược nhau của một số bộ phận Kiểm sát viên dẫn đến chất
lượng thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm chưa ngang tầm với

1


chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát, chưa đáp ứng được yêu cầu của ngành đặt



Sách chuyên khảo “Một số vấn đề về tăng cường trách nhiệm công tố trong
hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư
pháp” do Tiến sĩ Nguyễn Hải Phong làm chủ biên, NXB Tư pháp, 2013.
Sách chuyên khảo “Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm” do Tiến sĩ Dương Thanh
Biểu làm chủ biên, NXB Tư pháp, 2007.
Còn rất nhiều sách, báo, các giáo trình đào tạo của các trường Đại học trong
nước, các tạp chí kiểm sát nghiên cứu về chức năng công tố, thực hành quyền công
tố của Viện kiểm sát nhân dân. Tuy nhiên, đến nay vẫn còn nhiều quan điểm khác
nhau về khái niệm quyền công tố, thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự mà
nhất là phạm vi của hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự. Trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu của các đề tài kể
trên, tác giả sẽ vận dụng đi sâu nghiên cứu, thể hiện một cách cụ thể, chi tiết nội
dung những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật Việt Nam về thực hành quyền
công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân
dựa trên thực trạng thực hành quyền công tố tại huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi
trong giai đoạn 5 năm (từ năm 2012 đến năm 2016). Đồng thời, tác giả cũng làm rõ
thực trạng nhận thức về phạm vi, đặc điểm, ý nghĩa của thực hành quyền công tố
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm trên địa bàn huyện Trà Bồng từ đó đưa ra những giải
pháp tăng cường công tác thực hành quyền công tố trên địa bàn huyện Trà Bồng
trong thời gian đến. Do vậy, nội dung luận văn này của tác giả khác với nội dung
mà các luận văn đã nghiên cứu trước đây.
Vì vậy, tác giả tiếp tục nghiên cứu đề tài “Thực hành quyền công tố trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi”
có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đây là vấn đề đang được đề cập rất nhiều hiện nay. Tác giả thấy việc nghiên
cứu đề tài này là cần thiết và cần phải được xem xét, phân tích đề tài rõ hơn giữa

điểm mới của BLTTHS năm 2015 cùng về vấn đề này.
Luận văn nghiên cứu thực trạng thực hiện quy định của pháp luật tố tụng hình
sự về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở
huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2012-2016.

4


5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn nghiên cứu dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngoài ra, việc
nghiên cứu còn dựa trên quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước
ta; các cơ sở lý luận khoa học của các lĩnh vực có liên quan như khoa học luật hình
sự, luật tố tụng hình sự…
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng đồng bộ phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, giải thích,
chứng minh và thống kê, khảo sát, thu thập số liệu, tài liệu để giải quyết nhiệm vụ
nghiên cứu của luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Là cơ sở cho việc nghiên cứu, tìm hiểu một số nội dung về thực hành quyền
công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự góp phần hoàn thiện hệ thống
luật thực định của nước ta, qua đó tăng cường công tác thực hành quyền công tố nói
chung và thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói
riêng trên địa bàn huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn phân tích, đánh giá nêu ra thực tiễn công tác thực hành quyền công
tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng
Ngãi, là cơ sở thực tiễn để cán bộ, Kiểm sát viên nghiên cứu, vận dụng vào quá

1.1. Những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự
1.1.1. Khái niệm, đối tượng, phạm vi thực hành quyền công tố trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
1.1.1.1. Khái niệm quyền công tố, khái niệm thực hành quyền công tố
Ở Việt Nam thuật ngữ “quyền công tố” và “thực hành quyền công tố” lần đầu
tiên được ghi nhận tại Điều 138 Hiến pháp năm 1980 và được cụ thể hóa trong
BLTTHS, Luật tổ chức VKSND. Việc nghiên cứu, hoàn thiện khái niệm “Quyền
công tố”, “Thực hành quyền công tố” có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định
đúng vị trí, vai trò, chức năng của VKSND trong giai đoạn hiện nay.
Xung quanh khái niệm quyền công tố, ở nước ta đến nay vẫn còn nhiều quan
điểm khác nhau, nổi bật có một số quan điểm sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Công tố không phải là một chức năng độc lập
của Viện kiểm sát, mà chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng
kiểm sát việc tuân theo pháp luật [38, tr.10]. Quan điểm này đồng nhất khái niệm
quyền công tố với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật.
Theo chúng tôi hiểu khái niệm quyền công tố như vậy là không phù hợp với
Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức VKSND năm 2014, BLTTHS năm 2003 quy
định VKSND THQCT, kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Đây là hai chức năng độc
lập nên không thể đồng nhất hai chức năng này với nhau như quan điểm trên.
Quan điểm thứ hai cho rằng: Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho
VKS truy tố kẻ phạm tội ra trước Toà án, thực hiện sự buộc tội tại phiên toà (thực
hành quyền công tố) [38, tr.11]. Quan điểm này cho rằng chỉ có duy nhất VKS mới
có quyền này, nó chỉ diễn ra trong một lĩnh vực duy nhất là tố tụng hình sự và cũng
chỉ ở một giai đoạn duy nhất là giai đoạn xét xử sơ thẩm.
7


Chúng tôi thấy rằng, quan điểm này đã quá thu hẹp khái niệm, nội dung, phạm
vi quyền công tố và không phản ánh được đầy đủ bản chất của quyền này vì hoạt

định tội phạm và người phạm tội. Trên cơ sở đó, truy tố bị can ra trước Tòa án và
bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa” [38, tr.20].
Những người theo quan điểm này cho rằng, quyền công tố là quyền nhân danh
nhà nước buộc tội đối với người phạm tội. Vì vậy, quyền công tố chỉ có duy nhất
trong lĩnh vực tố tụng hình sự chỉ được thực hiện bởi một cơ quan duy nhất là VKS
mà không có bất cứ cơ quan nhà nước nào thay thế được.
Chúng tôi đồng tình với quan điểm này bởi nó phù hợp về mặt lý luận, phù
hợp với thực tiễn và phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành. Quan điểm này
đã phản ánh được bản chất, nội dung, phạm vi của quyền công tố và chủ thể
THQCT.
Theo chúng tôi khái niệm quyền công tố được hiểu là quyền nhân danh Nhà
nước thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội và được giao cho cơ
quan duy nhất thực hiện là VKSND, có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ
tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội, trên cơ sở đó quyết định
việc truy tố bị can ra trước Tòa án bằng bản cáo trạng và bảo vệ sự buộc tội tại
phiên tòa.
Trên cơ sở khái niệm quyền công tố, THQCT được hiểu như thế nào? Trong
hệ thống pháp luật Việt Nam từ trước đến nay chưa có bất kỳ một văn bản pháp lý
nào đưa ra khái niệm về THQCT.
Luật tổ chức VKSND năm 2014 là văn bản pháp lý đầu tiên chính thức đưa ra
khái niệm về THQCT được quy định tại khoản 1 Điều 3: “Thực hành quyền công tố
là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc
buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố,
điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự”
1.1.1.2. Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự
Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được quy định tại phần thứ ba của Bộ
luật tố tụng hình sự năm 2003 gồm hai giai đoạn: Chuẩn bị xét xử và xét xử tại
9

khẳng định vị trí trọng yếu của cơ quan VKS trong việc khắc phục tình trạng oan,
10


sai, bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội.
Thứ hai, THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm là việc truy tố bị can ra trước
Tòa án: Trên cơ sở kết quả điều tra, thu thập chứng cứ và chứng minh được người
phạm tội ở các giai đoạn trước đó, VKS là cơ quan THQCT truy tố bị can ra trước
Tòa án để xét xử bằng bản cáo trạng, trong đó nêu rõ những chứng cứ chứng minh
hành vi phạm tội của bị can, những yếu tố tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ
TNHS của bị can… và đặc biệt là phần kết luận của bản cáo trạng phải xác định
được tội danh của bị can.
Thứ ba, THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm là việc buộc tội bị cáo và bảo
vệ sự buộc tội tại phiên tòa bằng các phương thức được pháp luật quy định như:
Công bố cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, quyết định khác về
việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa, tham gia xét hỏi, trình bày luận tội, tranh
luận tại phiên tòa sơ thẩm, kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường
hợp phát hiện oan sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội... Như vậy, việc buộc tội và
bảo vệ sự buộc tội tại phiên tòa là đặc điểm quan trọng nhất của THQCT trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự vì nó thể hiện đầy đủ nhất quyền năng của VKS
tại phiên tòa được thực hiện thông qua người đại diện của VKSND là Kiểm sát viên.
Đối tượng thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự
Hoạt động THQCT trong TTHS với mục đích là truy cứu TNHS đối với người
phạm tội. Do đó, đối tượng của THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm là hành vi
phạm tội và người phạm tội.
Phạm vi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự
Như đã luận giải ở phần trên, thời điểm bắt đầu của giai đoạn xét xử sơ thẩm
là từ khi VKS chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án và kết thúc bằng bản án hoặc quyết

luật trong hoạt động xét xử sơ thẩm của Tòa án và việc tuân theo pháp luật của
những người tham gia tố tụng.
Vì vậy, có thể hiểu một cách khái quát: THQCT là việc VKS sử dụng những
biện pháp được quy định trong BLTTHS trực tiếp quyết định hoặc trực tiếp thực
hiện liên quan đến việc buộc tội bị can, bị cáo. Ngược lại, KSXX sơ thẩm vụ án
12


hình sự được hiểu là những biện pháp mà VKS sử dụng để kiểm sát tính hợp pháp
của các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng, người tham gia tố tụng theo thủ tục sơ thẩm.
1.1.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thực hành quyền công tố
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
1.1.2.1. Ý thức chính trị, đạo đức nghề nghiệp của Kiểm sát viên
Ý thức chính trị đóng vai trò quan trọng, là nền tảng trong việc hình thành lý
tưởng sống và tư tưởng chính trị của KSV. Kiểm sát viên có lập trường tư tưởng
chính trị vững vàng là tiền đề vững chắc bảo đảm cho hoạt động THQCT nói chung
và trong giai đoạn xét xử sơ thẩm nói riêng đúng với đường lối, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Ý thức chính trị của KSV càng cao thì tinh thần trách nhiệm trong công việc
càng cao giúp cho hoạt động áp dụng pháp luật, khả năng xử lý các tình huống của
KSV càng chính xác, linh hoạt, kịp thời mà không chịu bất kỳ sự tác động nào từ
bên ngoài. Bản lĩnh chính trị vững vàng giúp KSV kiên quyết đấu tranh chống tội
phạm, không bỏ lọt, không làm oan, bảo vệ lẽ phải, bảo vệ người tốt, bảo vệ công
lý, bảo vệ pháp chế Xã hội chủ nghĩa.
Đạo đức nghề nghiệp là yếu tố có ý nghĩa quan trọng hình thành nên nhân
cách, vị trí của KSV trong xã hội. Đạo đức nghề nghiệp của Kiểm sát viên cũng là
đạo đức của người cán bộ, công chức được quy định tại Luật cán bộ, công chức,
Luật tổ chức VKSND... Chính vì vậy, một trong những tiêu chuẩn quan trọng để
xem xét bổ nhiệm KSV được quy định tại Điều 75 Luật tổ chức VKSND: “...trung

trải nghiệm của mỗi KSV là không giống nhau. Sự trải nghiệm về đời sống xã hội
của KSV càng nhiều thì vốn sống và kinh nghiệm thực tiễn càng cao. Chính vốn
sống, kinh nghiệm thực tiễn giúp cho KSV xác định vụ án, xử lý tình huống chính
xác, nhanh nhạy cũng như việc áp dụng pháp luật chặt chẽ đúng pháp luật. Chính vì
vậy, Điều 77 đến Điều 80 Luật tổ chức VKSND quy định ngoài những điều kiện về
trình độ thì bắt buộc phải đảm bảo tiêu chuẩn về thời gian công tác tùy theo từng
ngạch KSV.
Pháp luật đòi hỏi phải được áp dụng một cách nghiêm chỉnh và thống nhất
trong mọi trường hợp, hoạt động THQCT càng đòi hỏi sự khách quan, chính xác và
thống nhất để đảm bảo việc truy tố đúng luật định.
14


1.1.2.3. Ý thức pháp luật, bản lĩnh nghề nghiệp và kỹ năng nghiệp vụ của
Kiểm sát viên
Ý thức pháp luật là tổng thể các học thuyết, tư tưởng, quan điểm, quan niệm
của con người thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp của pháp
luật thông qua quy tắc xử sự chung .
Kiểm sát viên có ý thức pháp luật cao sẽ có cách nhìn khách quan, toàn diện,
sâu sắc hơn trong từng vụ án, từng quy phạm pháp luật cụ thể.
Ý thức pháp luật của KSV càng cao thì hoạt động THQCT càng có chất lượng,
hiệu quả và ngược lại.
Bản lĩnh nghề nghiệp chính là bản thân KSV phải có tinh thần dũng cảm bảo
vệ công lý, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quan điểm, chủ trương đúng
đắn của Đảng và Nhà nước; không dao động trước sức ép, trước những tác động
tiêu cực; kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật và tội
phạm, các hành vi tham nhũng, tiêu cực. Có ý thức phê bình và tự phê bình, dám
nói thẳng, nói thật, không né tránh, ngại va chạm với ý thức xây dựng.
Dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; mạnh dạn đề xuất các hình thức,
biện pháp để ban hành các quyết định phù hợp, đúng đắn giải quyết các nhiệm vụ

xã hội như chạy án, chạy tội đang làm xấu đi hình ảnh của cơ quan bảo vệ pháp
luật, của người cán bộ kiểm sát bởi bên cạnh những KSV có bản lĩnh chính trị vững
vàng, có đạo đức nghề nghiệp, lương tâm trong sáng thì vẫn có một số ít KSV bị tha
hóa về đạo đức, tư tưởng chính trị, bị cám dỗ bởi vật chất, bị sức mạnh của đồng
tiền làm che mờ đi những phẩm chất quý giá mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dạy:
“Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn”. Một số KSV lợi dụng
nghề nghiệp của mình để gợi ý, vòi vĩnh, ngã giá, nhận hối lộ, môi giới hối lộ trong
quá trình giải quyết án dẫn đến những sai lệch trong quá trình áp dụng pháp luật, tất
yếu sẽ dẫn đến pháp luật áp dụng không công minh, người có tội thì thành không
tội, người lương thiện phải chịu oan ức, quyền, lợi ích hợp pháp không được bảo vệ,
công lý không được thực thi trên thực tế. Do đó, để hoạt động THQCT được thực
hiện đúng đắn, nghiêm minh nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân không
bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội thì yếu tố tiên quyết là cần phải nâng
cao ý thức tuân thủ và chấp hành pháp luật một cách tuyết đối của từng cán bộ,
16


KSV thì tiêu cực xã hội sẽ không còn là yếu tố trở ngại lớn đối với hoạt động
THQCT nói chung và trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng.
1.1.2.6. Tác động từ những người có chức vụ, quyền hạn và những người thân
quen
Đây cũng là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động THQCT của KSV. Những
mối quan hệ với cấp trên trong đơn vị hay những người có chức vụ, quyền hạn
trong các ngành nghề khác, với người thân thậm chí chỉ là người quen, láng giềng vì
mối quan hệ phụ thuộc trong công tác, vì nể nang hay vì mối quan hệ tình cảm, vì
chỗ thân quen nhờ vả cũng có thể làm thay đổi tư duy pháp luật của KSV trong
công vụ chính là giải quyết vụ án một cách thiên kiến, sai lệch, chủ quan, duy ý chí
dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, khôn lường. Vì vậy, trong mọi trường hợp
KSV phải vững vàng, kiên quyết với sự tác động của cấp trên, của những người có
chức vụ quyền hạn và những người thân quen khi thực hiện nhiệm vụ THQCT trong

Từ bản chất, phạm vi, đặc điểm hoạt động THQCT trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát có ý nghĩa nhằm bảo đảm:
Mọi hành vi phạm tội đều phải được đưa ra xét xử kịp thời, công bằng, đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan, không bỏ lọt, nâng cao hiệu quả
đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Không để người nào bị xét xử oan, sai, bị hạn chế các quyền công dân, bị xâm
phạm tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm một cách trái pháp
luật.
Kịp thời phát hiện và khắc phục những vi phạm pháp luật của Tòa án trong
quá trình xét xử vụ án hình sự.
Thông qua hoạt động THQCT công khai tại phiên tòa góp phần tuyên truyền
pháp luật, giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật của công dân trong đấu tranh phòng
ngừa và chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác.
Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố góp phần bảo đảm
cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất qua đó bảo vệ Hiến pháp
và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

18


1.1.3.2. Các điều kiện đảm bảo thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự
Điều kiện về mặt pháp lý: Để hoạt động THQCT trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự thuận lợi, có hiệu quả, phát huy vai trò, vị trí của ngành Kiểm
sát nhân dân Việt Nam thì việc hoàn thiện các quy định của pháp luật có liên quan
đến THQCT đóng vai trò rất quan trọng. Điều kiện về mặt pháp lý còn thể hiện ở
việc áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật được thống nhất, các văn bản pháp
luật phải thể chế hóa các quy định của Hiến pháp và chính sách pháp luật của Nhà
nước, tránh những quy định chung, chồng chéo dẫn đến khó áp dụng trong thực tiễn
đồng thời VKSNDTC cũng cần ban hành những hướng dẫn nghiệp vụ kịp thời để


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status