VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Vương Sơn
Hà
BẢO ĐẢM PHÁP LÝ TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỐI VỚI
VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN BÀO CHỮA TRONG
GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH TÂY NINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Vương Sơn Hà
BẢO ĐẢM PHÁP LÝ TỐ TỤNG HÌNH Sự ĐỐI VỚI
VIỆC THựC HIỆN QUYỀN BÀO CHỮA TRONG
GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH Sự
TỪ THựC TIỄN TỈNH TÂY NINH
Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Những Nguyên tắc cơ bản trong việc thực hiện quyền bào chữa trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự......................................................................16
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN BÀO CHỮA
TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN ÁP
DỤNG TẠI TỈNH TÂY NINH...............................................................................24
2.1.
Quy định của pháp luật về bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự.........................................................................................24
2.2.
Thực tiễn áp dụng pháp luật để thực hiện quyền bào chữa trong giai đoạn
xét
xử vụ án hình sự ở Tây Ninh..............................................................................49
Chương 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ VỀ BẢO ĐẢM PHÁP LÝ VIỆC
THỰC HIỆN QUYỀN BÀO CHỮA TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ
THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ......................................................................................66
3.1.
Định hướng hoàn thiện pháp luật về quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự.........................................................................................66
3.2.
Giải pháp hoàn thiện bảo đảm pháp lý việc thực hiện quyền bào chữa trong
TA
: Tòa án
TAND
: Tòa án nhân dân
THTT
: Tiến hành tố tụng
TNHS
: Trách nhiệm hình sự
TTHS
: Tố tụng hình sự
VAHS
: Vụ án hình sự
VKS
: Viện kiểm sát
VKSND
Trên cơ sở quy định của Hiến pháp 2013, Điều 16 BLTTHS 2015 ghi nhận:
“NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI CÓ QUYỀN TỰ BÀO CHỮA, NHỜ LUẬT SƯ HOẶC NGƯỜI KHÁC BÀO CHỮA;
CƠ QUAN, NGƯỜI CÓ THẨM QUYỀN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG CÓ TRÁCH NHIỆM THÔNG BÁO, GIẢI
THÍCH VÀ BẢO ĐẢM CHO NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI, BỊ HẠI, ĐƯƠNG SỰ THỰC HIỆN ĐẦY ĐỦ QUYỀN BÀO
CHỮA, QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA HỌ THEO QUY ĐỊNH CỦA
BỘ LUẬT NÀY”. Mục đích
của quy định này nhằm bảo vệ đầy đủ các quyền và các lợi ích hợp pháp của bị cáo
trong TTHS và đảm bảo nguyên tắc: “KHÔNG AI BỊ COI LÀ CÓ TỘI KHI CHƯA CÓ BẢN ÁN
KẾT TỘI CỦA TÒA ÁN”.
Đây cũng là nội dung liên quan đến chủ trương và chiến lược
của Đảng ta thể hiện trong Nghị quyết số: 08/NQ-TW ngày 02/01/20012, Nghị quyết
số: 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến
năm 2020; theo đó, thực hiện chủ trương và triển khai các nhiệm vụ cải cách tư pháp
mà một trong các nhiệm vụ trọng tâm của cải cách tư pháp đến năm 2020 được xác
định là phải đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn
và trách nhiệm của người THTT, người tham gia tố tụng theo hướng đảm bảo tính
công khai, dân chủ, nghiêm minh, nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa
xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp.
1
Pháp luật TTHS quy định khá chặt chẽ và tương đối đầy đủ quyền bào chữa
của người bị buộc tội, nhưng trên thực tế trong thời gian qua trong cả nước nói
chung, địa bàn tỉnh Tây Ninh nói riêng, việc thực hiện quyền bào chữa còn nhiều
khó khăn, hạn chế, chưa được CQTHTT thật sự tôn trọng và bảo đảm thực hiện; đặc
biệt là trong giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHS - giai đoạn mà quyền và lợi ích hợp
quá trình tố tụng hoặc chỉ là một giai đoạn như giai đoạn điều tra, riêng trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án, đặc biệt là từ thực tiễn tỉnh Tây Ninh thì chưa có công
trình nghiên cứu nào.
Tuy nhiên, những công trình khoa học nghiên cứu nêu trên phần nào đã là
nguồn tài liệu tham khảo để tác giả tham khảo và kế thừa có chọn lọc trong quá trình
nghiên cứu để hoàn thành luận văn này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Từ việc nghiên cứu những vấn đề mang tính khái quát, nhận thức chung về
quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh Tây
Ninh; phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật về quyền bào chữa trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự quy định trong pháp luật TTHS Việt Nam và
tìm hiểu thực tiễn áp dụng, để tìm ra những vấn đề vướng mắc, bất cập những quy
định chưa phù hợp. Để trên cơ sở đó, đề ra những giải pháp, kiến nghị hoàn thiện
pháp luật cho việc áp dụng những quy định pháp luật về bảo đảm quyền bào chữa
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHS có hiệu quả trên thực tế.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là bản chất pháp lý về quyền bào chữa và
những đảm bảo của quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHS.
Phạm vi nghiên cứu đề tài: đề tài không đề cập đến quyền bào chữa trong các
giai đoạn khác của TTHS. Cơ sở thực tiễn của đề tài được đánh giá ở tỉnh Tây Ninh,
giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2017.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài này được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và các quan điểm của Đảng cộng sản Việt
Nam về Nhà nước và pháp luật, về chủ trương cải cách tư pháp, tôn trọng và bảo vệ
quyền con người.
Đồng thời, để thu thập, phân tích, xử lý các thông tin, những phương pháp
nghiên cứu được sử dụng bao gồm: phân tích, tổng hợp, so sánh. Các phương pháp
nghiên cứu thực tiễn cũng được sử dụng như: phương pháp thống kê, phương pháp
3
1.1. Khái quát chung về bảo đảm quyền bào chữa trong tố tụng hình sự
1.1.1.
Khái niệm quyền bào chữa trong tố tụng hình sự
Quyền bào chữa của người bị buộc tội là một trong những quyền con người
trong lĩnh vực tư pháp được pháp luật quốc tế tôn trọng, ghi nhận và bảo vệ. Một
trong những văn bản pháp luật quốc tế điển hình có ghi nhận quyền bào chữa là
Công ước về quyền dân sự và chính trị có hiệu lực từ ngày 23/3/1976; Việt Nam đã
tham gia Công ước này ngày 24/9/1982 và có trách nhiệm thực thi những cam kết
quốc tế trong công ước.
Ở Việt Nam, trong quá trình xây dựng pháp luật, nhà nước ta luôn coi trọng
các quyền con người, xem đó là một trong những nguyên tắc cơ bản để xây dựng
hoàn hiện pháp luật. Tuy nhiên, nguyên tắc này chưa được ghi nhận trực tiếp trong
các bản Hiến pháp năm 1946, năm 1959 và năm 1980. Đến Hiến pháp 1992, thì lần
đầu tiên chế định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được ghi nhận tại Điều
50; đỉnh cao là bản Hiến pháp 2013 quy định đầy đủ về quyền con người, quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân trong một đạo luật cơ bản, đạo luật gốc của nhà nước.
Quyền là một khái niệm dùng để chỉ những điều mà "pháp luật công nhận và
đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân, tổ chức được
hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế” [32, tr. 648].
Theo nghĩa phổ thông trong từ điển tiếng Việt: Thì bào chữa là việc dùng lý
lẽ, chứng cứ để bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp cho bị can, bị cáo [33, tr. 38].
Quyền bào chữa là một hoạt động tố tụng cực kỳ quan trọng, vì thông qua hoạt động
bào chữa thì quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội mới được đảm bảo. Do
chưa có một khái niệm cụ thể nào về vấn đề này được cụ thể hóa trong luật, cho nên
hiện nay khái niệm về quyền bào chữa chưa được thống nhất, vì vậy có rất nhiều
quan điểm khác nhau:
[17, Đ. 31]. Đồng thời, BLTTHS
2015 quy định CQTHTT, người có thẩm quyền THTT có nghĩa vụ của họ theo quy
định của Bộ luật này [16, Đ. 16]. Như vậy, với quan điểm trên, thì hoạt động bào
chữa là quá hẹp, chưa thể hiện hết nội dung của quyền bào chữa.
Quan điểm thứ ba cho rằng quyền bào chữa là: “Người bị buộc tội thực hiện
hành vi phạm tội nào đó được luật thừa nhận khả năng bào chữa, chống lại sự buộc
tội, bác bỏ nó bằng cách đưa ra các chứng cứ và lập luận nhằm làm giảm nhẹ TNHS
của mình. Trong quá trình điều tra và xét xử vụ án cần làm sáng tỏ không chỉ những
gì khẳng định sự buộc tội mà còn những gì có lợi cho bị cáo ” [ 14]. Với quan điểm
này thì nội dung, phạm vi, chủ thể thực hiện quyền bào chữa đã tương đối đầy đủ.
Người bị buộc tội có thể tự mình bào chữa trên cơ sở các chứng cứ và lập luận của
mình để chống lại sự buộc tội, bác bỏ việc bị buộc tội nhằm minh oan hoặc làm giảm
nhẹ TNHS của mình. Đồng thời, cơ quan có thẩm quyền trong quá trình điều tra,
truy tố và xét xử vụ án ngoài chứng cứ buộc tội cũng phải có nghĩa vụ tìm những
chúng cứ gỡ tội để chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ TNHS cho người bị
buộc tội. Tuy nhiên, theo quan điểm này thì pháp luật chỉ thừa nhận khả năng bào
chữa của người bị buộc tội, không thừa nhận người bị buộc tội được quyền nhờ
người khác bào chữa.
PGS.TS Phạm Hồng Hải khi cho rằng: “TRONG TTHS, QUYỀN BÀO CHỮA CHỈ
XUẤT HIỆN Ở CHỖ MÀ Ở ĐÓ CÓ SỰ BUỘC TỘI”
[8]. Bản chất của bào chữa là việc bảo vệ
người bị buộc tội khỏi sự buộc tội, kết tội một cách oan sai của các cơ quan có thẩm
quyền TTHS bằng cách đưa ra những lý lẽ, chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết
giảm nhẹ TNHS. Đồng thời, PGS.TS Hoàng Thị Minh Sơn cho rằng: “QUYỀN BÀO
những người bị buộc tội và quyền của các cộng đồng trông chờ những người đó phải
chịu trách nhiệm về hành vi của họ” [12]. Nhìn từ góc độ lý luận, chức năng gỡ tội
tồn tại song song với chức năng buộc tội như là nhu cầu tất yếu khách quan của
TTHS. Khi chưa xác định ai là người bị tình nghi thực hiện tội phạm hoặc chưa bắt
giữ người trong trường hợp khẩn cấp thì TTHS chưa xuất hiện chức năng bào chữa.
Trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của nhóm tác giả Trường Đại học
Luật thành phố Hồ Chí Minh đã nhận định:“TTHS không được thừa nhận là dân chủ
khi chức năng buộc tội không có đối trọng của nó là chức năng bào chữa ” VÀ “tranh
tụng chính là sự xác định mối quan hệ giữa chức năng buộc tội và chức năng bào
chữa như là sự thống nhất và đấu tranh giữa hai mặt đối lập”. Sự đấu tranh nhằm phủ
định giữa hai chức năng này chính là “động lực làm cho hoạt động TTHS vận động
và phát triển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác làm thay đổi bản chất của vụ án
hình sự, từ chưa xác định được sự thật khách quan của vụ án đến sự thật đó được làm
sáng tỏ” [15] .
Tuy nhiên, trên thực tế, vấn đề cơ chế và điều kiện bảo đảm quyền con người
trong hoạt động tư pháp nói chung và hoạt động TTHS nói riêng, cùng với nó là giải
quyết những vướng mắc trong tổng thể vận hành chung của cả hệ thống tư pháp,
giữa các chủ thể THTT và người tham gia tố tụng chưa được quan tâm đúng mức.
Thực tiễn những năm đổi mới vừa qua cho thấy rõ sự lúng túng giữa sự đi trước về
mặt lý luận khoa học pháp lý và nhận thức, với thực trạng cơ chế điều chỉnh bằng
pháp luật, những cản trở đối với sự tham gia của người bào chữa trong các giai đoạn
TTHS chưa thật sự được bảo đảm. Điều này dẫn đến bức xúc trong dư luận xã hội và
người dân, ảnh hưởng đến niềm tin vào tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền
XHCN ở nước ta hiện nay.
Như vậy, có thể khẳng định, việc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo chỉ có
thể được thực thi trên cơ sở làm rõ mối quan hệ giữa các chức năng cơ bản của
TTHS, xác định rõ những đặc trưng cơ bản của mô hình TTHS Việt Nam và địa vị
pháp lý của các chủ thể THTT và chủ thể tham gia tố tụng; trong đó có hai chủ thể
các CQTHTT; sự đối trọng, phản biện của hoạt động bào chữa đối với hoạt động của
các CQTHTT thực hiện chức năng buộc tội, chính là yếu tố hạn chế những sai sót có
khi là sai lầm, hạn chế làm oan người vô tội trong hoạt động của những cơ quan này.
Cơ sở đầu tiên để người bị buộc tội thực hiện quyền của mình là sự chủ động
từ chính họ hoặc gia đình của họ, thể hiện qua việc sử dụng quyền lựa chọn người
bào chữa; hoặc từ phía các CQTHTT thông qua hình thức yêu cầu hoặc đề nghị cơ
quan có thẩm quyền cử người bào chữa cho bị cáo (đối với trường hợp người phạm
tội là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất, tinh thần hoặc
người bị truy tố về tội có khung hình phạt tù 20 năm, tù chung thân, tử hình).
Như vậy, quyền bào chữa là quyền chủ thể của người bị buộc tội cáo. Do đó,
thông thường thì chỉ ý chí của họ mới có tính tuyệt đối và các CQTHTT, người
THTT phải tôn trọng quyền này của họ. Tuy nhiên, đối với các trường hợp được quy
định tại khoản 1 Điều 76 BLTTHS 2015 thì quyền quyết định của các chủ thể này
không còn tính tuyệt đối mà bị phụ thuộc vào sự xem xét quyết định của CQTHTT
trên cơ sở các căn cứ, điều kiện theo quy định của pháp định.
1.1.2.
Quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Thời điểm bắt đầu và kết thúc của quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm VAHS: Theo quy định của BLTTHS thời điểm xuất hiện quyền bào chữa là từ
khi có người bị bắt và kết thúc khi bản án hoặc quyết định của TA có hiệu lực pháp
luật. Và như vậy, thời điểm bắt đầu xuất hiện quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm VAHS là thời điểm mà hồ sơ vụ án cùng bản cáo trạng của VKS được
chuyển sang TA có thẩm quyền. Khi đó, nếu hồ sơ vụ án hoàn chỉnh thì Thẩm phán
được phân công chủ tọa phiên toà sẽ ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Nội dung
quyết định này đã ghi rõ người thực hiện hành vi phạm tội, tội danh, điều khoản áp
dụng đối với người thực hiện hành vi phạm tội, người bào chữa (nếu có). Như vậy,
Mặc dù BLTTHS không đưa ra khái niệm cụ thể về xét xử sơ thẩm VAHS
nhưng theo định nghĩa trên và theo các quy định của BLTTHS, có thể hiểu xét xử sơ
thẩm VAHS là xét xử vụ án đó ở cấp đầu tiên, trong đó việc xét xử phải theo một quy
trình tố tụng nhất định, đây là một quá trình đánh giá, xem xét hành vi có phải là tội
phạm hay không? Nếu có thì tội gì? cần phải áp dụng hình phạt như thế nào đối với
chủ thể thực hiện hành vi phạm tội, sản phẩm cuối cùng của việc xét xử sơ thẩm
VAHS là việc TA ban hành quyết định hay bản án. Đối với cấp xét xử này, bản án và
quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật ngay.
Như vậy, xét xử sơ thẩm VAHS là hoạt động nhà nước do TA thực hiện ở cấp
xét xử thứ nhất nhằm xem xét, đánh giá toàn diện các chứng cứ, các tài liệu của
VAHS, trên cơ sở đó ra bản án, quyết định để xác định hành vi có phạm tội hay
không, ai là người thực hiện hành vi phạm tội, hình phạt được áp dụng đối với người
đã thực hiện hành vi và giải quyết các vấn đề khác có liên quan trong VAHS [13, tr.
8].
Pháp luật TTHS không có khái niệm cụ thể về quyền bào chữa trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm VAHS nhưng trên cơ sở phân tích các khái niệm của các chức
năng cơ bản trong TTHS và xét xử sơ thẩm VAHS, thì có thể hiểu: “Quyền bào chữa
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHS là việc bị cáo tự mình hoặc nhờ người khác
bào chữa bằng cách đưa ra các chứng cứ và lập luận nhằm không chỉ bác bỏ sự
buộc tội, làm giảm nhẹ TNHS cho mình mà còn đưa ra những gì có lợi cho họ trong
quá trình xét xử tại phiên tòa”.
Do vậy, theo chúng tôi chủ thể thực hiện quyền bào chữa trong giai đoạn xét
xử sơ thẩm VAHS là bị cáo, NBC (trường hợp bị cáo là người chưa thành niên,
người có nhược điểm về tâm thần và thể chất thì người đại diện hợp pháp của bị cáo
cũng có quyền bào chữa). Cơ quan có trách nhiệm đảm bảo việc thực hiện quyền bào
chữa trong giai đoạn này chính là TA. Nội dung của quyền bào chữa trong giai đoạn
xét xử sơ thẩm VAHS bao gồm quyền và nghĩa vụ của bị cáo, NBC cho bị cáo sử
dụng và chấp hành trong quá trình xét xử sơ thẩm để chống lại sự buộc tội của VKS,
thông qua các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử thiếu tính chính xác, khách
quan như: bức cung, mớm cung, nhục hình... Do đó, với quyền bào chữa, người bị
buộc tội có thể bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của mình như có thể chứng
minh mình không có tội, hoặc hạn chế thấp nhất khả năng bị buộc tội không đúng
với mức độ nguy hiểm của hành vi do mình thực hiện. Ngoài ra, thông qua quyền
này CQTHTT sẽ cẩn thận hơn trong việc xác định chứng cứ, đi tìm sự thật khách
quan của vụ án để đưa ra phán quyết chính xác nhất. Do vậy, sẽ hạn chế tình trạng
oan sai, hạn chế việc áp dụng điều luật không đúng, loại bớt những sai phạm do tắc
trách, sai lầm áp dụng pháp luật, tùy tiện hoặc do động cơ vụ lợi cá nhân của người
THTT.
THỨ HAI LÀ, Quyền bào chữa là cơ sở quan trọng giúp cho CQTHTT được vận
hành tốt, đúng yêu cầu của pháp luật. Mặc dù pháp luật có quy định chặt chẽ thủ tục
TTHS nhưng trên thực tế vẫn có nhiều sai phạm. Có thể do nguyên nhân khách quan
hay chủ quan mà CQTHTT sẽ không thực hiện đúng với các quy định của pháp luật.
Do đó, thông qua quyền bào chữa, thì CQTHTT sẽ hạn chế được những sai phạm đó,
tránh được sự xâm hại do hành vi tiêu cực của CQTHTT, người THTT, tình trạng
lạm dụng quyền như mớm cung, bức cung sẽ hạn chế hơn. Khi có vụ án xảy ra, họ sẽ
cẩn thận hơn trong việc tìm ra chứng cứ, đi tìm sự thật của vụ án để truy tố, xét xử.
Vì vậy, quá trình giải quyết vụ án sẽ đạt hiệu quả hơn và quá trình tố tụng sẽ được
vận hành tốt hơn.
THỨ BA LÀ, Quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự góp
phần bảo vệ pháp luật, bảo đảm sự thật khách quan của vụ án, bảo đảm việc khởi tố,
điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không ngừng nâng
cao uy tín của CQTHTT, người THTT. Trong quá trình xét xử sơ thẩm VAHS, thông
qua quá trình thẩm vấn, tranh luận, đối đáp của bên gỡ tội và bên buộc tội sẽ là cơ sở
để Tòa án ra quyết định đúng đắn, xét xử đúng người, đúng tội. Do vậy, nếu không
có sự bào chữa thì sẽ dẫn đến tình trạng không công bằng, duy ý chí, độc đoán ... của
CQTHTT, người THTT và tình trạng oan sai sẽ nhiều. Như vậy, quyền bào chữa vận
hành tạo đối trọng với hoạt động buộc tội trên cơ sở hai bên cùng đưa ra chứng cứ,
CHỮA CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO, QUYỀN BẢO VỆ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA ĐƯƠNG SỰ ĐƯỢC BẢO ĐẢM
[16, Đ. 31] là nhấn mạnh đến việc thực hiện các quyền được pháp luật dành cho
những người này và đặt trách nhiệm lên các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và
những người có chức vụ, trách nhiệm trong hoạt động TTHS phải bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội mà pháp luật đã ghi nhận cho họ.
Bảo đảm pháp lý quyền bào chữa của bị cáo phải được thể hiện trước hết ở
việc Nhà nước tôn trọng, tạo điều kiện để người bị buộc tội thực hiện quyền bào
chữa của mình. Bên cạnh đó, các CQTHTT trong khi trong hoạt động TTHS phải có
nhiệm vụ đảm bảo cho bị cáo thực hiện quyền của mình trên thực tế đúng quy định
của pháp luật TTHS. Mọi sự vi phạm các quy định về bảo đảm quyền bào chữa của
bị can, bị cáo là một trong những vi phạm nghiêm trọng thủ tục TTHS trong quá
trình giải quyết VAHS.
Và như thế, có thể khẳng định rằng, quyền bào chữa của bị cáo gắn liền với
nhiệm vụ của các CQTHTT, người THTT. Trách nhiệm của các cơ quan này trong
việc bảo đảm thực hiện các quyền của người bị buộc tội được cụ thể hoá trong các
điều luật của BLTTHS và các văn bản khác có liên quan. Và, chỉ khi nào các quy
định về quyền bào chữa của người bị buộc tội được thực hiện nghiêm chỉnh trong
thực tế thì quyền của bị cáo mới được tôn trọng và bảo đảm.
1.3. Những Nguyên tắc cơ bản trong việc thực hiện quyền bào chữa trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
1.3.1. Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo Trong hoạt động TTHS thì
pháp luật quy định các chủ thể thực hiện các chức năng của TTHS luôn đề cao việc
thượng tôn pháp luật, thể hiện sự dân chủ, nhằm đảm bảo và tăng cường pháp chế
XHCN, bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân luôn được
coi là nhiệm vụ trung tâm, cấp bách của toàn xã hội. Đảm bảo quyền con người là
một trong những tiêu chí phấn đấu của các nước dân chủ và tiên tiến trên thế giới,
bị một phán quyết của TA, phán quyết này sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi trực tiếp của
bị cáo. Do vậy, bị cáo và NBC sẽ làm hết khả năng như đưa ra tất cả các chứng cứ,
tài liệu, đồ vật có liên quan để chứng minh sự vô tội của bị cáo hoặc đưa ra các tình
tiết giảm nhẹ TNHS để hạn chế thấp nhất việc bị cáo bị buộc tội.
Như vậy, việc thực hiện nguyên tắc này, đã góp phần không nhỏ vào việc bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, trong đó kể cả quyền sống. Đảm bảo quyền
bào chữa của bị cáo còn giúp CQTHTT, người THTT có cái nhìn toàn diện, khách
quan để có thể giải quyết vụ án hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Mặc
dù nguyên tắc này được quy định khá chặt chẽ và đầy đủ trong Hiến pháp và pháp
luật TTHS. Nhưng khi vận dụng vào quá trình giải quyết VAHS, nó còn bộc lộ nhiều
hạn chế, thiếu sót. Về mặt lý luận: khái niệm, chủ thể, nội dung vẫn chưa được làm
rõ. Bên cạnh đó, một số CQTHTT không tuân thủ quy định của pháp luật, quyền bào
chữa của bị cáo chưa được triệt để tôn trọng và chưa được CQTHTT, người THTT
tạo điều kiện để bị cáo thực hiện quyền này, họ còn quan niệm rằng việc tự bào chữa
của bị cáo và nhờ người bào chữa chỉ mang tính chất hình thức. TA không quan tâm
đến lời bào chữa của luật sư, thậm chí không tạo điều kiện cho luật sư thực hiện
nhiệm vụ của họ, dẫn đến xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo.
1.3.2.
Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo
Đây là nguyên tắc hiến định, được quy định tại Điều 103 của Hiến pháp
2013: “NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG XÉT XỬ ĐƯỢC BẢO ĐẢM”; đồng thời, cũng được
ghi nhận trong BLTTHS. Lần đầu tiên, nguyên tắc tranh tụng được đưa vào BLTTHS
như là sự thừa nhận rằng, TTHS Việt Nam hướng đến một nền tố tụng công bằng
giữa bên buộc tội với bên bị buộc tội. Nguyên tắc này ghi nhận về quyền bình đẳng
trước TA không những thể hiện quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật, trước